nghiên cứu hình thức quảng cáo mới - Pdf 10

BÀI TIỂU LUẬN NHÓM 4: NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC QUẢNG CÁO MỚI
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM:

1
BÀI TIỂU LUẬN NHÓM 4: NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC QUẢNG CÁO MỚI
MỤC LỤC
2
BÀI TIỂU LUẬN NHÓM 4: NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC QUẢNG CÁO MỚI
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong mỗi thời đại, mỗi chu kỳ sống của Doanh nghiệp, thị trường luôn là vấn đề
quan trọng và có ý nghĩa quyết định. Để giữ vững và nâng cao vị thế của mình trên thị
trường, đòi hỏi các Doanh nghiệp phải luôn có biện pháp tiếp cận thị trường có hiệu
quả. Một trong số đó là quảng cáo. Có rất nhiều hình thức quảng cáo như thong qua
truyền hình, truyền thanh, báo, tạp chí… với mục đích là giới thiệu sản phẩm, quảng
cáo thương hiệu. tuy nhiên không phải Doanh nghiệp nào ngay từ khi ra đời đều có
khả năng thanh toán cho những phương thức quảng cáo đó có được hiệu quả. Vì vậy,
việc áp dụng một hình thức quảng cáo mới phù hợp, giảm chi phí mà vẫn đạt được
hiệu quả nhất định là vấn đề cần cân nhắc của mỗi Doanh nghiệp. Thông thường,
quảng cáo trên báo và tạp chí có chi phí thấp, diễn đạt đủ ý. Thời gian của quảng cáo
là dài nhưng không rộng khắp. Đối với quảng cáo truyền thanh thì truyền tin nhanh
tới mọi miền thị trường mong muốn nhưng thời gian sống của quảng cáo là ngắn.
Loại quảng cáo này phải lưu ý thời điểm, thời gian cho hợp lý. Quảng cáo trên mạng
phù hợp với hiện nay, không bị giới hạn không gian địa lý. Tuy nhiên ở Việt Nam thì
bị giới hạn về đối tượng. Quảng cáo phim ảnh, đây là phương tiện quảng cáo hiệu quả
nhất nhưng chi phí lớn. Còn quảng cáo ngoài trời, khả năng lựa chọn đại lý cao, thời
gian sống của quảng cáo dài, chi phí thấp nhưng quá cô đọng, người tiêu dùng không
hiểu hết nội dung. Còn đối với quảng cáo truyền hình là phương tiện quảng cáo hiệu
quả nhất bởi vì nó khai thác được hiệu quả về âm thanh, màu sắc,…, hình ảnh quảng
cáo phải đặc trưng cho sản phẩm. Đối với những loại quảng cáo đó đều có những ưu,
nhược điểm chính vì vậy đặt ra cho mỗi doanh nghiệp phải tìm, lựa chọn hình thức
quảng cáo sao cho đem lại hiệu quả, chi phí thấp nhất có thể. Khi mà cấu trúc của một

