Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cơ kinh tế thị trường đã hình thành và tồn tại nhiều kiểu tổ chức kinh
doanh vận tải như: doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty cổ phần. Tuy nhiên, các doanh nghiệp, hợp tác xã vận tải
này có qui mô nhỏ, phát triển chưa bền vững. Đó cũng là một trong những
nguyên nhân làm cho ngành vận tải nội địa của Việt Nam còn mang tính
manh mún, nhỏ lẻ, tạo nên sự cạnh tranh không lành mạnh. Góp phần làm
cho tai nạn giao thông ngày một tăng, việc quản lý của ngành gặp khó khăn.
Đặc điểm địa lý của vùng đồng bằng sông Cửu Long, với hệ thống
kênh rạch dày đặc nên vận tải bằng đường thủy, đường bộ là một phù hợp tất
yếu. Mô hình hợp tác xã (HTX) vận tải thủy-bộ nội địa là một trong những
thành phần kinh tế quan trọng, là bộ phận hợp thành của ngành giao thông
vận tải của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Cho đến nay, mô hình này vẫn
đang hoạt động với qui mô nhỏ, thiếu bền vững, chưa khai thác hết lợi thế
các nguồn lực và chưa thực sự hiệu quả, trong khi nhu cầu vận tải của toàn
vùng là khá lớn. Chính vì vậy, cần thiết phải có nghiên cứu, đề xuất các giải
pháp, nhằm phát triển mô hình này trong giai đoạn tới.
Phát triển mô hình hợp tác xã vận tải thủy-bộ nội địa ở đồng bằng
sông Cửu Long cũng phù hợp với chủ trương của Đảng “Về tiếp tục đổi mới,
phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”(NQ ĐH XI) và Quyết định
số 11/2012/QĐ-TTg ngày 10/02/2012 của Thủ Tướng Chính phủ”Phê duyệt
qui hoạch phát triển giao thông vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông
Cửu Long đến năm 2020 và định hướng 2030”
1
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài: “Phát triển hợp tác xã vận tải
thủy- bộ nội địa ở đồng bằng sông Cửu Long” làm đề tài luận án tiến sĩ
kinh tế chuyên ngành Kinh tế chính trị của tôi.
2. Đối tượng nghiên cứu
Ở đồng bằng sông Cửu Long hiện đang tồn tại 178 hợp tác xã vận tải nội địa
(đến quí 1 năm 2013), các hợp tác xã vận tải tổ chức theo hình thức: Hợp tác
HTX vận tải thủy-bộ nội địa ở đồng bằng sông Cửu Long.
5. Câu hỏi nghiên cứu
Câu1.Tính khách quan về sự phát triển hợp tác xã vận tải thuỷ-bộ nội địa
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay ở nước ta?
Câu 2. Sự cần thiết phải phát triển hợp tác xã vận tải thuỷ-bộ nội địa ở
đồng bằng sông Cửu Long. Xu hướng phát triển trong giai đoạn tới như thế
nào?
Câu 3.Những giải pháp để phát triển hợp tác xã vận tải thuỷ-bộ nội địa ở
đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn tới như thế nào?
6. Giả thiết nghiên cứu
Giả thuyết 1. Phát triển hợp tác xã vận tải thuỷ-bộ nội địa ở nước ta nói
chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng là phù hợp giữa lý luận và
thực tiễn.
3
Giả thuyết 2. Qua thực trạng phát triển của hợp tác xã vận tải thủy-bộ nội
địa trong thời gian qua, đã tác động rất lớn đến sự tăng trưởng kinh tế - xã
hội của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Do vậy, cần phải phát triển mô
hình kinh tế này.
Giả thuyết 3. Cần phải có một số giải pháp, điều kiện cho mô hình hợp
tác xã vận tải thủy-bộ nội địa ở đồng bằng sông Cửu Long phát triển trong
giai đoạn tới.
6. Nhiệm vụ phải giải quyết
-Luận giải và nghiên cứu lý luận về phát triển hợp tác xã vận tải thuỷ-bộ
nội địa trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay ở nước ta và
xu hướng phát triển trong giai đoạn tới.
