Phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh vĩnh phúc luận văn ths kinh tế 60 31 01 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
-------------------------

TRẦN MINH NGỌC

PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
Ở TỈNH VĨNH PHÖC

Chuyên ngành

: Kinh tế chính trị

Mã số

: 60 31 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. MAI THỊ THANH XUÂN

HÀ NỘI – 2010


MỤC LỤC
Trang
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
MỞ ĐẦU
Chƣơng 1


2.1. Tiềm năng phát triển khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc

35

2.2. Thực trạng phát triển các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc
1998 – 2010

41

2.3. Những đóng góp chủ yếu của các khu công nghiệp vào sự phát
triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc.

59

2.4 Một số hạn chế và nguyên nhân trong quá trình phát triển khu
công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc

67

Chƣơng 3

Định hƣớng và giải pháp phát triển các khu công nghiệp
tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020.

73

3.1. Quan điểm, mục tiêu phát triển các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh
Phúc.

73

hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước; hình thành các
vùng công nghiệp trọng điểm; gắn việc phát triển sản xuất với bảo đảm nhà ở và
các điều kiện sinh hoạt cho người lao động. Chuyển các cơ sở công nghiệp
trong nội thành, nội thị, gần khu đông dân cư không bảo đảm tiêu chuẩn môi
trường vào các KCN tập trung hoặc các vùng ít dân cư” [24].
Thực hiện đƣờng lối đó, đến nay cả nƣớc đã có 250 KCN, KCX, KTT
đƣợc thành lập ở 57 tỉnh, thành phố trong cả nƣớc, trong đó 170 khu đã đi vào
hoạt động. Tính chung các KCN, KCX, KTT đã thu hút đƣợc 8.500 dự án đầu tƣ
trong và ngoài nƣớc, với tổng vốn đăng hơn 70 tỷ USD, trong đó vốn đầu tƣ trực
tiếp nƣớc ngoài là 52 tỷ USD (chiếm 71,4%), đóng góp trên 30% giá trị sản xuất
công nghiệp cả nƣớc, và tạo việc làm cho hơn 1,5 triệu ngƣời [50]. Các KCN,
KCX đã và đang trở thành điểm thu hút các nguồn đầu tƣ trong và ngoài nƣớc,
đón nhận các tiến bộ khoa học – công nghệ và tạo ra những nhân tố quan trọng
góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế - xã hội
của đất nƣớc.
Vĩnh Phúc là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, cách
thủ đô Hà Nội hơn 50 km. Vĩnh Phúc cũng là tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi thế để
3


hình thành và phát triển các KCN nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói
chung. Vì vậy, ngay khi có chủ trƣơng xây dựng các KCN của Đảng và Nhà
nƣớc, từ năm 1998, Vĩnh Phúc đã thành lập KCN đầu tiên và đến nay trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã thành lập và cấp giấy chứng nhận đầu tƣ cho 07 KCN,
trong đó có 5 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích là 1.462 ha, thu hút
đƣợc 513 dự án đầu tƣ trong và ngoài nƣớc, với tổng vốn 2.105 triệu USD; 02
KCN mới đang ở thời kỳ xây dựng cơ bản và 13 KCN đƣợc thủ tƣớng Chính
phủ chấp thuận chủ trƣơng đầu tƣ đến năm 2020 [10]. Thành công đó đã góp
phần đƣa Vĩnh Phúc trở thành một tỉnh có năng lực cạnh tranh cao thứ 3, của cả
nƣớc sau Đà Nẵng và Bình Dƣơng. Tuy nhiên, sự phát triển KCN tỉnh Vĩnh