vào nhu cầu biến động của thị trường hay nói khác đi là lấy thị trường làm định
hướng”.
- Khái niệm Marketing tại các Doanh nghiệp trong cơ chế thị trường tại Việt Nam thì
“ Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thoả mãn những nhu cầu,
mong muốn của họ thông qua trao đổi về một loại sản phẩm – dịch vụ nào đó trên thị
trường. Trong khái niệm Marketing, điều quan trọng đầu tiên mang tính quyết định
thành hay bại trong kinh doanh của các Doanh nghiệp là phải nghiên cứu nhu cầu,
mong muốn và yêu cầu cũng như hành vi mua hàng của khách hàng, sau đó tiến hành
sản xuất sản phẩm – dịch vụ phù hợp trước khi đem ra tiêu thụ trên thị trường thông
qua các hoạt động trao đổi và giao dịch.
+ Nhu cầu : là khái niệm rộng, bao gồm những cảm giác thiếu hụt của con người về
một cái gì đó và cần được thoả mãn. Khi xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu cơ
bản được giảm mạnh và được thay thế bằng nhu cầu được ăn ngon, mặc đẹp, vui chơi
giải chí và hưởng thụ cuộc sống.
+ Mong muốn : là nhu cầu đặc thù, đặc trưng cho một phong tục tập quán, thói quen
tiêu dùng, tôn giáo tín ngưõng của một khu vực, vùng miền và nó mang tính khách
quan.
Ví dụ: Coca-Cola ở Mỹ có độ ngọt ít, độ ga nhiều, còn ở Việt Nam thì ngược lại
Coca-Cola có độ ngọt nhiều và độ ga ít hơn.
+ Yêu cầu : là nhu cầu, là mong muốn kèm theo điều kiện có khả năng thanh toán.
Nhu cầu của con người là vô hạn, trong khi đó nguồn lực để thoả mãn nhu cầu, mong
muốn và yêu cầu khách hàng, hay nói cách khác là phải có sự điều tra thu thập qua
từng thời kỳ.
+ Hàng hoá : là những gì có thể thoả mãn nhu cầu của con người và được phép chào
bán trên thị trường dưới sự dẫn dắt của giá cả. Những sản phẩm được sản xuất ra mà
4
BÀI TIỂU LUẬN NHÓM 4: NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC QUẢNG CÁO MỚI
không thoả mãn được nhu cầu thì không được gọi là hàng hoá. Như vậy, quá trình trao
đổi đòi hỏi phải làm việc. Doanh nghiệp muốn bán hàng thì cần phải tìm người mua,
xác định những nhu cầu của họ, thiết kế nhưbgx sản phẩm phù hợp, đưa chúng ra xếp

chính, nhân sự.
Trong các loại hình truyền thông Marketing như khuyến mại, quan hệ công chúng,
bán hàng cá nhân, tiếp thị trực tiếp, tổ chức sự kiện, truyền thông tại điểm bán hàng,
truyền thông điện tử, trong đó Quảng cáo được xem là hình thức truyền thông
Marketing hữu hiệu nhất.
2. Quảng cáo
Định nghĩa :
Theo Điều 102, Luật Thương mại Việt Nam 2005: “Quảng cáo thương mại là hoạt
động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình”.
5
BÀI TIỂU LUẬN NHÓM 4: NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC QUẢNG CÁO MỚI
Theo Hiệp hội Marketing Mỹ: “Quảng cáo là bất cứ loại hình nào của sự hiện diện
không trực tiếp của hàng hóa, dịch vụ, tư tưởng đến một nhóm người mà người ta
phải trả tiền để nhận biết người quảng cáo”.
Theo Philip Kotler: “Quảng cáo là những hình thức truyền thông không trực tiếp, phi
cá nhân, được thực hiện thông qua các phương tiện truyền tin phải trả tiền và các chủ
thể quảng cáo phải chịu chi phí”.
Theo Armand Dayan: “Quảng cáo là những thông báo phải trả tiền, một chiều và
không cho cá nhân ai, được thực hiện thông qua các phương tiện truyền thông đại
chúng và các dạng truyền thông khác nhằm cổ động cho một hàng hóa, một nhãn
hiệu, một tổ chức nào đó”.
Theo quan điểm quản lý, quảng cáo là phương sách có tính chất chiến lược để đạt
được hoặc duy trì một lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Trong nhiều trường hợp đầu
tư trong quảng cáo là một sự đầu tư dài hạn.
Nhiều Doanh nghiệp rất đề cao quảng cáo, coi nó là hình thức truyền thông Marketing
hữu hiệu nhất. Họ quan niệm “ làm kinh doanh mà không có quảng cáo thì cũng giống
như nháy mắt tỏ tình với một cô gái trong bóng đêm biết mình đang làm gì nhưng
chẳng ai khác biết cả”.
* Các loại hình quảng cáo phổ biến:

thể kết hợp cả ngôn ngữ và hình ảnh, có thể truyền tay nhau, được lưu giữ hoặc đọc
lại.
- Các phương tiện quảng cáo ngoài trời: loại hình quảng cáo này có thể xuất hiện
bất cứ đâu, đặc biệt là những nơi có mật độ ngưòi qua lại cao như công viên, ngã tư,
và các đường phố chính. Ví dụ: biển quảng cáo điện tử, áp phích, pa-nô
- Các phương tiện quảng cáo di động: quảng cáo trên phương tiện giao thông như
xe buýt hay taxi và trên các vật phẩm quảng cáo như áo phông, mũ, áo mưa, túi sách,
ba lô
* Quảng cáo trên các tấm vé xe, vé số, vé máy bay, hoá đơn siêu thị đây là hình
thức quảng cáo bằng cách đưa các thông điệp quảng cáo, hình ảnh thương hiệu, hình
ảnh sản phẩm lên mặt trước thậm chí mặt sau của các tấm vé xe, vé số, vé máy bay
Bằng cách trao tận tay thông điệp về thương hiệu và các hình thức giớ thiệu sản
phẩm, khuyến mại tới người tiêu dùng sau mỗi lần mua hàng, sử dụng dịch vụ một
cách tiết kiệm và đạt hiệu quả tối đa, chi phí tối thiểu. Đây là hình thức quảng cáo khá
phổ biến nó tồn tại và phát triển ở các nước Châu Âu-Châu Mỹ đã hơn 30 năm nay
rồi. Hình thức quảng cáo trên đã được nhiều công ty ở Việt Nam áp dụng. Hiện nay
đang phát triển ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, hiện tại không ít
người đã biết đến hình thức quảng cáo này. Tuy nhiên, hình thức quảng cáo này vẫn
còn khá mới mẻ nên vẫn chưa thực sự phát triển.
3. Khách hàng
- Người tiêu dùng là người mua sắm và tiêu dùng những sản phẩm và dịch vụ nhằm
thoả mãn nhu cầu và ước muốn cá nhân. Họ là người cuối cùng tiêu dùng sản phẩm
do quá trình sản xuất tạo ra. Khách hàng là người tiêu dùng.
- Khách hàng là thị trường của Doanh nghiệp, đồng thời khách hàng lại là một trong
những lực lượng-yếu tố quan trọng nhất chi phối mang tính quyết liệt tới các hoạt
động Marketing của Doanh nghiệp. Mỗi sự biến đổi về nhu cầu, về quyết định mua
sắm của khách hàng yêu đều buộc Doanh nghiệp phải xem xét lại các quyết định
Marketing của mình.
Khi khách hàng quyết định mua sắm một nhãn hiệu hàng hoá cụ thể, họ thường kỳ
vọng vào những lợi ích do tiêu dùng nhãn hiệu hàng hoá đó mang lại. Cùng một nhu