-Đánh giá thực trạng phát triển của các hợp tác xã vận tải thủy-bộ nội địa
trong thời gian qua đã tác động đến sự tăng trưởng kinh tế -xã hội của đồng
bằng sông Cửu Long và sự cần phải phát triển mô hình kinh tế này.
-Đề xuất những giải pháp cơ bản để phát triển mô hình hợp tác xã vận tải
thủy-bộ nội địa ở đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn tới.
nông thôn, kéo theo các ngành kinh tế khác phát triển. Chính vì vậy lấy mô
hình hợp tác xã vận tải thủy-bộ nội địa ở đồng bằng sông Cửu Long là trung
tâm nghiên cứu.
Hợp tác xã vận tải thủy-bộ nội địa ở đồng bằng sông Cửu Long chịu sự
chi phối của trình độ lực lượng lao động kinh doanh trong lĩnh vực vận tải
thủy- bộ nội địa. Chính sách phát triển các thành phần kinh tế của nhà nước
5
trong nền kinh tế thị trường. Trong đó nhu cầu vận tải (hàng hóa và hành
khách) và nhu cầu hợp tác của người hành nghề kinh doanh vận tải là động
lực phát triển.
Khi xem xét sự cần thiết phải phát triển hợp tác xã vận tải thủy-bộ nội
địa ở đồng bằng sông Cửu Long. Phải đặt trong tổng thể tác động đến phát
triển kinh tế-xã hội của vùng, với vị trí, vai trò như một thành phần kinh tế.
Khung phân tích của luận án
9. Những đóng góp của luận án
Qua kết quả nghiên cứu về phát triển hợp tác xã vận tải thủy-bộ nội địa ở
đồng bằng sông Cửu Long. Đề tài có thể có được một số đóng góp như sau:
6
Quan hệ sản
xuất
Quan hệ sở hữu
Quan hệ quản lý
Quan hệ phân phối
Môi trường chính sách
Luật Hợp tác
xã 2003
Chính sách hỗ
trợ hợp tác xã
hội
được kết cấu thành 4 chương
7
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Các công trình nghiên cứu về hợp tác xã trên thế giới
1.1.1. Một số công trình nghiên cứu của các tác giả
Đã có một số tác giả trong nước nghiên cứu về hợp tác xã trên thế giới mà
NCS tiếp cận:
(1)Tiến sĩ Đặng Kim Sơn- viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát
triển nông nghiệp và nông thôn, trong bài: “Kinh nghiệm phát triển hợp tác
xã ở Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản” [ 80]:Trong bài này tác giả đã có
những thành công là khái quát được toàn cảnh về hợp tác xã ở các nước:
Ở Đài Loan
Nông hội (được hiểu như là các hợp tác xã) được thành lập từ năm
1900, nhưng phải đến giữa thập kỷ 50, vai trò của tổ chức này trong nông
nghiệp mới được phát huy. Hiện có 04 tổ chức của nông dân là: Nông hội,
hợp tác xã cây ăn quả, hội thủy lợi và hội thủy sản, đây là những tổ chức
kinh tế hợp tác do người nông dân thành lập trên cở sở hoàn toàn tự nguyện.
Để làm dịch vụ phi nông nghiệp bao gồm: Cung cấp vật tư, tiêu thụ nông
sản.
Chức năng của các tổ chức này là giúp nông dân tăng sức mạnh cạnh
tranh trên thị trường thương mại, nông hội có vai trò:
-Là tổ chức của nông dân, nhằm bảo vệ quyền lợi và là đại biểu của
nông dân, thực hiện các dịch vụ hỗ trợ nông dân như: Khuyến nông, tín
dụng, bảo hiểm, thông tin, tiếp thị.
8
-Tự tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh gắn với sản xuất nông
nghiệp như: Tín dụng, bảo hiểm, khuyến nông, tiêu thụ sản phẩm.
