KINH TẾ LÂM NGHIỆP
ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: SỰ BIẾN ĐỔI TÀI NGUYÊN RỪNG NGẬP MẶN Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ ĐỊNH HƯỚNG BẢO
TỒN, PHÁT TRIỂN
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: NHÓM SV THỰC HIỆN:
TRẦN MINH TRÍ HOÀNG THỊ LOAN
NGUYỄN NỮ TÙNG NGÂN
HUẾ,04/2013
KINH TẾ LÂM NGHIỆP
MỤC LỤC
Trang
I- ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1) Tính cấp thiết của đề tài 1
2) Mục tiêu của đề tài 1
3) Phương pháp nghiên cứu của đề tài 1
II- NỘI DUNG 2
1. Tổng quan tài nguyên rừng ngập mặn đồng bằng Sông Cửu Long 2
2. Sự biến đổi tài nguyên rừng ngập mặn ở đồng bằng Sông Cửu Long 2
2.1- Sự biến đổi về diện tích 3
2.2- Sự biến đổi về chất lượng 4
3. Nguyên nhân làm suy thoái tài nguyên RNM ở ĐBSCL 5
3.1- Chiến tranh hóa học 5
3.2- Khai thác quá mức 5
3.3- Phá RNM làm đầm nuôi tôm quảng canh 7
4. Định hướng bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng ngập mặn 9
4.1- Định hướng về bảo vệ rừng 9
4.2- Định hướng phát triển rừng 10
4.2.1 Khoanh nuôi tái sinh rừng 10
1
KINH TẾ LÂM NGHIỆP
II- NỘI DUNG
1. Tổng quan tài nguyên rừng ngập mặn đồng bằng Sông Cửu
Long
ĐBSCL hiện có gần 100.000 ha rừng ngập mặn, tập trung ở các tỉnh
Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Kiên Giang, Long An
(Bảng 1)
Bảng 1: Diện tích RNM của các tỉnh ven biển ĐBSCL (năm 2002)
STT Tỉnh Diện tích RNM(ha) Tỉ lệ % so với cả nước
1 Long An 400 0,2
2 Tiền Giang 560 0,4
3 Bến Tre 7.135 4,6
4 Trà Vinh 8.582 5,5
5 Sóc Trăng 2.943 1,9
6 Bạc Liêu 4.142 2,7
7 Cà Mau 58.285 37,5
8 Kiên Giang 322 0,2
Tổng cộng 82.369 53
Hệ thực vật rừng ngập mặn vùng ĐBSCL có 98 loài cây rừng. Riêng
các hệ sinh thái đất ngập nước có 36 loài thú, 182 loài chim, 34 loài bò sát
và 6 loài lưỡng cư; vùng biển và ven biển có đến 260 loài cá và thuỷ sản.
ĐBSCL còn có 10 khu đất thuộc vùng bảo tồn đất ngập nước đã được
thành lập và đầu tư phát triển như: Hà Tiên, Vườn quốc gia Tràm Chim,
khu dự trữ thiên nhiên U Minh Thượng, Vườn quốc gia Đất Mũi, Rừng đặc
dụng Vồ Dơi, Bãi bồi Cà Mau, Tính Dơi, Trà Sư, Láng Sen và Lung Ngọc
Hoàng Ở đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã được đầu tư dự án trình diễn
Bảo tồn rạn san hô và thảm cỏ biển trong hợp phần của Dự án ngăn chặn
suy thoái biển Đông và vịnh Thái Lan do Ngân hàng Thế giới tài trợ.
2. Sự biến đổi tài nguyên rừng ngập mặn ở đồng bằng Sông Cửu
rừng ngap mặn ở ĐBSCL. Tình hình đó đòi hỏi phải có các giải pháp hữu
hiệu trong quy hoạch các khu bảo tồn đất ngập nước ven biển, trong tổ
chức khai thác kinh tế tài nguyên gắn liền với phát triển hệ sinh thái đặc thù
này để bảo vệ và phát triển bền vững khu vực ĐBSCL.
3
KINH TẾ LÂM NGHIỆP
2.2- Sự biến đổi về chất lượng
Chất lượng rừng ngập mặn ở Đồng bằng Sông Cửu Long cũng đang
suy giảm nghiêm trọng, thể hiện ở sự suy giảm diện tích RNM tự nhiên.