này với sản phẩm khác.
- Đối với Doanh nghiệp:
Một thực tế là nhiều Doanh nghiệp quá lạm dụng quảng cáo nên bị người tiêu dùng
gán cho tội “lừa bịp” vì quảng cáo không phản ánh đúng chất lượng sản phẩm. Hầu
hết Doanh nghiệp Việt Nam chưa có kinh nghiệm về thuê làm quảng cáo nên có tình
trạng Doanh nghiệp thua lỗ trước khi chào bán sản phẩm vì chi quá nhiều tiền cho
quảng cáo nhưng quảng cáo không đạt yêu cầu. Rốt cuộc tiền mất tật mang.
Vấn đề chính là do Doanh nghiệp đã hiểu sai hoặc đánh giá chưa chính xác vai trò của
quảng cáo trong tiếp thị, do đó dẫn đến việc sử dụng nó không hiệu quả.
Nhiều Doanh nghiệp đau đầu, lúng túng mỗi khi cần chiển khai chiến dịch quảng cáo
nên dẫn đến kết quả hầu như không mong muốn. Nguyên nhân do họ xác định sai
hoặc không xác định đúng các yếu tố cần thực hiện để có một quảng cáo đạt tiêu
chuẩn. Để có một quảng cáo như ý muốn, Doanh nghiệp cần quyết định quảng cáo
dựa trên năm chữ M của quảng cáo: Misson-nhiệm vụ; Message-thông điệp; Media-
phương tiện truyền thông; Money-tiền; Measurement-đánh giá kết quả.
Nhiều Doanh nghiệp lớn trong nước cũng ngày càng nhận ra hiệu quả của quảng cáo
trong việc truyền bá thương hiệu và sẵn lòng chi nhiều tiền hơn cho dịch vụ này. Theo
nhận xét của những người trong ngề, dù chi phí phát sóng chỉ 30 giây xuất hiện trên
truyền hình có thể xấp xỉ 30 triệu đồng hoặc chi cả tỷ đồng để làm ra một quảng cáo
8
BÀI TIỂU LUẬN NHÓM 4: NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC QUẢNG CÁO MỚI
hiệu quả các nhà sản xuất vẫn sẵn lòng. Thị trường quảng cáo nhanh chóng bùng nổ
khi các đại gia tập đoàn lớn nước ngoài như Unilever, Colgate, Coca-Cola, Pepsi
vào Việt Nam sau cấm vận, và nhãy vào lĩnh vực quảng cáo theo bước các công ty của
nước ngoài, nhiều công ty Việt Nam cũng phất lên nhờ gia công, sản xuất hay quan hệ
đối nội với các cơ quan ban hành, truyền thông để lên kế hoạch truyền hình, phát
sóng
Tổng kết về ưu, nhược điểm của các loại hình quảng cáo :
LOẠI
HÌNH

thích hoặc
chứng minh
bằng hình ảnh.
Với các doanh
nghiệp nhỏ,
vốn kinh
doanh ít. Các
quảng cáo có
mục đích làm
cho khách
hàng thể hiện
hành động
ngay, hoặc
mua sản phẩm
ngay.
Internet + là khai thác quảng
cáo trên website,
google search, các
forum, hiệu quả có thể
đo lường được luôn,
đối tượng khách hàng
tiềm năng cho nhiều
sản phẩm đang có xu
hướng sử dụng
Internet ngày càng
tăng.
+ tương đối chính xác
trong việc nhắm vào
một đối tượng nào đó
thậm chí có thể điều

web; Ví dụ
trang web thời
trang thì tốt
cho mỹ phẩm;
trang web về
thông tin khoa
học thì thích
hợp cho hàng
điện tử và
sách
Sản phẩm rời
mua với khối
lượng lớn; sản
phẩm mua
theo kiểu tiền
trao cháo múc;
sản phẩm cần
thôi thúc mua
hàng ngay
9
BÀI TIỂU LUẬN NHÓM 4: NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC QUẢNG CÁO MỚI
Tờ rơi Chi phí rẻ đơn giản,
dễ kiểm soát và đo
được hiệu quả.
Hình thức này
chỉ phù hợp
với khai
trương, khánh
thành,khuyến
mãi.

hợp cho các
chiến dịch
khuyến mãi
ngắn; Thích
hợp cho các
hoạt động càn
giải thích dài
dòng về lợi ích
và các hoạt
đọng thúc giục
hoạt động ngay
Các lĩnh vực
tiêu dùng hằng
ngày, ngoại
trừ một
chương trình
khuyến mại
đặc biệt nào
đó.
Radio + phạm vi rộng
+ thính giả có chọn
lọc tương đối.
+ chi phí thấp.
+ linh động về khu
vực địa lý.
+ tần suất cao.
+ chỉ đánh vào
thính giác.
+ ít gây chú ý
hơn tivi.

khu vực địa lý nhất
định;
Có thể đặt gần nơi bán
hàng;
Nhìn thấy nhiều lần;
Ít chịu áp lực quảng
cáo cạnh tranh
+ hạn chế sáng
tạo.
+ không chọn
lọc người xem.
+ bị chi phối
về yêu cầu mỹ
quan.
Thông điệp
phải ngắn gọn
vì khách hàng
thường đi lướt
qua; đối tượng
nhìn thấy
thường chỉ giới
hạn trong
những người
có việc đi
ngang qua khu
vực ấy.
Thức ăn nhanh
hoặc những
sản phẩm cần
thúc giục mua