-Góp phần giải quyết các vấn đề về lương thực, lao động dư thừa do
khu vực có hợp tác xã, nhưng họ không chính thức tham gia hợp tác xã. Hợp
tác xã ở có nhiệm vụ chủ yếu:
Thứ nhất, cung cấp cho nông dân các yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất
nông nghiệp như: Phân bón, hóa chất, thức ăn, trang thiết bị phục vụ cho sản
xuất và kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi gia súc.
Thứ hai, giúp cho người nông dân tiêu thụ được các sản phẩm: Bằng
cách thu gom, bảo quản, dự trữ và bán các sản phẩm nông nghiệp thông qua
mạng lưới tiêu thụ sản phẩm quốc gia và quốc tế.
Hợp tác xã hoạt động chủ yếu trong nông nghiệp, phục vụ sản xuất
nông nghiệp. Đây là hình thức hợp tác trong phân phối, chứ không hợp tác
trong sản xuất.
Hợp tác xã hoạt động đa chức năng trong kinh doanh, không giới hạn
về lĩnh vực hoạt động: Từ marketing, cung ứng vật tư, nhận tiền gửi và cho
vay, bảo hiểm, khuyến nông, hướng dẫn kinh doanh cho nông dân.
Ở Nhật Bản, các hợp tác xã có mặt ở hầu hết các thành phố, làng mạc,
thị trấn trong cả nước.
10
(2) Tác giả Hồng Vân với bài: “Mô hình kinh tế hợp tác xã của một số nước
Châu Á”, đã khái quát về sự phát triển hợp tác xã ở Ấn Độ và Malaixia [92]:
Ở Ấn Độ
Tổ chức hợp tác xã ở Ấn Độ ra đời từ lâu và chiếm vị trí quan trọng
trong nền kinh tế của nước này. Hợp tác xã có cơ sở hạ tầng rộng lớn, hoạt
động trong các lĩnh vực: Tín dụng, chế biến nông sản, hàng tiêu dùng, hàng
thủ công mỹ nghệ và xây dựng nhà ở.
Tổng số vốn hoạt động của các hợp tác xã khoảng 18,33 tỷ USD.
Trong đó: Hoạt động tín dụng nông nghiệp chiếm 43% tổng số tín dụng cả
nước, sản xuất đường cung cấp 62,4% sản lượng đường của cả nước, sản
xuất phân bón chiếm 34% tổng sản lượng phân bón của cả nước.
Liên hiệp hợp tác xã sản xuất sữa Amul ở bang Gujaza, là đơn vị sản
xuất sữa lớn nhất của Ấn Độ, hiện Liên hiệp này có gần 2 triệu cổ phần, mỗi
Hiện nay, ở Cộng Hòa Liên Bang Đức vẫn còn tồn tại một hệ thống hợp
tác xã phát triển vững mạnh, chủ yếu ở khu vực nông nghiệp nông thôn với
5.324 hợp tác xã. Trong đó: Có 127 hợp tác xã vận tải, các hợp tác xã vận tải
hoạt động ở lĩnh vực vận tải đường sông, đường biển và đường bộ, với sự
tham gia của 30.000 thành viên.
Luật hợp tác xã của Cộng Hòa Liên Bang Đức được ban hành từ năm
1890, theo đó, các hợp tác xã được đối xử hoàn toàn bình đẳng như các
doanh nghiệp. Các nguyên tắc cơ bản của hợp tác xã ở Đức là: Tự nguyện,
công khai, tự giúp đỡ nhau, tự quản lý, tự chịu trách nhiệm.
12
Các hợp tác xã có thể vay vốn từ các ngân hàng thương mại mà không
nhất thiết phải có đủ tài sản thế chấp. Hoạt động quản trị, điều hành trong các
hợp tác xã rất minh bạch, hiệu quả, hàng năm đều được kiểm toán định kỳ do
Hiệp hội hợp tác xã thực hiện.