Trong 10 năm, diện tích RNM tự nhiên giảm tới 84.100 ha (từ 131.800 ha
vào năm 1993). Trong khi đó diện tích đất không trồng rừng tăng từ
346.800 ha lên 395.000 ha (Báo cáo thống kê năm 1984, 1994). Đến năm
2001, tình hình phân bố diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng tiếp tục có sự
thay đổi theo hướng giảm dần diện tích rừng tự nhiên, tăng diện tích rừng
trồng so với giai đoạn trước.
Bảng 2: Diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng của các tỉnh năm 2001
Tỉnh Rừng tự nhiên Rừng trồng Tổng
Bạc Liêu 2.231 1.809 4.040
Bến Tre 1.009 522 1.531
Cà Mau 5.063 7.828 12.891
Kiên Giang 5.639 8.976 14.615
Long An - 911 911
Sóc Trăng 1.639 2.680 4.306
Tiền Giang 368 2.800 3.168
Trà Vinh 1.794 2.525 4.319
Cộng 17.743 28.047 45.790
Nguồn: Viện điều tra quy hoạch
Đến năm 2001, diện tích rừng ngập mặn chỉ còn 17.743 ha, tức là
giảm tới 29.957 ha so với năm 1993. Như vậy, trong gần 20 năm diện tích
RNM biến mất lên tới 114.057 ha.
tôm quảng canh.
3.1- Chiến tranh hóa học
Quân đội Mỹ đã dùng bom đạn, chất diệt cỏ và chất làm rụng lá cây
với liều lượng cao để hủy diệt rừng, hòng phá vỡ các căn cứ kháng chiến
của ta ở Nam Bộ. Vì vậy, một diện tích lớn RNM Nam Bộ đã bị huỷ diệt,
kèm theo đó là tổn thất về tăng trưởng của cây do mất rừng trong thời gian
dài cho đến khi rừng khép tán và tỉa thưa (10÷12năm).
3.2- Khai thác quá mức
5
KINH TẾ LÂM NGHIỆP
Ở miền Nam sau chiến tranh, nhân dân ven biển trở về quê cũ cùng
với sự di cư ồ ạt từ nhiều nơi khác đến vùng RNM nên nhu cầu về xây
dựng, củi, than đun nấu tăng gấp bội, dẫn đến việc phá hủy các khu rừng
quí giá kể cả rừng mới trồng sau chiến tranh. Ở một số vùng khác do quản
lý kém nên rừng bị chặt phá, nhiều chỗ không còn vết tích hoặc chỉ còn
những cây nhỏ. Mặt khác, việc khai thác của ngành lâm nghiệp tăng hàng
năm trong lúc tài nguyên giảm sút, khiến cho rừng ngày càng kiệt quệ.
Chặt phá rừng để lấy củi, đốt than, lấy lá làm phân xanh, xây dựng các
đầm nuôi tạo môi trường ngập nước thường xuyên làm chết dần rừng ngập
mặn. Diện tích rừng ngập mặn tự nhiên chỉ còn 20-30% so với trước năm
1954. Trên các bãi triều lầy bị chặt phá rừng ngập mặn mất tán che, trầm
trích bị oxy hóa giải phóng các oxyt sắt Fe2O3 tạo thành lớp bề mặt rắn
chắc, mất hết độ lầy làm suy giảm trên 70% hệ động vật đáy. Nhiều loài
đặc sản bị biến mất và giảm dần trữ lượng.
Đánh bắt các đặc hải sản có giá trị như: khai thác quá mức ngán, sò
lông, sâu đất, cua, cá nhệch, cá bống, cá bớp, bạch tuộc vào các thời kì sinh
sản làm cạn dần các nguồn lợi này. Nhiều hải sản đang bị giảm mạnh về số
lượng và có nguy cơ diệt chủng như sò huyết, bạch tuộc, sò lông.
Ngoài việc đánh bắt quá mức các nguồn lợi hải sản và tùy vào thời kì
sinh sản, cư dân ven biển còn sử dụng phương thức đánh bắt có tính hủy
đến xã, một số đơn vị quân đội, công an cũng "tranh thủ" cơ hội biến những
diện tích rừng lớn hàng trăm ha ở các huyện Ngọc Hiển, Đầm Dơi, Cái
Nước (tỉnh Cà Mau) thành những nơi nhốt tôm, cứ 15 ngày lại tháo cống
bắt kiệt tôm cá trong đầm. Do không nắm được kỹ thuật, việc thay nước
triều khó khăn vì ít cống, nên môi trường thoái hoá, sản lượng giảm nhanh.
