Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh sóc trăng luận văn ths kinh tế 5 02 01 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TRỊNH THỊ NHÀN

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
Ở TỈNH SÓC TRĂNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Người hướng dẫn: TS. Ngô Văn Lương

Hà nội - 2005


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 3
Chƣơng 1 KINH TẾ TƢ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH
PHẦN Ở NƢỚC TA HIỆN NAY................................................................... 8
1.1. Sự tồn tại khách quan của kinh tế tƣ nhân trong cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần ................................................................................................... 8
1.1.1. Khái niệm kinh tế tư nhân ............................................................... 8
1.1.2. Sự cần thiết khách quan của việc phát triển kinh tế tư nhân trong
nền kinh tế nước ta ................................................................................. 11
1.1.3. Quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế tư nhân ................... 18
1.1.4. Các loại hình kinh tế tư nhân........................................................ 21
1.2. Vai trò của kinh tế tƣ nhân đối với sự phát triển kinh tế - Xã hội trên địa
bàn tỉnh Sóc Trăng .................................................................................... 24
1.3. Kinh nghiệm thực tiễn phát triển khu vực kinh tế tƣ nhân trong nền
kinh tế thị trƣờng ....................................................................................... 29
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển khu vực kinh tế tư nhân trên thế giới ....... 29

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN là một chủ
trương có tính quy luật, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta. Trong nền kinh tế
nhiều thành phần đó, kinh tế tư nhân (KTTN) là một bộ phận quan trọng cấu
thành mô hình ấy và có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển nền kinh tế xã hội
ở nước ta hiện nay.
Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng khẳng định quá trình
từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nước ta là quá trình chuyển hoá nền kinh tế
còn nhiều tính chất tự cấp, tự túc thành nền kinh tế hàng hoá.
Do đó, chúng ta phải thay đổi cơ cấu kinh tế cũ, phát triển nền kinh tế
hàng hoá có cơ cấu nhiều thành phần, sử dụng đầy đủ các nguồn lực bên trong
kết hợp với các nguồn lực bên ngoài tạo nên sức mạnh tổng hợp, để nền kinh
tế nước ta phát triển nhanh và bền vững.
Kể từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đến nay, khu vực KTTN
đã được phục hồi và phát triển nhanh chóng cả về số lượng lẫn chất lượng,
góp phần khai thác tiềm năng và đưa nền sản xuất phát triển, bộ mặt kinh tế
đất nước có nhiều biến đổi. KTTN không chỉ tạo ra khối lượng hàng hoá phục
vụ nhu cầu trong nước mà còn tạo ra những mặt hàng xuất khẩu trong điều
kiện nền kinh tế mở, giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động.
KTTN còn góp phần nâng cao thu nhập của dân cư, làm tăng nguồn thu ngân
sách cho nhà nước và huy động khá lớn nguồn vốn của hàng triệu hộ gia đình
để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Kinh tế tư nhân có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế của
quốc gia. Tuy nhiên, thành phần kinh tế này ở Sóc Trăng vẫn chưa được quan




Các công trình trên, tập trung nghiên cứu những vấn đề chung của cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần hoặc đi vào nghiên cứu một vài lĩnh vực. Riêng
ở Tỉnh Sóc Trăng chưa có công trình nào trình bày hệ thống nội dung này. Kế
thừa những thành tựu đã được nghiên cứu của các tác giả trên, luận văn sẽ đi
sâu tìm hiểu những căn cứ lý luận và thực tiễn, khảo sát làm rõ thực trạng tình
hình KTTN ở Sóc Trăng. Từ đó, nêu ra các giải pháp nhằm thúc đẩy KTTN ở
Sóc Trăng phát triển.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích
Thông qua việc tìm hiểu căn cứ lý luận và thực tiễn về phát triển
KTTN, luận văn sẽ phân tích, đánh giá thực trạng phát triển KTTN ở Sóc
Trăng từ năm 1992 đến nay. Từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp
phát triển khu vực kinh tế này ở Sóc Trăng từ nay đến năm 2010.
* Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận, kinh nghiệm thực tiễn phát triển KTTN của một
số nước trên thế giới và ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng phát triển KTTN của Tỉnh Sóc Trăng từ năm
1992 đến nay.
- Đề xuất một số phương hướng và các giải pháp, nhằm phát huy vai trò
to lớn của KTTN ở tỉnh Sóc Trăng từ nay đến năm 2010.
4. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu sự phát triển của KTTN ở tỉnh Sóc Trăng từ khi tái lập tỉnh
(năm 1992) đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu

3



KINH TẾ TƢ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN
Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
1.1. Sự tồn tại khách quan của kinh tế tƣ nhân trong cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần
1.1.1. Khái niệm kinh tế tư nhân
Kinh tế tư nhân là loại hình kinh tế tồn tại ở nước ta từ lâu. Nó gắn liền
với sự tồn tại của lực lượng sản xuất khi còn là thủ công, lạc hậu, phân tán.
Trải qua quá trình phát triển lâu dài, KTTN có những bước thăng trầm của
nó. Bước thăng trầm đó không phải do bản chất của KTTN mà do nhận thức
của con người về KTTN.
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) đến nay,
KTTN được sử dụng phổ biến ở nước ta. Trên thực tế, loại hình này hoạt
động khá mạnh mẽ. Nhưng đến nay, việc xác định nội hàm của KTTN chưa
được toàn diện và đầy đủ. Hiện nay, còn nhiều quan niệm khác nhau về vấn
đề này, sau đây là một vài quan niệm:
Quan niệm thứ nhất cho rằng: KTTN là hình thức kinh tế mà toàn bộ
hay đại bộ phận tư liệu sản xuất thuộc sở hữu tư nhân và có thuê mướn lao
động, chủ sở hữu tư liệu sản xuất chiếm đoạt giá trị thặng dư do cô ng nhân
lao động tạo ra [46]. Về hình thức tổ chức kinh doanh, KTTN bao gồm doanh
nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần (do công nhân
nắm tỷ lệ cổ phiếu khống chế). Quan niệm KTTN như vậy không bao gồm
các cơ sở kinh tế cá thể và đồng nhất KTTN với tư bản tư nhân.
Quan niệm thứ hai cho rằng: “KTTN bao gồm các đơn vị kinh tế mà
phần lớn vốn do một hoặc một số tư nhân góp lại, huy động cổ phần (do một
hoặc một nhóm tư nhân nắm cổ phần chi phối), thuê lao động sản xuất kinh
doanh” [46]. Quan niệm này không phân biệt kinh tế cá thể, tiểu chủ với kinh
tế tư bản tư nhân.

6



7


doanh mà người sở hữu đồng thời là người trực tiếp lao động, không thuê
mướn nhân công, thì phân phối kết quả sản xuất là tự phân phối theo nội bộ
chủ thể kinh tế đó. Còn đối với các cơ sở kinh doanh lớn, chủ sở hữu tư liệu
sản xuất (hay vốn) sử dụng lao động làm thuê thì phân phối kết quả sản xuất
căn cứ vào sở hữu giá trị, tức là giá trị sức lao động của lao động làm thuê và
sở hữu tư bản. Tất nhiên, trong các chế độ chính trị - xã hội khác nhau thì
quan hệ phân phối cũng có sự khác biệt nhất định [28, tr.7 - 8].
Những vấn đề vừa nêu là những quan niệm khác nhau về KTTN. Mặc
dù việc nhìn nhận KTTN còn nhiều điểm chưa đồng nhất, nhưng nhìn chung
tất cả đều thừa nhận KTTN dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, với
động lực chủ yếu là lợi ích cá nhân và mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Cho
nên, trong bản thân nó đã hàm chứa những ưu thế và khuyết tật nhất định.
Vấn đề đặt ra là cần phải hiểu rõ mặt tích cực và mặt tiêu cực của nó để có
biện pháp, chính sách và tạo môi trường phù hợp nhằm phát huy những ưu thế
và khắc phục những khuyết tật, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
* Ưu thế của KTTN:
Mục tiêu hoạt động thường rõ ràng, đơn giản, gắn với đáp ứng nhu cầu
sản xuất, nhu cầu tiêu dùng, khác với doanh nghiệp nhà nước thường chịu sự
chi phối của một hệ thống mục tiêu không rõ ràng, có khi các mục tiêu mâu
thuẫn với nhau.
Nguồn gốc vốn đầu tư sản xuất kinh doanh từ tiền túi của họ nên phải
tính đến hiệu quả trong kinh doanh và khả năng bảo toàn vốn.
Quy mô, hình thức và loại hình sản xuất kinh doanh rất đa dạng, đáp
ứng nhu cầu thị trường. Có thể nói thị trường cần gì, thì KTTN có thể đáp ứng
kịp thời, cả về thời gian và chất lượng.
Tổ chức bộ máy quản lý cũng như bộ máy sản xuất kinh doanh gọn nhẹ,