Ở ThaiLan, năm 2001 cả nước có 5.611 hợp tác xã, hơn 8 triệu xã
viên. Trong đó: Có 3.370 hợp tác xã nông nghiệp, hơn 4 triệu xã viên, 100
hợp tác xã đất đai, hơn 147 nghìn xã viên, 76 hợp tác xã thủy sản, hơn 13
nghìn xã viên, 1.296 hợp tác xã tín dụng, hơn 2 triệu xã viên và 400 hợp tác
xã dịch vụ với hơn 146 nghìn xã viên, 25 hợp tác xã vận tải tắcxi, nắm 75%
xe tắcxi trong thành phố Bangkot.
Hợp tác xã phát triển mạnh nhất ở ThaiLan là hợp tác xã tín dụng và
hợp tác xã nông nghiệp.
Quyền lợi của xã viên khi tham gia vào hợp tác xã cũng rất rõ ràng. Xã
viên được hưởng các dịch vụ của hợp tác xã, chia thưởng, chia lãi từ cổ
phần, khi ốm đau phải đi bệnh viện hợp tác xã sẽ thanh toán 100% viện phí.
Hợp tác xã còn xây dựng một quĩ hỗ trợ giáo dục, để cấp cho con xã viên
trong độ tuổi đi học, đặc biệt là những xã viên có hoàn cảnh khó khăn.
(4)Tiến sĩ Đào Xuân Cần, chủ tịch Liên minh hợp tác xã Việt Nam
(chủ biên), trong cuốn: “Phong trào hợp tác xã một số nước trên thế giới và
Việt Nam”[56], tác giả đã biên dịch và biên soạn, giới thiệu sơ lược về phong
luôn thích ứng với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Hợp tác xã giữ vai trò quan trọng trong phát kinh tế, cho dù là những nước
công nghiệp.
14
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế của những thành viên tham gia trên tinh
thần hoàn toàn tự nguyện. Với phương châm “tương trợ cùng phát triển”,
Chính phủ các nước coi tổ chức hợp tác xã là “cầu nối” giữa chính phủ và
nông dân. Thông qua hợp tác xã, các chính sách của Chính phủ được chuyển
tới người nông dân và cũng thông qua nông dân. Chính phủ hiểu được những
nguyện vọng, ý kiến của nông dân đối với chính sách của Chính phủ.
Chính phủ các nước đã khuyến khích và tạo khung pháp lý cho hợp
tác xã mở rộng qui mô và ngành nghề kinh doanh. Các hợp tác xã được hoạt
động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, nơi mà kinh tế công chưa vươn
tới được hoặc có tham gia. Nhưng kinh tế hợp tác có nhiều lợi thế hơn, hiệu
quả kinh tế - xã hội cao hơn so với kinh tế công.
Thông qua hợp tác xã, Chính phủ các nước đã giải quyết được nạn
nghèo đói ở nông thôn, đi cùng với xây dựng nông thôn văn minh hiện đại,
thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa nông thôn của đất nước.
Các nước đều áp dụng một cách linh hoạt hiệu quả kinh tế tăng qui mô
trong hoạt động của các hợp tác xã. Gắn quyền lợi của xã viên với quyền lợi
của hợp tác xã, đa dạng hóa và mở rộng nhiều chức năng hoạt động. Hợp tác
xã kết hợp giữa nghiên cứu với thực hiện khuyến nông, đào tạo tay nghề cho
xã viên và cán bộ quản lý hợp tác xã, bằng cách mở trường đại học, viện đào
tạo.
1.1.2.2. Vấn đề các tác giả chưa đề cập tới
Mới đề cập đến hợp tác xã nông nghiệp, chưa đề cập nhiều đến hợp
tác xã vận tải. Tuy chỉ có phóng viên P.A đã đề cập đến hợp tác xã vận tải ở
Cộng Hòa Liên Bang Đức và Thailan, nhưng cũng chỉ nêu nên ngành nghề
kinh doanh, lĩnh vực hoạt động. Chưa nói đến phương thức hoạt động, qui
mô và kết quả kinh doanh của hợp tác xã vận tải.
bốc xếp, rút ngắn thời gian tàu nằm ở bến. Các cảng đã vươn lên thực hiện
dịch vụ giao nhận, gửi hàng và tham gia vào đại lý phân phối.