Sau 3 - 4 năm, nhiều đầm phải bỏ hoang. Những người nuôi tôm lại tìm
phá các rừng khác để làm đầm.
Gần đây, nhờ cải tiến kỹ thuật, sử dụng con giống tôm sú và thức ăn
nhân tạo nên năng suất tôm tăng nhanh; ở các đầm nuôi tôm bán thâm
canh, năng suất lên tới 2.500 kg - 3.000 kg/ha.năm; một số đầm thâm canh
7
KINH TẾ LÂM NGHIỆP
đạt 4.000 - 5.000kg/ha.năm, đem lại một lợi nhuận to lớn nên nhiều người
có tiềm lực kinh tế ở thành phố, thị xã đã tìm mọi cách để đấu thầu đất rừng
ngập mặn, thuê người địa phương trông coi đầm. Họ không trực tiếp đứng
tên làm chủ đầm nhưng lại hưởng lợi lớn. Nhờ họ, chính quyền địa phương
cũng có thêm kinh phí để cải tạo hạ tầng cơ sở, và một số cán bộ địa
phương cũng được hưởng lợi.
Còn rất nhiều dẫn chứng về các vụ phá rừng công khai hay vụng trộm
ở nhiều địa phương chỉ vì đồng tiền làm mù quáng lương tri con người đối
với thiên nhiên.
Nhiều người chưa hình dung được sự suy giảm rừng ngập mặn nghiêm
trọng đến mức nào. Bảng so sánh dưới đây cho thấy sự tương phản lớn.
Đối chiếu với tài liệu của Maurand (1943), ta thấy một sự giảm sút
đáng báo động về diện tích rừng trong 60 năm qua. Vào thời gian trước
Cách mạng tháng Tám năm 1945, cả nước có 408.500ha rừng ngập mặn
trong đó có 329.000ha ở Nam Bộ; Bến Tre có 48.000ha với độ che phủ
rừng là 21,75%, nay chỉ còn 1,64%; Trà Vinh có 65.000ha, độ che phủ
rừng 29,20%, nay còn 2,53%; Sóc Trăng có 41.000ha, độ che phủ 12,72%,
nay chỉ còn 2,81%; Cà Mau có 140.000ha, độ che phủ 27%, nay chỉ còn
vùng rừng ngập mặn.
+Tăng cường các hoạt động phù hợp nhằm nâng cao nhận thức về vai
trò, giá trị tài nguyên rừng ngập mặn và quản lý, sử dụng bền vững tài
nguyên rừng ngập mặn cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách chủ yếu
ở các địa phương có rừng ngập mặn.
+Đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ cập tới các tổ chức xã hội, cộng
đồng dân vùng rừng ngập mặn về vai trò và giá trị của tài nguyên rừng
ngập mặn và quản lý, sử dụng khôn khéo tài nguyên rừng ngập mặn.
-Xây dựng, hoàn thiện thể chế chính sách về quản lý tài nguyên rừng
ngập mặn và tăng cường vai trò quản lý cộng đồng với rừng ngập mặn.
Nâng cao năng lực quản lý rừng ngập mặn cho các cơ quan liên quan cấp
trung ương và địa phương.
+Củng cố và nâng cao hiệu lực hệ thống quản lý rừng ngập măn.
+Bổ sung chính sách về quản lý, sử dụng bền vững và có hiệu quả tài
nguyên rừng ngập mặn.
-Bảo vệ, củng cố và mở thêm các khu bảo tồn thiên nhiên.
+Rà soát, xây dựng hoàn chỉnh các quy hoạch sử dụng đất các tỉnh,
huyện cố rừng ngập mặn mang tính pháp lý, khoa học và thực tiễn.
+ Bảo vệ, khôi phục rừng ngập mặn và sử dụng bền vững tài nguyên
rừng ngập măn.
9
KINH TẾ LÂM NGHIỆP
+Củng cố và mở rộng thêm các khu bảo tồn thiên nhiên đã được phê
duyệt dựa trên các luận chứng kinh tế-kỹ thuật, dự án đầu tư phát triển và
gắn liền với việc nâng cao đời sống nhân dân và cộng đồng.
+Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ
thuật cho sản xuất.