chế của các khu công nghiệp, khu chế xuất tại các tỉnh này và đề xuất giải pháp
khắc phục
“Nghiên cứu mô hình quản lý nhà nước về khu công nghiệp, khu chế xuất
ở Việt Nam”, đề tài cấp Bộ năm 2002. Nội dung đề tài giới thiệu kinh nghiệm
quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất của nƣớc ngoài, đánh giá những mặt
tốt và những hạn chế của mô hình quản lý đang áp dụng tại Việt Nam, trên cơ
sở đó đề xuất ra một số mô hình quản lý mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
các khu công nghiệp, khu chế xuất trong thời gian tới.
“Một số vấn đề kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới” của Nguyễn
Văn Thƣờng, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2004. Tác giả đƣa ra một cái
nhìn tổng quan về vấn đề phát triển nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Trong đó có những phân tích sâu sắc về vấn đề phát triển khu công nghiệp, khu
chế xuất, khu kinh tế với vai trò đầu tàu trong chuyển dịch cơ cấu và phát triển
vùng kinh tế trọng điểm.
“Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý nhà nước, bảo
vệ môi trường ở các khu công nghiệp, khu chế xuất” của Trƣơng Thị Minh Sâm,
nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2004. Trong tác phẩm này, tác giả đã đánh
giá khá chi tiết và toàn diện tình trạng ô nhiễm môi trƣờng ở các khu công
nghiệp, khu chế xuất vùng kinh tế trọng điểm phía nam, những thách thức đặt ra
đối với công tác quản lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng, đề xuất một hệ thống
các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nƣớc đối với vấn đề này ở các
KCN, KCX trên địa bàn này.
Riêng trong năm 2004, cả nƣớc có tới 6 cuộc hội thảo khoa học bàn về
5


phát triển KCN, KCX, trong đó Hội thảo với chủ đề “Phát triển KCN, KCX ở
các tỉnh phía Bắc - những vấn đề lý luận và thực tiễn” do Bộ kế hoạch và Đầu
tƣ phối hợp với Tạp chí Cộng sản và Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá tổ chức
tại Thanh Hoá, với hơn 40 bài tham luận đƣợc gửi đến. Các bài viết đã tập trung

“Phát triển KCN tỉnh Bắc Ninh theo hướng bền vững”, Luận văn thạc sỹ
Kinh tế của Đinh Hoàng Dũng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm
2008 đã tập trung nghiên cứu việc phát triển các KCN ở tỉnh Bắc Ninh theo
hƣớng bền vững. Luận văn đã đề xuất những giải pháp nhằm đẩy nhanh tốc độ
tăng trƣởng giải quyết việc làm, các vấn đề xã hội, môi trƣờng…Tuy nhiên,
công trình này mới chỉ đề cập đến mối quan hệ phát triển các KCN và phát triển
bền vững của địa phƣơng, chƣa đề cập sâu sắc đến sự phát triển nội tại KCN.
“Đảm bảo đời sống của người lao động trong các KCN ở Đồng Nai”,
Luận văn thạc sỹ Kinh tế của Nguyễn Thị Ngọc Hiệp, Đại học Quốc Gia Hà
Nội. Luận văn đã khảo sát, phân tích một cách toàn diện về thực trạng đời sống
công nhân KCN Đồng Nai. Qua đó, đề xuất những phƣơng hƣớng và giải pháp
chủ yếu nhằm đảm bảo đời sống ngƣời lao động KCN Đồng Nai hiện nay
Ngoài ra có nhiều bài nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành về vấn đề
này, nhƣ:
“ Phát triển KCN, KCX đến năm 2020 - triển vọng và thách thức” của tác
giả Võ Thanh Thu đăng trên Tạp chí Cộng Sản, số 9, năm 2006. Bài viết đã đƣa ra
8 nhóm thành tựu cơ bản và chỉ ra những bất cập trong vấn đề phát triển KCN Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay, từ đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát
triển hơn nữa các KCN đến năm 2020
“Thành tựu và định hướng phát triển các KCN Vĩnh Phúc đến năm 2010”
của tác giả Nguyễn Công Lộc đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự Báo, số 2, năm
2005. Tác giả đã phân tích khái quát những thành tựu về thu hút đầu tƣ và quy
hoạch các KCN trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, tác giả cũng đƣa ra những định hƣớng
cụ thể cho việc phát triển các KCN đến năm 2010.
“Tác động của các KCN đối với tăng trưởng kinh tế ở Đồng Nai và những
bài học kinh nghiệm” của tác giả Nhƣ Hùng đăng trên Tạp chí Cộng Sản, số 15,
năm 2008 đã phân tích một cách hệ thống những tác động của KCN đối với sự phát
triển kinh tế của tỉnh và rút ra 7 bài học kinh nghiệm sau 15 năm phát triển KCN của
tỉnh Đồng Nai
7