Suốt thời gian dài, KTTN tồn tại trong tình trạng chịu những phân biệt
đối xử theo hướng triệt tiêu. Đến đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với quan
điểm đổi mới, Đảng đã thừa nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở
nước ta. Từ đây, đưa nền kinh tế bước vào giai đoạn mới, giai đoạn thừa nhận
khu vực KTTN là khu vực kinh tế hợp pháp. Như vậy, KTTN được chính
thức tham gia vào sự nghiệp phát triển KT - XH của đất nước.

9


Từ khi được thừa nhận đến nay, khu vực KTTN có mặt ở khắp các
vùng, địa phương và phát triển với tốc độ nhanh chóng, góp phần khẳng định
đường lối phát triển kinh tế nước ta theo kinh tế thị trường định hướng XHCN
là đúng đắn, không chỉ thế mà KTTN còn góp phần chứng minh sức sống của
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
Sự tồn tại, vận động và phát triển của KTTN ở nước ta vừa qua đã xác
định tính tất yếu tồn tại của khu vực này. Tính tất yếu tồn tại đó dựa trên
những cơ sở sau:
- Do yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH là phải phát
triển lực lượng sản xuất. Do vậy, khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động
giành được chính quyền và bước vào xây dựng xã hội mới thì một đòi hỏi cấp
bách và khách quan là từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chế độ
mới, chế độ sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất, với hai hình thức sở hữu nhà
nước XHCN và sở hữu tập thể, tương ứng có các thành phần kinh tế: Kinh tế
quốc doanh và kinh tế tập thể. Để thực hiện điều đó không chỉ có thành phần
kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể mà phải huy động tiềm lực trong xã hội.
Do vậy, cần phải có sự tham gia của thành phần KTTN.
- Xã hội cũ để lại một số thành phần kinh tế chưa thể cải tạo ngay được,
do qui luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất qui định.

với nhau [31, tr.248], như vậy nếu không kể về số lượng từng thành phần kinh
tế thì trong kết cấu kinh tế đó tồn tại hai mảnh kinh tế:
Một là: Của CNXH vừa mới xây dựng (Dựa trên sở hữu toàn dân về tư
liệu sản xuất).
Hai là: Của phương thức cũ còn tồn tại (Dựa trên sở hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất).
Các Ông thừa nhận còn sở hữu tư nhân trong nền kinh tế, điều đó tất
yếu thừa nhận thành phần KTTN trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
Về lâu dài, để xây dựng CNXH, nhiệm vụ của mỗi chúng ta là từng
bước xoá bỏ thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, vì
đây là nguyên nhân là tiền đề hình thành mối quan hệ người bóc lột người, là
nguyên nhân dẫn đến sự bất công, kẻ giàu người nghèo trong xã hội.

11


Nhưng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xoá bỏ thành phần kinh tế
dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chúng ta phải thấy rằng: Bất kỳ
thành phần kinh tế nào cũng dựa trên một chế độ sở hữu nhất định, sở hữu tư
liệu sản xuất và thành phần kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau, sở
hữu tư liệu sản xuất vừa là kết quả, vừa là điều kiện cho sự phát triển lực
lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất có tác động
thúc đẩy hoặc kìm hãm lực lượng sản xuất. Mỗi loại hình sở hữu chưa thể mất
đi khi chúng còn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất, chúng ta cũng không thể tuỳ tiện dựng lên một quan hệ sản xuất mới
khi lực lượng sản xuất không yêu cầu.
Đặc trưng của CNCS là xoá bỏ chế độ sở hữu tư bản, chứ không xoá bỏ
chế độ sở hữu nói chung, xoá bỏ “tính chất bi thảm của cái phương thức
chiếm hữu nó khiến cho người công nhân chỉ sống để làm tăng thêm tư bản,
và chỉ sống trong chừng mực mà lợi ích của giai cấp thống trị đòi hỏi”,

kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội
không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” [42, tr.13].
Trên nguyên lý chung về các thành phần kinh tế, Người cho rằng trong
thời kỳ quá độ lên CNXH, nước ta có các hình thức sở hữu chính về tư liệu
sản xuất như:
+ Sở hữu nhà nước (của toàn dân) nếu nhà nước là người sở hữu ruộng
đất thì ruộng đất không có sở hữu tư nhân, nhưng tư nhân có quyền chiếm
hữu thực tế về ruộng đất đó (quyền sử dụng).
+ Sở hữu tập thể.
+ Sở hữu của những người lao động riêng lẻ.
+ Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu nhà tư sản [41, tr.588].
Như vậy, ngoài sở hữu nhà nước ra, Hồ Chí Minh còn đề cập đến các
loại hình sở hữu khác. Đây thực chất là hình thức sử dụng sức mạnh tổng hợp
trong kinh tế của Người.
Khi đề cập đến các thành phần kinh tế, Người cho rằng trong thời kỳ
quá độ lên CNXH ở nước ta có năm thành phần kinh tế:
Kinh tế quốc doanh (thuộc CNXH nó là của chung của nhân dân).
Kinh tế HTX (nó là 1/2 CNXH và sẽ tiến tới CNXH).

13


Kinh tế cá nhân của nông dân (có thể tiến dần lên CNXH).
Kinh tế tư nhân.
Kinh tế tư bản nhà nước.
Trong các loại ấy, kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo và phát
triển mau hơn cả. Vì vậy kinh tế của ta phát triển theo hướng XHCN chứ
không theo TBCN [39, tr. 247-248].
Vấn đề cải tạo XHCN đối với quan hệ sản xuất đã được Hồ Chí Minh
vận dụng sát với điều kiện nước ta từ sản xuất nhỏ đi lên. Người quán triệt

Kinh tế tư nhân phát huy ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềm năng
trong nhân dân, nhất là sau khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000. Sau gần năm
năm, cả nước có gần 108.300 doanh nghiệp mới đăng ký, đưa tổng số doanh
nghiệp đăng ký lên 150.000, tăng gấp hai lần so với 9 năm trước đây (1991 1999); tổng số vốn đăng ký đạt 302.250 tỷ đồng (tương đương 18 tỷ USD),
cao hơn số vốn đầu tư nước ngoài đăng ký trong cùng thời kỳ.
Đóng góp lớn nhất và quan trọng nhất của KTTN là tạo việc làm và
góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội. Năm 2004, số lao động làm
việc trực tiếp trong các doanh nghiệp tư nhân đã gần bằng tổng số lao động
trong các doanh nghiệp nhà nước, giải quyết khoảng 1,6 đến 2 triệu việc làm.
Riêng số doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm 96% tổng số doanh nghiệp ngoài nhà
nước) đã thu hút 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn, khoảng 25 - 26%
lực lượng lao động cả nước. Các doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể phi nông
nghiệp đã sử dụng 16% lực lượng lao động xã hội (khoảng 6 triệu người). Năm
2005, khu vực KTTN đóng góp 37,7% GDP cả nước [2, tr.70 -71].
Ngoài ra nước ta còn huy động khá lớn nguồn FDI và ODA từ nước
ngoài, năm 2004 vốn FDI đạt 4,2 tỷ USD tăng 35% so với năm 2003, cam kết
ODA đạt 3,4 tỷ USD, lượng kiều hối đổ về gần 4 tỷ USD. Tính đến hết tháng
2/2005 cả nước có 5.100 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký trên
46,8 tỷ USD, đã thực hiện được khoảng 26,26 tỷ USD.
Đối với nguồn vốn ODA: từ năm 1993 đến năm 2004, tổng số vốn các
nước và tổ chức tài chính quốc tế cam kết dành cho nước ta lên gần 29 tỷ
USD, trong số này có khoảng 20 tỷ USD được hợp thức hoá, chính thức hoá
bằng các hiệp định quốc tế, đã giải ngân 14 tỷ USD. Số đã giải ngân góp phần
vào việc xây dựng kết cấu hạ tầng - kỹ thuật và xã hội