+Mở rộng và tăng cường mối quan hệ hợp tác quốc tế trong nghiên
cứu, bảo vệ, phục hồi và sử dụng bền vững tài nguyên rừng ngập mặn.
4.2- Định hướng phát triển rừng
cây gỗ mọc nhanh có khả năng chịu mặn tốt. Trồng cây trên bờ bao có tác
dụng đối với đầm nuôi tôm như giảm cường độ thoát hơi nước, làm cho độ
mặn của nước không nên quá cao và góp phần tạo bóng mát cho tôm.
Đây là những mô hình cần được nhân rộng nhằm giải quyết tận gốc
quá trình sản xuất tự phát, phá vở cân bằng sinh thái của ngư dân sinh sống
ven biển hiện nay.
4.2.3 Thích nghi với biến đổi khí hậu
Để đưa ra các kế hoạch tăng cường khả năng chống chịu của RNM,
các hà quản lý cần xác định và bảo vệ những khu RNM có khả năng thích
ứng tốt với mục nước biển dân. Một khi đã xác định được những khu RNM
này, cần có các chiến lược có thể áp dụng để giúp tăn khả năng chống chịu
với biến đổi khí hậu bất lợi:
-áp dụng các chiến lược dàn trải rủi ro để bảo vệ tài nguyên RNM
- Xác định và bảo vệ những khu vực quan trọng, chiếm vị trí chiến
lược trong khi đối phó với biến đổi khí hậu.
-Kiểm soát những tác động của con người đối với RNM.
- Phục hồi những khu vực có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu
nhưng đã và đang bị suy thoái.
- Nắm được và bảo tồn mối lien kết giữa RNM và những nguồn nước
ngọt và trầm trích, giữa RNM và các tài nguyên liên quan.
11
KINH TẾ LÂM NGHIỆP
- Xây dựng quan hệ đối tác với các bên tham gia được tạo một nguồn
tài chính hỗ trợ cho việc đối phó với biến đổi khí hậu.
4.3- Các giải pháp khác
- Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu khoa học về hệ sinh thái RNM,
tăng cường mối quan hệ hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, phối hợp giữa
nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho sản xuất;
- Củng cố và hoàn thiện hệ thống Ban quản lý các vườn quốc gia, khu
bảo tồn thiên nhiên, khu rừng phòng hộ và đảm bảo hoạt động có hiệu quả;
rất lớn đối với kinh tế của địa phương trong việc phát triển các dịch vụ du
lịch sinh thái, giải trí, nghiên cứu và giáo dục. Đây mới chính là những vai
trò quan trọng có giá trị mang tính xã hội của tài nguyên rừng ngập mặn. Vì
vậy chúng ta cần phải tuyên truyền nâng cao ý thức cộng đồng trong việc
trồng, bảo vệ và phát triển để phục vụ lợi ích con người.
Do thời gian và trình độ có hạn, nên bài viết không tránh khỏi những
khiếm khuyết. Chúng em mong được sự góp ý của thầy để bài viết của
chúng em được hoàn thiện. Chúng em xin chân thành cám ơn.
IV- TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. tailieu.vn/Sự biến đổi tài nguyên rừng ngập mặn ở ĐBSCL và định
hướng bảo tồn, phát triển/Tạp chí khoa học, Đại học Huế, số 48,2008
2. http://luanvan.co/luan-van/anh-huong-bien-doi-khi-hau-rung-ngap-man-1234/ ,
chuyên đề “Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu rừng ngập mặn”, GVHD:
GS.TSKH Lê Huy Bá – Môi trường học cơ bản – NVB ĐHQG Tp. Hồ Chí
Minh, 2013
13
KINH TẾ LÂM NGHIỆP
3. http://lib.wru.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=286:gii-
thiu-cac-bai-bao-tp-chi-chuyen-nganh-thu-li&catid=15:bao-tp-chi&Itemid=196,
TS. Hồ Việt Hùng, Bộ môn Thủy lực, Đại học Thủy Lợi
4. http://www.mekongculture.com/?p=1042
5. http://vietnamnationalparks.com/show.aspx?cat=003002&nid=1252
6. http://www.cand.com.vn/vi-VN/xahoi/2012/7/177341.cand
7. http://www.thiennhien.net/2009/04/11/phat-trien-he-sinh-thai-rung-ngap-man-
dong-bang-song-cuu-long/
14