- Đối tượng nghiên cứu: là sự phát triển các KCN, bao gồm KCN, KCX
và cụm công nghiệp tên các khía cạnh số dự án, vốn đầu tƣ, tỷ lệ lấp đầy và tác
động của chúng đến việc làm, đời sống, môi trƣờng của tỉnh Vĩnh Phúc
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu là địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc. Tuy nhiên, luận văn cũng nghiên cứu một số địa phƣơng khác để rút
ra bài học kinh nghiệm.
8


+ Về thời gian: Luận văn nghiên cứu quá trình phát triển KCN tỉnh
Vĩnh Phúc từ khi ra đời đến nay, đặc biệt là từ 2005 đến nay
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận: Dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển
kinh tế nói chung và các KCN nói riêng.
- Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện đề tài này, luận văn chủ yếu sử
dụng phƣơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phƣơng pháp của Kinh
tế chính trị. Luận văn cũng sử dụng kết hợp các phƣơng pháp hệ thống, thống kê
- so sánh, phân tích - tổng hợp, lôgic - lịch sử, khảo sát thực tế, tổng kết thực
tiễn. Đồng thời đề tài có kế thừa chọn lọc những tƣ liệu trong một số công trình
nghiên cứu của các tác giả đi trƣớc.
6. Đóng góp mới của luận văn:

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển các KCN của tỉnh Vĩnh Phúc
từ 1998 đến nay.

- Tìm ra nguyên nhân dẫn đến các hạn chế của sự phát triển các KCN
Vĩnh Phúc thời gian qua.


Mặc dù KCN đã phát triển từ rất lâu, nhƣng cho tới nay, vẫn chƣa có một
định nghĩa thống nhất về KCN. Theo quan điểm của Tổ chức phát triển công
nghiệp Liên hợp quốc UNIDO (1990): KCN là khu vực tƣơng đối nhỏ, phân
cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tƣ vào các
ngành công nghiệp hƣớng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công
nghiệp này những điều kiện về đầu tƣ mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần
lãnh thổ còn lại của nƣớc chủ nhà. [14, tr.48]
Ở Thái Lan và Philippin, KCN đƣợc quan niệm nhƣ một thành phố công
nghiệp và thực tế nó là một cộng đồng tự túc và độc lập. Ngoài việc cung cấp
kết cấu hạ tầng, các tiện nghi, tiện ích công cộng hoàn chỉnh và xử lý chất thải,
KCN cũng bao gồm khu thƣơng mại, dịch vụ ngân hàng, trƣờng học, bệnh viện,
các khu vui chơi giải trí, khu nhà ở cho công nhân… Các KCN ở Thái Lan và
Philippin thƣờng tồn tại các hình thức: khu sản xuất hàng tiêu thụ nội địa, khu
sản xuất hàng xuất khẩu và khu thƣơng mại dịch vụ.
10


Tại Việt Nam, các KCN trƣớc đây thƣờng đƣợc hiểu là nơi tập trung
nhiều doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VII (năm 1991), Đảng chủ trƣơng “Quy hoạch các vùng, trƣớc hết là các địa bàn
trọng điểm, các KCX, KKT đặc biệt, KCN tập trung”. Tiếp đó, Nghị quyết Đại
hội VIII của Đảng năm 1996 xác định rõ thêm: “Cần hình thành các KCN tập
trung (bao gồm cả KCN và KCNC) tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các
cơ sở công nghiệp mới. Phát triển đẩy mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô
thị. Ở các thành phố, thị xã nâng cấp, cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đƣa
các cơ sở không có khả năng xử lý ô nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây
dựng các cơ sở công nghiệp mới xen lẫn với khu dân cƣ”. [24]
Cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế cách hiểu về KCN cũng có những
sự thay đổi. Chẳng hạn theo Nghị định 36/NĐ – CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ
ban hành quy chế KCN, KCX, KCNC, khái niệm KCN đƣợc nêu ra nhƣ sau: KCN