được chính xác nhu
cầu và mong muốn
của khách hàng, ngoài
ra bạn cũng có thể xây
dựng mối quan hệ và
chiếm được thiện cảm
của khách hàng hoặc
có thể bán ngay được
sản phẩm. Trong
trường hợp này khách
hàng thường trả lời rất
chính xác nhu cầu và
mong muốn của họ,
qua đó bạn có thể
chuẩn bị cho các bước
bán hàng và quảng
cáo tiếp theo.
Tuy nhiên chi
phí quá đắt, chỉ
tiếp cận được
một số ít khách
hàng và có thể
làm mất thời
gian của khách
hàng dẫn đến
khách hàng có
ác cảm, bạn
cần tính toán
thời gian nào
thì phù với

dựng thương
hiệu
Xúc tiến
thương mại
trong thời gian
ngắn hoặc sản
phẩm/dịch vụ
mau lỗi thời,
như sản phẩm
rau quả tươi
hoặc thức ăn
nhanh
Thư
trực
tiếp
Linh động
Chọn lọc tương đối
Không chịu tác động
của các quảng cáo
cạnh tranh
Cá nhân hoá
Đủ diện tích cho
những thông điệp
phức tạp; Có thể kèm
theo phiếu giảm giá;
Có thể gửi hàng mẫu
Người đọc dễ
bỏ qua, ít chú ý
Chi phí khá
cao

Quảng cáo film trên mặt sau bill siêu thị:
Với mong muốn mang đến cho người xem những thông tin nóng hổi về các bộ phim
đang chiếu trên HTV3, TVM đã quyết định đầu tư them một kênh quảng cáo mới.
TVM đã thực hiện chiến lược tiếp cận khan giả tiềm năng của mình trên kênh
quảng cáo film trên mặt sau của hoá đơn siêu thị. Ngoài ra đây còn là một công cụ
thực nghiệm nhằm tiếp cận thị trường Hà Nội trong thời gian sắp tới.
12
BÀI TIỂU LUẬN NHÓM 4: NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC QUẢNG CÁO MỚI
Quảng cáo trên bill siêu thị là mẫu quảng cáo thông tin in màu bắt mắt trên mặt
sau hoá đơn tính tiền tại các siêu thị. Với những người thường xuyên đi mua sắm ở
siêu thị thì đây là một hình thức mới mẻ giúp họ cập nhật thông tin nhanh và cực kỳ
tiện lợi.
Theo ước tính lượng khách ở các siêu thị như sau :
STT SIÊU THỊ QUẬN LƯỢNG KHÁCH
1 Coop Nguyễn Đình Chiểu Q.3 1534500
2 Coop Cống Quỳnh Q.1 1534500
3 Coop Đinh Tiên Hoàng Q.Bình Thạnh 1534500
4 Coop Lý Thường Kiệt Q.10 1488000
5 Coop Nguyễn Kiệm Q.Phú Nhuận 930000
Sau một tháng thực hiện, TVM đã thu được những kết quả khả quan. Số lượng người
đến siêu thị và quan tâm đến những bộ phim được giới thiệu phía sau hoá đơn tính
tiền là rất cao. Nhiều người rất thích thú vìo vừa đi siêu thị vừa được cập nhật thông
tin phim nhanh và chính xác.
Saving Bill – Quảng cáo trên hoá đơn siêu thị Fivimart, BigC, Citimart.
Đây là hình thức quảng cáo do công ty Cartle đưa vào Việt Nam và đang được phát
triển ở hai thành phố lớn : Hà Nội và TP HCM. Ở đây hình thức quảng cáo này được
nhiều người biết đến vì nhiều lý do:
- Chi phí rẻ: từ 50 – 80VND/1 ô quảng cáo, và chỉ với 1585000đ bạn có thể gửi tới
18600 khách hàng những thông tin về chương trình khuyến mại, giảm giá hoặc
chương trình kích hoạt thương hiệu một cách hiệu quả.