Cảng đường thủy nội địa đã trở thành đầu mối giao lưu kinh tế-thị
trường vận tải sắt-thủy-bộ. Với tiềm năng phát triển giao thông thủy nội địa.
Đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long, nếu kết hợp vận tải đa phương
thức thì sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao.
(2)Ông Trần Đỗ Liêm chủ nhiệm hợp tác xã vận tải Rạch Gầm, có bài: “Vận
tải thủy ngoài quốc doanh thời đổi mới” [70], với một người trực tiếp làm
công việc quản lý hợp tác xã nhiều năm, ông cho rằng:
Trong thời kỳ đổi mới từ cơ chế kinh tế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị
trường. Nhà nước đã khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư kinh doanh
trong lĩnh vực vận tải. Làm cho tốc độ phát triển các loại hình kinh doanh
vận tải nhanh hơn, hiệu quả kinh tế cao hơn. Thực tế trong những năm qua,
đã cho thấy nghề kinh doanh vận tải thủy nội địa ngoài quốc doanh đã chiếm
ưu thế, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Bởi nó có những ưu thế tập trung ở
mấy điểm sau:
Thứ nhất, theo số liệu thống kê hàng năm thì: Vận tải cá thể, tư nhân,
tập thể đang chiếm ưu thế trong chuyên trở cả hàng hóa và hành khách. Tuy
nhiên, vận tải cá thể, tư nhân đang chiếm áp đảo thị trường vận tải. Đây là
một phương thức kinh doanh nhỏ lẻ, manh mún, thiếu tính chuyên nghiệp.
Chính quyền các địa phương cần phải vận động, thuyết phụ những cá nhân,
hộ gia đình này vào sản xuất kinh doanh tập trung theo mô hình hợp tác xã là
phù hợp.
17
Thứ hai, hợp tác xã thủy-bộ nội địa sẽ huy động được nguồn vốn dự
trữ từ trong dân đưa vào sản xuất kinh doanh. Hình thức góp cổ phần bằng
phương tiện vận tải của từng cá nhân để trở thành cổ đông của hợp tác xã đã
được người dân chấp nhận. Nhờ vậy, vốn của hợp tác xã ngày một tăng.
Thứ ba, hợp tác xã vận tải thủy nội địa, là mô hình tổ chức kinh doanh
vận tải phù hợp với điều kiện tự nhiên và trình độ tay nghề, tập quán của con
Xã viên chưa thật sự gắn bó với hợp tác xã, thu nhập của nhân viên
trong hợp tác xã còn thấp. Đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã chưa chuyên
nghiệp, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn còn thấp. Nhiều hợp tác xã
phát triển chưa bền vững, luôn có nguy cơ phá sản bất cứ lúc nào khi kinh tế-
xã hội có biến động mạnh.
1.2.2. Nhận định của nghiên cứu sinh
1.2.2.1. Những vấn đề đã được đề cập
Các tác giả đều cho rằng việc tồn tại và phát triển mô hình hợp tác xã
vận tải là khách quan, phù hợp với nguyện vọng của những người sản xuất
kinh doanh vận tải. Đồng thời cũng phù hợp với điều kiện tự nhiên, trình độ
của lượng lực sản xuất của ngành Giao thông vận tải.
Tổ chức theo mô hình hợp tác xã có đủ điều kiện về mặt pháp lý, huy
động được những người kinh doanh nhỏ vào làm ăn theo qui mô lớn. Vai trò
của hợp tác xã vận tải trong xã hội là rất quan trọng. Bởi thông qua hợp tác
19
xã, góp phần giải quyết được các chính sách như: Xóa đói, giảm nghèo, tạo
việc làm cho người lao động, xây dựng nông thôn mới.