định, có những điều hiện tƣơng ứng với phát triển công nghiệp về tự nhiên,
cơ sở hạ tầng, quản lý nhà nƣớc, tập trung các doanh nghiệp sản xuất công
nghiệp, các doanh nghiệp dịch vụ có liên quan đến hoạt động công nghiệp
b) Phân loại khu công nghiệp:
Tuỳ theo góc độ tiếp cận, KCN có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau:
- Theo tính chất ngành nghề, KCN đƣợc chia thành các loại sau: KCN
chuyên ngành, KCN đa ngành, KCN sinh thái, KCN đô thị, KCN đô thị - công
nghệ cao.
KCN chuyên ngành: là KCN đƣợc hình thành từ các xí nghiệp công
nghiệp cùng một loại ngành hoặc một ít ngành CN khác nhau nhƣng cùng sản
xuất ra một số loại sản phẩm. Ví dụ nhƣ khu gang thép Thái Nguyên, Hóa chất
Việt Trì, Lọc dầu Dung Quất .v.v..
KCN đa ngành: là KCN bao gồm nhiều xí nghiệp thuôc nhiều ngành công
nghiệp khác nhau. KCN đa ngành cho phép thoả mãn đƣợc yêu cầu về lãnh thổ
cho sản xuất công nghiệp, tiết kiệm đầu tƣ hạ tầng, song rất dễ gây ra tác động
xấu giữa các xí nghiệp khác nhau.
KCN đô thị (công viên công nghiệp): là mô hình mang tính cộng sinh
giữa công nghiệp và đô thị. Các KCN phát triển hài hòa trong không gian đô thị
với hệ thống dịch vụ hoàn chỉnh, hỗ trợ nhau cùng phát triển trong môi trƣờng
sạch và bền vững.
12


Khu đô thị - công nghệ cao (còn gọi là công viên khoa học): là mô hình
mang tính chất cộng sinh giữa đô thị, các trung tâm nghiên cứu và đào tạo với
các dự án công nghệ cao. Đó là vƣờn ƣơm khoa học, ứng dụng triển khai các
công nghệ mới, nơi đào tạo nguồn nhân lức cao và các dịch liên quan trong môi
trƣờng đô thị sinh thái.
KCN sinh thái: là mô hình mang tính cộng sinh công nghiệp. Các ngành
công nghiệp đƣợc lựa chọn sao cho các nhà máy có một liên hệ với nhau, hỗ trợ

UBND cấp tỉnh quyết định thành lập (hoặc phân cấp quyết định thành lập) theo
quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn để bố trí các cơ sở sản xuất công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống trong diện di dời khỏi
nội thành, nội thị hoặc các khu dân cƣ tập trung, và thu hút các dự án đầu tƣ với
quy mô vừa và nhỏ.
- Theo đặc điểm và cấp quản lý: KCN gồm 3 loại: (1) KCN do chính phủ
quyết định thành lập: đó là các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ
cao; (2) KCN do UBND tỉnh, thành phố quyết định thành lập: đó là các cụm
công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; (3) KCN do UBND huyện, thị quyết định
thành lập.
1.1.2. Đặc điểm khu công nghiệp
Thứ nhất, KCN là nơi tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp sản xuất ra các
sản phẩm công nghiệp khác nhau, đồng thời cũng sử dụng lƣợng lớn nguyên,
nhiên liệu, năng lƣợng và thải ra lƣợng chất thải khổng lồ. Do tính tập trung sản
xuất CN ở mật độ cao nhƣ vậy nên các vấn đề kinh tế - kỹ thuật của KCN trở nên
rất khác biệt. Thể hiện:
 Việc bố trí các doanh nghiệp trong KCN đòi hỏi vừa phải đảm bảo tính
hiệu quả trong sử dụng đất đai và cơ sở hạ tầng, vừa không ảnh hƣởng xấu đến
nhau. Để làm đƣợc nhƣ vậy, quy hoạch trong các KCN phải đƣợc tính toán và
giải quyết bằng các giải pháp kỹ thuật tối ƣu.
 KCN đòi hỏi phải có đủ các điều kiện kinh tế - kỹ thuật nhƣ cơ sở hạ
tầng ngoài hàng rào KCN, nguồn cung cấp điện, nƣớc… thì KCN mới vận hành
có hiệu quả . Hơn nữa do nhu cầu về các nguồn lực này khá lớn nên KCN đòi
hỏi phải đƣợc cam kết cung cấp ƣu tiên.
 KCN đòi hỏi phải có hệ thống xử lý chất thải phù hợp. Bởi nếu không
đề cao yêu cầu xử lý chất thải trƣớc khi thải ra môi trƣờng, thì với khối lƣợng
chất thải lớn, các KCN có thể huỷ diệt môi trƣờng xung quanh.
14