15


Đối với nguồn ngoại tệ của kiều bào: năm 1991 lượng kiều hối đạt 31
triệu USD, năm 1995 đạt 284,96 triệu USD, năm 1999 đạt 1.200 triệu USD,


vực kinh tế. Nghị quyết Trung ương 6 khoá IV đã đưa ra những quyết định
quan trọng tạo sự chuyển hướng chiến lược, thực sự mở màn thực hiện cuộc
cách mạng trong quan hệ sản xuất. Nghị quyết thừa nhận miền Bắc còn 3
thành phần kinh tế, miền Nam có 5 thành phần kinh tế, trong đó có các thành
phần kinh tế thuộc sở hữu tư nhân, nhưng chỉ cho thành phần kinh tế tư bản
thuê từ 5 đến 10 công nhân. Mặc dù còn những giới hạn, nhưng từ đây đã
đánh dấu bước ngoặt chuyển sang cơ chế mới. Cuộc cách mạng quan hệ sản
xuất này đã ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển của nền kinh tế quốc
dân, tiếp sau đó hàng loạt những thay đổi diễn ra:
+ Trong lĩnh vực nông nghiệp, có chỉ thị 100 của Ban Bí thư về khoán
sản phẩm trong nông nghiệp.
+ Trong lĩnh vực công nghiệp có Nghị quyết 25 của Chính phủ cho phép xí
nghiệp làm kế hoạch 3 phần. Nghị quyết 306 về bảo đảm quyền tự chủ sản xuất
kinh doanh.
Kể từ sau Nghị quyết Trung ương 6 khoá IV, nước ta tồn tại hai cơ chế
song trùng. Một mặt cơ chế tập trung bao cấp vẫn còn tồn tại. Mặt khác, quan
hệ hàng hoá tiền tệ hoạt động đã tác động đến lợi ích cá nhân, lợi ích của
người lao động. Trong thời khắc giao thoa này không tránh khỏi sự hoà
quyện, đan xen giữa cái cũ và cái mới, cái tiên tiến và cái lạc hậu. Con đường
mới vừa hé mở có nhiều tác động tích cực trên mọi lĩnh vực. Tuy nhiên cũng
không ít quan niệm còn hoài nghi, lo lắng về con đường đi lên CNXH. Bản
chất của CNXH là không còn người bóc lột người, xây dựng chế độ công hữu
về tư liệu sản xuất. Nhưng với cơ chế mới chấp nhận KTTN, có nghĩa chấp
nhận bóc lột. Như vậy nước ta có tiến lên CNXH được không?
Tất cả những vấn đề đặt ra đòi hỏi chúng ta nhìn nhận, đánh giá vấn đề
một cách toàn diện hơn, phải đặt sự vật, hiện tượng trong từng mối quan hệ để
xét bản chất của nó, không nên lấy hiện tượng ở mối quan hệ này suy ra bản
chất của hiện tượng trong mối quan hệ khác, hay nói khác quan hệ hàng hoá


tâm làm ăn lâu dài, hợp pháp, có lợi cho quốc kế dân sinh, đối xử bình đẳng
với mọi thành phần kinh tế trước pháp luật không phân biệt sở hữu và hình

18


thức tổ chức kinh doanh”, Đại hội còn đề cập "phát triển rộng rãi các hình
thức kinh tế tư bản nhà nước” “giúp đỡ kinh tế cá thể tiểu chủ và giải quyết
các khó khăn về vốn, về khoa học công nghệ, về thị trường tiêu thụ” “Khuyến
khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài, bảo hộ quyền
sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản
lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh” [18, tr.2526].
Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX: có sự điều chỉnh so với Đại
hội VIII, Đại hội xác định nước ta hiện có 6 thành phần kinh tế và xem các
thành phần kinh tế “đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN”, xem kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư
nhân có vị trí quan trọng lâu dài, Nhà nước tạo mọi điều kiện cho các thành
phần kinh tế này phát triển. Đặc biệt Đại hội IX còn quan tâm tạo điều kiện
cho “kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà
nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài” [19, tr.98-99].
Có thể nói quá trình đổi mới cũng là quá trình nhận thức đầy đủ hơn về
KTTN trong nền kinh tế nhiều thành phần, là quá trình Đảng và Nhà nước
ngày càng hoàn thiện hơn tư duy về KTTN. Những quan điểm không chỉ thể
hiện trong đường lối, chủ trương chung mà còn được thể chế thành các luật
như: Luật doanh nghiệp tư nhân, luật công ty (1990), luật doanh nghiệp
(2000) và một số các luật khác nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của
các chủ thể tham gia kinh tế như: Luật chống độc quyền, luật cạnh tranh, luật
sở hữu trí tuệ v.v... Ngoài ra còn ban hành một số văn bản dưới luật như NĐ
66/HĐBT (1992) điều chỉnh đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ
không phải đăng ký kinh doanh dưới dạng doanh nghiệp.