tiếp cận không hề nhỏ chính là tiềm năng phát triển cho hình thức quảng cáo trên vé.
Hình thức quảng cáo trên các loại vé xuất hiện ở Mỹ năm 1998 nhờ sự khai phá bằng
ý tuởng đưa hình ảnh sản phẩm lên mặt sau của vé gửi xe và các loại vé dịch vụ khác
của “ông tổ “ Chrítopher Gilliam (sang lập Công ty Adver Tickets chuyên về quảng
cáo trên vé ).
“Các doanh nghiệp muốn tận dụng mọi không gian, phương thức quảng bá thương
hiệu, sản phẩm của mình nhưng họ lại quên mất không gian nhỏ bé trên mỗi tờ vé, các
tiếp cận khách hàng nhanh mà chi phí rẻ”, anh Trần Đức Sự, tác giả ý tuởng quảng
cáo trên vé số và các loại vé đã đạt giải cuộc thi “ý tưởng sang tạo trẻ 2009” tại
TP.HCM, cho biết.
Theo tính toán của anh , mọtt tờ vé số có kích thước bề mặt trung bình 60x150mm,
tính ra diện tích khoảng 0,009m2, thích hợp để chèn lôg, hoặc slogan, địa chỉ
website của thuơng hiệu, nhãn hàng hơn là giới thiệu sản phẩm. đối tuợng có
nhiều nhu cầu sử dụng kênh này là doanh nghiệp chuyên cung cấp hàng tiêu dùng,
nhu yếu phẩm (bột giặt, dầu ăn, nuớc giải khát) hay dịch vụ (mạng viễn thông, du lịch
, ngân hàng). Đối tượng của quảng cáo trên vé là những người lao động phổ thông, có
thu nhập thấp cho nên luợng người tiếp cận là rất rộng. bên cạnh đó, kênh này lại
được tiếp cận hàng ngày, lặp đi lặp lại nên ấn tuợng để lại trong người tiêu dùng khá
mạnh.
Ông Hà Văn Tăng, phó chủ tịch thường trực kiêm tổng thư ký hiệp hội quảng cáo
Việt Nam, cho rằng ưu điểm của phương thức quảng cáo trên vé là cách tiếp cận trực
tiếp từng người rồi lan toả ra nhiều người. tuy chỉ sử dụng một lần, nhưng số lượng vé
lớn và sơ-ri nhiều nên có thể sử dụng trong nhiều năm.ngoài ra các phòng vé, đại lý
vé những ngườ bán vé số doạ dều rất đông, tính cơ động cao nên đây có thể được coi
là một kênh phân phối rộng.
Xét riêng về quảng cáo trên vé số, theo ông Dũng có thể phát huy hiệu quả đảy
mạnh đối với quảng cáo phi lợi nhuận, nhằm mục đích gia tăng nhận biết
thương hiệu hoặc làm từ thiện. chẳng hạn, nhãn hàng Ôm có thể thõa thuận với
công ty xổ số về việc chuyển một số tiền cho trẻ em nghèo, trong khi lôg hay
slogan của Ôm sẽ xuất hiện trên tờ vé số. nhiều doanh nghiệp sẽ hứng thú với