15


điều kiện sản xuất kinh doanh gắn với cơ bản của nó là sản xuất công nghiệp tập
trung ở mật độ cao. Mặt khác, KCN không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ
chặt chẽ về mọi mặt với các lãnh thổ khác về đầu vào, đầu ra và ảnh hƣởng
ngoại sinh. Vấn đề làm sao đề cả trong, ngoài KCN các quá trinh kinh tế, xã hội,
tự nhiên đều diễn ra tốt đẹp. Giải quyết yêu cầu đó là nhiệm vụ của doanh
nghiệp kinh doanh KCN và cơ quan quản lý nhà nƣớc.
1.2. VAI TRÕ CỦA KHU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ PHÁT
TRIỂN KCN
1.2.1. Vai trò của khu công nghiệp
1.2.1.1. Thu hút vốn đầu tư, tăng tổng thu nhập quốc dân và kim
ngạch xuất khẩu
Hầu hết các nƣớc đang phát triển trên thế giới đang phải đối đầu với
những khó khăn về thiếu hụt vốn, cơ sở hạ tầng kinh tế thấp kém, kỹ thuật –
công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý, tay nghề chƣa cao, môi trƣờng, thể chế đầu
tƣ chƣa hoàn thiện… Tuy nhiên, xu thế toàn cầu hoá kinh tế hiện nay đang tạo
ra những cơ hội to lớn để việc khắc phục những yếu kém đó.
Việc các nƣớc thực hiện quy hoạch, phát triển KCN là phƣơng thức phù
hợp tạo điều kiện để tập trung đầu tƣ có trọng điểm. Do có kết cấu hạ tầng hiện
đại hơn và cơ chế quản lý thông thoáng hơn so với bên ngoài, nên KCN đã trở
thành một địa điểm để thu hút vốn đầu tƣ, đặc biệt là vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, tập
trung các doanh nghiệp sản xuất và chế biến công nghiệp. Nói cách khác, KCN
sẽ tạo cơ hội đƣa nhanh kỹ thuật mới vào sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học và
công nghệ; xây dựng các ngành công nghiệp mũi nhọn, nâng cao vị trí chủ đạo
của công nghiệp trong nền kinh tế, bảo đảm tốc độ tăng trƣởng kinh tế nhanh và
bền vững.
Theo WB, đến 1999 trên phạm vi toàn thế giới đã có khoảng 43% số dự

689 triệu USD và 4,0 nghìn tỷ đồng.
1.2.1.2. Tạo việc làm và thu nhập cho người lao động
KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và cung cấp
các dịch vụ sản xuất công nghiệp, với nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, ở
nhiều lĩnh vực khác nhau. KCN là nơi thu hút đƣợc nhiều lao động bao gồm lao
động làm việc trong các doanh nghiệp tại KCN và các doanh nghiệp xây dựng
17