một doanh nghiệp tư nhân thì còn có những đặc điểm riêng.
- Loại hình công ty tư nhân bao gồm:
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn gồm có: công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Công ty
trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp trong đó các thành viên là tư nhân cùng
góp vốn vào thành lập công ty để thực hiện việc kinh doanh, cùng chia lợi
nhuận, cùng chịu lỗ theo tỉ lệ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách

20


nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình
vào công ty.
+ Công ty cổ phần: là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành các
phần bằng nhau, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các
nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn của mình góp
vào công ty.
+ Công ty hợp danh là loại doanh nghiệp có hai loại thành viên: thành
viên hợp danh và thành viên góp vốn. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách
nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty,
thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về
các nghĩa vụ của công ty.
- Loại hình công ty hợp doanh giữa Nhà nước và tư nhân. Đối với hình
thức này, luật doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội ban hành năm 1995 và
sửa đổi năm 2003 đã quy định rõ: Xí nghiệp hợp doanh chỉ được xếp vào khu
vực KTNN khi Nhà nước nắm tỷ trọng vốn góp lớn nhất và do đó giữ quyền
tổ chức chỉ đạo hoạt động kinh doanh của các công ty xí nghiệp đó. Nếu
không thì được xếp vào khu vực KTTN.
- Đối với loại hình công ty, xí nghiệp liên doanh với nước ngoài cũng là
một loại hình doanh nghiệp được hình thành bởi sự góp vốn của một bên là

1.2. Vai trò của kinh tế tƣ nhân đối với sự phát triển kinh tế - Xã
hội trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
Khi cả nước thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, tỉnh Sóc
Trăng cũng nằm trong quỹ đạo chuyển đổi ấy. Ngay từ những ngày đầu của
sự chuyển đổi, khu KTTN còn non trẻ, nhưng phát triển rộng khắp trên tất cả
các lĩnh vực: nông - công - thương mại, dịch vụ. Sau một thời gian phát triển
KTTN đã khẳng định được vai trò to lớn của mình trong nền kinh tế thể hiện
trên nhiều mặt:
Thứ nhất: khai thác và tận dụng có hiệu quả tiềm năng về vốn, các
nguồn nguyên liệu vật tư có sẵn tại địa phương, kể cả các loại phế liệu trong
sản xuất cũng như máy móc thiết bị. KTTN bao gồm các cơ sở sản xuất, kinh
doanh được hình thành và phát triển dựa trên vốn của các cá nhân. Các nhà
kinh doanh tự bỏ vốn đầu tư, tự mình xây dựng doanh nghiệp, tự chịu trách
nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình. Do vậy chủ các cơ sở sản
xuất kinh doanh tư nhân luôn có ý thức tích lũy và mở rộng sản xuất, làm cho
khu vực tư nhân càng phát triển, thu hút được các nguồn vốn trong xã hội và
sử dụng có hiệu quả nguyên liệu sẵn có, tận dụng được nguyên vật liệu phụ.
Kinh tế tư nhân với sự phát triển của hình thức kinh doanh một chủ
trong điều kiện cạnh tranh, có vai trò là cơ sở để hình thành các hình thức
kinh doanh chung như phát triển các hợp tác xã, hình thành các công ty trách
nhiệm hữu hạn... Đó là con đường hợp quy luật để phát triển các hình thức sở
hữu tập thể, sở hữu nhà nước. Khi các cơ sở sản xuất có được nguồn vốn là
điều kiện tốt nhất cho khai thác tiềm năng. Kinh nghiệm các nước cho thấy,
để phát triển kinh tế đất nước, nếu chỉ trông chờ vào nguồn đầu tư của Nhà

22


Trích đoạn Nhóm giải pháp vi mô Các giải pháp khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status