Từ thực tiễn đưa ra như trên, liệu thị trường Việt Nam nói chung, thị trường ở Huế nói
riêng, loại hình quảng cáo mặt sau có triển vọng phát triển như thế nào?
Mọi Doanh nghiệp phải giải quyết tốt vấn đề Chi phí-Lợi nhuận.Doanh nghiệp phải
hạn chế tối đa chi phí, tránh lãng phí nhằm giữ được lợi nhuận cho Doanh nghiệp mà
vẫn duy trì hình ảnh thương hiệu nhãn hàng.Ở Việt Nam,phần lớn là doanh nghiệp
vừa và nhỏ, nguồn chi phí cho quảng cáo là không nhiều.
Vậy bài toán đặ ra cho người làm Marketing là phải tận dụng và phát huy ưu điểm,
khắc phục và hạn chế nhược điểm để làm sao đó mỗi đồng chi phí quảng cáo thật sự
là một đồng tiền cho đầu tư có lợi.
Việt Nam là một đất nước có quy mô lớn:
Năm 2010: dân số Việt Nam là 86,9277 triệu người
Số dân thành thị: 26224,4 nghìn người.
Dân số tỉnh Thừa Thiên Huế là 1090879 người trong đó thành thị có 470907 người
(theo Cục thống kê VN)
Đến cuối năm 2011, cả nước ước tính đạt 87,84 triệu người.
Và ước tính đến năm 2020, dân số thành phố Huế và các vùng đô thị vệ tinh khoảng
710.000 người.
Như vậy với tốc độ tăng dân số thành thị trung bình là 3,4% loại hình quảng cáo mặt
sau liệu có khả năng phát triển cao?
+ Đối với phương thức quảng cáo saving bill(mặt sau hóa đơn)
Theo nghiên cứu TNS(công ty Taylor Nelson Sofres) năm 2009, thị trường bán lẻ VN
đang là một trong những thị trường tiềm năng, với quy mô dân số lớn, tỷ lệ dưới 30
tuổi chiếm 60%. Tổng số siêu thị, cửa hàng tiện lợi tăng 50%/năm và siêu tị đang dần
trở thành trung tâm của cộng đồng. Đi siêu thị mua sắm là một trong năm hoạt động
cuối tuần phổ biến nhất của người dân thành thị.
50% NTD đi siêu thị tối thiểu 1lần / tháng, hơn 80%tại TP HCM tương đương 20
triệu lượt người đến siêu thị/ tháng. Với chính sách người việt nam dùng hàng việt
nam,và đời sống người dân được nâng lên đáng kể, thị trường Huế, siêu thị đang dần
15
BÀI TIỂU LUẬN NHÓM 4: NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC QUẢNG CÁO MỚI

2
, thích hợp để chèn logo hoặc slogan, địa chỉ website của
thương hiệu, nhãn hàng hơn là giới thiệu sản phẩm. Đối tượng có nhiều nhu cầu sử
dụng kênh này là doanh nghiệp chuyên cung cấp hàng tiêu dùng, nhu yếu phẩm (bột
giặt, dầu gội, nước giải khát) hay dịch vụ (mạng viễn thông, du lịch, ngân hàng). Đối
tượng của quảng cáo trên vé là người lao động phổ thông, có thu nhập thấp cho nên
lượng người cần tiếp cận là rất rộng. Bên cạnh đó, kênh này lại được tiến hành hằng
ngày, lặp đi lặp lại nên ấn tượng để lại trong người tiêu dùng là khá mạnh.
Phương thức quảng cáo trên vé là tiếp cận trực tiếp từng người rồi từ đó lan tỏa
sang người khác.Chỉ tính riêng khu vực miền trung tổng số vé tiêu thu khoảng
1,2 triệu vé/ngày, với số lượng phát hành lớn như vậy, đối tượng tiêu dùng
phong phú, phân bố ở nhiều khu vực khác nhau…Bên cạnh đó, người mua vé số
thường giữ vé rất lâu, có khi trong nhiều ngày.Mặt khá, chỉ cần đăng quảng cáo trên
vé số, các doanh nghiệp sẽ có một số lượng khổng lồ các nhà Marketing là các đại lý
16
BÀI TIỂU LUẬN NHÓM 4: NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC QUẢNG CÁO MỚI
và những người bán vé số, tính cơ động cao nên đây có thể được coi là kênh phân
phối rộng.
Để đạt hiệu quả cao trong phương thức quảng cáo này, các doanh nghiệp củng cần
phân bổ nguồn vé của mình để có thể thu hút các nhóm NTD, các loại hàng hóa
quảng cáo trên các loại vé khác nhau, phù hợp với người tiêu dùng.
Chẳng hạn,người mua vé số đa phần là ngườ tiêu dùng phổ thông, thì có thể quảng
cáo các mặt hàng nhu yếu phẩm, đồ dùng sinh hoạt hằng ngày như bột giặt, sữa tắm,
kem đánh răng….
Vé tàu, vé xe cũng là một vùng đất tiềm năng cho loại hình quảng cáo mặt sau.
Phần lớn người dân Việt Nam có thu nhập không cao, họ không có xe ôtô riêng để di
chuyển. Do đó, lượng người đi tàu, xe là rất nhiều. Và loại xe ngày càng được lựa
chọn nhiều là xe chất lượng cao, thường thì phải đặt vé trước nên thời gian giữ vé khá
lâu.
Đất nước Việt Nam có đường tàu nam-bắc với nhiều đoàn tàu, lưu lượng khách