và cung cấp dịch vụ cho KCN, nó góp phần đa dạng hoá ngành nghề trong xã
hội tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn cho nhiều đồi tƣợng trong xã hội, từ ngƣời
nông dân có nhu cầu làm việc khi nông nhàn, sinh viên bán thời gian, công nhân
cho đến cả lao động có trình độ cao nhƣ kỹ sƣ, nhà quản lý, điều hành… Mặt
khác, số lao động này đƣợc tiếp xúc với công nghệ sản xuất hiện đại, phƣơng
thức quản lý tiên tiến, nên đây là điều kiện quan trọng để xây dựng đội ngũ lao
động có kỷ luật, có kỹ năng và có năng suất lao động cao đáp ứng nhu cầu của
công cuộc CNH, HĐH đất nƣớc.
Hơn nữa, để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của nhiều doanh nghiệp, nhiều
KCN, KCX đã mở các cơ sở đào tạo nghề. Việc thành lập các trung tâm dạy
nghề và đào tạo trong các KCN, KCX đã góp phần nâng cao chất lƣợng nguồn
nhân lực cho các doanh nghiệp trong KCN nói riêng, cho sự nghiệp CNH, HĐH
đất nƣớc nói chung. Ở các địa phƣơng có KCN, tỷ lệ thất nghiệp giảm rõ rệt.
Điều đó có tác động tích cực đến việc xoá đói, giảm nghèo, đồng thời góp phần
giảm các tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây ra. Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và
Đầu tƣ cho thấy mỗi KCN với diện tích khoảng 100 – 150 ha, khi đã lấp đầy
toàn bộ diện tích sẽ cần số lƣợng lao động lên đến 15 triệu – 18 triệu lao động.
Tính đến tháng 12 năm 2008, các KCN trên phạm vi cả nƣớc đã thu hút đƣợc
1,5 triệu lao động trực tiếp và hơn 2 triệu lao động gián tiếp.
Thực tế mấy năm qua cho thấy, hầu hết các KCN phía Nam và phía Bắc
phải tuyển rất nhiều lao động từ các tỉnh miền trung mới đáp ứng nhu cầu việc

giới; tận dụng những lợi thế của nƣớc đi sau, rút ngắn khoảng cách về khoa học
kỹ thuật với các nƣớc đi trƣớc; đồng thời cũng sẽ tiết kiệm đƣợc chi phí trong
lĩnh vực nghiên cứu và phát triển và quyền sở hữu trí tuệ.
Mặc dù trong giai đoạn đầu các KCN đi vào hoạt động, đầu tƣ nƣớc
ngoài chủ yếu tập trung vào các ngành nhƣ dệt may, giày da, lắp ráp điện tử,
nhƣng càng về sau thì việc đầu tƣ vào các lĩnh vực công nghệ hiện đại nhƣ đúc
chính xác, sản xuất cơ khí, sản xuất cáp điện, linh kiện điện tử... ngày càng tăng
và chiếm tỷ trọng lớn cả về sản phẩm và kim ngạch xuất khẩu. Cùng với dòng
vốn đầu tƣ trong các dự án sản xuất kinh doanh, các nhà đầu tƣ còn đƣa vào Việt
Nam những dây chuyền sản xuất công nghệ tiên tiến, hiện đại trong đó có cả
những dự án công nghiệp kỹ thuật cao (phần lớn của Nhật Bản), nhƣ sản xuất
ôtô, xe máy (Honda Motor, Toyota Motor, Piago), các linh kiện máy tính. Một
19


số công nghệ tiên tiến hiện đại, cùng trình độ quản lý cao của đội ngũ cán bộ
doanh nghiệp, trình độ tay nghề của công nhân theo các chuẩn mực quốc tế đã
đƣợc áp dụng tại Việt Nam. Các doanh nghiệp trong KCN, đặc biệt là các doanh
nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đã góp sức đào tạo đƣợc đội ngũ lao động công
nghiệp sử dụng và vận hành thành thạo các trang thiết bị phục vụ quản lý và sản
xuất, nắm vững công nghệ, có tác động lan toả và nâng cao trình độ tay nghề của
đội ngũ lao động Việt Nam lên một bƣớc. Trong các KCN, một lƣợng đáng kể
ngƣời lao động Việt Nam đang dần đƣợc đảm nhận các vị trí quản lý doanh
nghiệp, đƣợc tiếp xúc với phƣơng thức quản trị kinh doanh tiên tiến, hiện đại, kỹ
năng maketing, quản lý tài chính, tổ chức nhân sự… Việc trực tiếp làm việc
trong môi trƣờng có kỷ luật cao, yêu cầu tay nghề cao, đã rèn luyện đƣợc những
kỹ năng và bản lĩnh giúp ngƣời lao động Việt Nam thích ứng với một nền công
nghệ tiên tiến, hiện đại.[15]
1.2.1.4. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hình
thành và phát triển các khu đô thị mới

vì vậy, vấn đề quy hoạch phát triển KCN không thể tách rời quy hoạch phát triển
đô thị, phát triển kinh tế. Kinh nghiệm phát triển KCN trong thời gian qua cho
thấy, việc hình thành các khu đô thị mới chỉ trở thành hiện thực khi có sự phát
triển đồng bộ giữa công nghiệp, khu dân cƣ, các công trình hạ tầng kỹ thuật và
xã hội trong và ngoài hàng rào.
1.2.1.5. Thúc đẩy quá trình hiện đại hoá hệ thống cơ sở hạ tầng
Do đòi hỏi của các doanh nghiệp khi đầu tƣ vào các KCN là cơ sở hạ tầng
phải hoàn thiện, đồng bộ và hiện đại, vì vậy, để thu hút đƣợc nhiều dự án đầu tƣ,
nhất là các dự án đầu tƣ nƣớc ngoài, các quốc gia, các địa phƣơng ngoài việc
đƣa ra hàng loạt chính sách ƣu đãi về thuế, tài chính, còn tiến hành đầu tƣ cơ sở
hạ tầng, cố gắng hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng. Kết quả là hệ thống đƣờng
xá; hệ thống cung ứng điện, nƣớc; hệ thống thông tin liên lạc; công trình phúc
lợi phát triển, hiện đại đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.
Sự phát triển cơ sở hạ tầng các KCN còn có có tác dụng kích thích sự phát
triển kinh tế địa phƣơng, góp phần rút ngắn sự chênh lệch phát triển giữa nông
thôn và thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Cùng với
quá trình phát triển KCN, các điều kiện về kỹ thuật hạ tầng trong khu vực đã
đƣợc cải thiện đáng kể, nhu cầu về các dịch vụ gia tăng, góp phần thúc đẩy hoạt
động kinh doanh cho các cơ sở dịch vụ trong vùng.
21


1.2.1.6. KCN tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý ô nhiễm môi trường,
bảo vệ môi trường sinh thái cho phát triển bền vững.
Việc tập trung nhiều doanh nghiệp trên cùng một địa bàn nhƣ KCN sẽ cho
phép xây dựng các trung tâm xử lý chất thải đồng bộ hơn nhƣng với chi phí ít
tốn kém hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc quản lý môi trƣờng của cơ
quan chức năng. KCN tập trung sẽ giảm thiểu các tác động bất lợi của sản xuất
công nghiệp (nhƣ tiếng ồn, khói bụi, bức xạ...). Hơn nữa, tại các đô thị việc tập
trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp vào một địa điểm xác định, Ban

hợp sẽ làm giảm các chi phí liên quan đến việc tạo mặt bằng, xây dựng kết cấu
hạ tầng đồng thời làm tăng thu nhập cho công ty phát triển hạ tầng.
Điều kiện xã hội khu vực chọn xây dựng KCN đƣợc thể hiện ở trình độ
học vấn và nền tảng văn hóa chung của ngƣời dân, các loại hình kinh tế đang tồn
tại và hoạt động trong khu vực. Nếu KCN đặt tại một địa bàn có trình độ học
vấn của ngƣời dân cao, có khả năng tiếp cận với kỹ thuật công nghệ hiện đại,
chắc chắn sẽ thu hút các dự án đầu tƣ nhiều hơn. Đó là vì, các nhà đầu tƣ sẽ
giảm đƣợc chi phí đào tạo nhân lực phục vụ trực tiếp và gián tiếp làm dịch vụ
cho các doanh nghiệp trong KCN. Ngƣợc lại, các điều kiện đó nếu không thuận
lợi thì chi phí cho KCN tất yếu phải cao hơn, hiệu quả đầu tƣ thấp hơn.
1.2.2.2. Quy hoạch và chính sách của nhà nước
Quy hoạch phát triển khu công nghiệp đƣợc coi là nhân tố quan trọng nhất
và quyết định nhất đối với sự hình thành và phát triển một khu công nghiệp cũng
nhƣ hệ thống khu công nghiệp . Đây đƣợc xem là công đoạn xây dựng hình thái
kiến trúc cho khu công nghiệp. Nếu công tác quy hoạch khoa học, hệ thống, có
tầm chiến lƣợc và tƣơng thích với quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH và quy
hoạch về sử dụng đất của địa phƣơng, của vùng cũng nhƣ quốc gia sẽ cho phép
khai thác có hiệu quả các nguồn lực. Cụ thể, nếu có một tầm nhìn dài hạn trong
quy hoạch thì sẽ giảm thiểu ảnh hƣởng tiêu cực của quy hoạch đối với đời sống
của ngƣời dân, trƣớc hết là tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tránh
đầu tƣ dàn trải, tràn lan gây ra tình trạng mất cân bằng cung cầu và lãng phí
nguồn lực. Hơn nữa, quy hoạch theo lãnh thổ tốt sẽ cho phép đáp ứng đƣợc các
yêu cầu phát triển lâu dài đồng bộ, đồng thời góp phần phân bổ hợp lý nguồn lực
sản xuất theo lãnh thổ. Bên cạnh đó, quy hoạch các KCN đồng bộ, xây dựng các
KCN gắn liền với quy hoạch xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật cũng nhƣ
23