mãi…
Với số lượng các loại xe và cách thức như vậy,việc đưa phương thức quảng cáo
trên vé giữ xe là rất có khả thi.
Trong tương lai, nền kinh tế phát triển sẽ tạo ra nhiều nhu cầu cùng nhiều không gian
hẹp để kiểm soát về tài chính. Lúc đó, chi phí cho quảng cáo đắt đỏ, những kênh nhỏ
sẽ phù hợp với các nhà sản xuất vừa và nhỏ với ngân sách chi cho quảng cáo không
nhiều. Đơn cử ví dụ, một doanh nghiệp mới ra một loại bút bi mới, chưa được nhiều
người chọn lựa, công ty này muốn thị trường bao phủ địa bàn TP.HCM nhưng chi phí
dành cho quảng cáo không nhiều, không thể lựa chọn các kênh truyền hình thì kênh
quảng cáo trên vé sẽ tiện lợi hơn.
Việc in quảng cáo trên các loại vé dù người tiêu dùng không để ý nhưng hình ảnh đi
vào vô thức của người tiêu dùng và nó sẽ chuyển thành thái độ và hành động lúc nào
không hay.
Phải nhận thấy một điều rằng, hàng hóa giá rẻ sẽ là đối tượng tốt khi sử dụng phương
thức quảng cáo trên vé(tàu) xe, vé số, vé giữ xe. Nhưng liệu hàng hóa giá rẻ có đạt
được hiệu quả không nếu sử dụng phương thức quảng cáo trên vé máy bay. Và liệu
quảng cáo sữa trên vé số có đem lại hiệu quả không, khi mà vé số được coi là một
hình thức “cờ bạc” trong một phạm vi nào đó.
Người làm Marketing phải hiểu rằng, mỗi khách hàng có một trạng thái tiêu dùng
khác nhau. Chẳng hạn,khi đi lu lịch thì họ không thích xem những mẫu quảng cáo
nặng về tư duy, mà trong trường hợp này cần tập trung vào những mẫu quảng cáo giải
trí, vui chơi. Người làm Marketing phải hiểu rõ trạng thái tiêu dùng thì mới đem lại
hiệu quả tốt nhất cho chi phí quảng cáo.
Tùy từng trường hợp khác nhau mà lựa chọn loại hình cụ thể phù hợp thì sẽ làm tăng
hiệu quả của công việc quảng cáo, và đạt được ấn tượng tốt trong mỗi tâm trí khách
hàng về thương hiệu của doanh nghiệp.
Để loại hình quảng cáo này đạt hiệu quả và dễ quản lý cần thành lập các doanh nghiệp
chuyên chịu trách nhiệm về quảng cáo trên vé đóng vai trò trung gian, làm cầu nối
giữa doanh nghiệp với bên sở hữu diện tích quảng cáo(công ty xổ số, chủ bãi giữ xe,
chủ xe khách….)

- Giữ được lâu và có cơ hội để khách hàng đọc lại, đưa thông tin cho người khác.
- Phù hợp với những Doanh nghiệp mới, vừa và nhỏ.
Nhược điểm:
- Doanh nghiệp cần xác định đối tượng mục tiêu và độ bao phủ của quảng cáo.
- Phải kiểm soát được về mặt định lượng nếu không sẽ khó đánh giá được mặt hiệu
quả.
- Thông tin truyền tải cho người tiêu dùng bị hạn chế
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status