hạ tầng xã hội, phát triển các khu đô thị sẽ đảm bảo ổn định cho ngƣời lao động
làm việc trong các KCN, đồng thời tạo đƣợc hiệu quả kinh tế - xã hội cao.


trong KCN càng thuận lợi thì càng thu hút thêm nhiều dự án đầu tƣ mới, đồng
thời, còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô để tăng cƣờng
năng lực sản xuất và cạnh tranh, hoặc di chuyển ra khỏi các khu đông dân cƣ, tạo
điều kiện để các địa phƣơng giải quyết các vấn đề ô nhiễm, bảo vệ môi trƣờng đô
thị, tái tạo và hình thành quỹ đất mới phục vụ các mục đích khác của cộng đồng
trong khu vực nhƣ KCN Tân Tạo (TP Hồ Chí Minh), Việt Hƣơng (Bình Dƣơng)…
Đặc biệt , hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN còn đảm
bảo sự liên thông giữa các vùng, định hƣớng cho phát triển các khu dân cƣ mới,
các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ, dịch vụ… các
công trình hạ tầng xã hội phục vụ đời sống ngƣời lao động và cƣ dân trong khu
vực nhƣ: nhà ở, trƣờng học, bệnh viện, khu giải trí…. Những vấn đề này đến
lƣợt nó lại tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón bắt và thu hút đầu tƣ các
ngành nhƣ điện, giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các
hoạt động dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xúc tiến đầu tƣ, phát triển thị
trƣờng địa ốc… đáp ứng nhu cầu hoạt động và phát triển của các KCN.
1.2.2.4. Trình độ nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực luôn là nhân tố quan trọng nhất trong mọi hoạt động,
trong đó có sự hình thành và phát triển các KCN, KCX. Do đặc điểm sản xuất của
các doanh nghiệp trong KCN, đặc biệt là trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển
nhƣ vũ bão hiện nay, yêu cầu một nguồn có chất lƣợng cao là đòi hỏi cấp bách. Vì
vậy, nếu tại một địa phƣơng (hay một quốc gia) có nguồn nhân lực trình độ cao, tác
phong công nghiệp, ý thức kỷ luật tốt thì sẽ là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tƣ
đặc biệt là nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, những dự án công nghệ cao, vì nó giúp các nhà
đầu tƣ giảm chi phí đào tạo lại, từ đó làm giá thành sản phẩm giảm và tính cạnh
tranh cao. Và ngƣợc lại nếu trình độ nguồn nhân lực tại địa phƣơng xây dựng KCN
thấp thì khả năng thu hút đầu tƣ sẽ giảm đi, các dự án đầu tƣ vào đây chủ yếu là
các dự án công nghệ thấp, cần nhiều lao động phổ thông.
1.2.2.5. Bộ máy quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp
Bộ máy quản lý nhà nƣớc đối với các KCN, trực tiếp là UBND tỉnh, thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status