Về kinh tế, mô hình hợp tác xã vận tải, kinh doanh có hiệu quả hơn
các mô hình tổ chức khác (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,
doanh nghiệp tư nhân) do khai thác được công suất của phương tiện và người
kinh doanh. Ở đây quyền sở hữu gắn liền với quyền quản lý và sử dụng, nên
họ ý thức được việc bảo quản, khai thác phương tiện một cách hiệu quả nhất.
Về tổ chức, hợp tác xã là kiểu tổ chức phù hợp với nền kinh tế còn
nhiều thành phần, khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn vẫn
còn. Với bộ máy gọn nhẹ, tiết kiệm được chi phí hành chính, phát huy được
tính dân chủ, nêu cao được trách nhiệm của các cá nhân trong tổ chức. Có
điều kiện để phát triển theo qui mô lớn.
Về công tác quản lý ngành, thông qua hợp tác xã, các cơ quan quản lý
chuyên ngành (Cảnh sát giao thông, Quản lý thị trường, Thanh tra giao
thông, Phòng quản lý phương tiện và người lái…) sẽ thuận tiện hơn trong
thủy-bộ nội địa ở đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới.
21
Chương 2
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ VẬN
TẢI THỦY-BỘ NỘI ĐỊA
2.1. Một số khái niệm
2.1.1. Khái niệm hợp tác xã
Phong trào hợp tác xã (HTX) khởi đầu vào ngày 24 tháng 10 năm 1844
khi 28 thợ dệt ở Rochedale tại Anh Quốc đăng ký mở một cửa tiệm bán
những sản phẩm với giá phải chăng và có phẩm lượng tốt, được xem như là
mô hình hợp tác xã đầu tiên trên thế giới. Họ đặt tên xí nghiệp đó là
Rochedale Society of Equitable Pioneers (tạm dịch: Liên minh Những Người
Tiên phong Công bằng ở Rochedale) và đặt ra những qui định điều hành xí
nghiệp mà sau này gọi là”Những qui tắc Rochedale” (Rochedale Principles).
Phong trào này được lan rộng sang các nước khác ở Châu Âu như: Đức,
Pháp, Nga…Đến đầu thế kỷ thứ XX, phong trào hợp tác xã đã lan rộng và
phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng nên đã xuất hiện các nhu cầu
về hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm giữa các quốc gia. Xuất phát từ tình hình
thực tế đó, năm 1889, ông VansitartWil-Tổng thư ký Liên hiệp hợp tác xã
Anh đã đứng ra thành lập Ủy ban trù bị thành lập Liên minh hợp tác xã quốc
tế. Ngày 19 tháng 8 năm 1895, 207 đại biểu từ nhiều nước đã họp tại Luân
Đôn(Anh) và nhất trí thành lập Liên minh hợp tác xã Quốc tế, tên tiếng Anh
International Cooperative Alliance, viết tắt (ICA).
Đến năm 1995, ICA đưa ra Bản tuyên bố về các đặc trưng của hợp tác
xã (statement of co-operativeidentity). Bản tuyên bố này được hình thành từ
ba yếu tố: Định nghĩa, giá trị và nguyên tắc của hợp tác xã, như ba trụ cột
chính để làm sáng tỏ mô hình hợp tác xã. Đây cũng là lần đầu tiên, khái niệm
về hợp tác xã được chính thức công bố coi như là tiêu chuẩn để phân biệt
22
hợp tác xã với các loại hình tổ chức khác đã được công bố và chấp thuận
của pháp luật (điều1 Luật HTX 2003) [33].
Theo định nghĩa này hợp tác xã được hiểu là:
-Tổ chức kinh tế tập thể do xã viên lập ra theo qui định của pháp luật,
trên tinh thần tự nguyện của xã viên.
-Hoạt động như một loại hình doanh nghiệp
-Có tư cách pháp nhân
-Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về vốn và kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình.
-Nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần của xã viên, góp phần phát
triển kinh tế-xã hội đất nước.
Năm 2012, Luật Hợp tác xã 2003 được sửa đổi thành Luật HTX 2013,
có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2013, định nghĩa hợp tác xã như sau: ”
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do
ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau
trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu
chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và
dân chủ trong quản lý hợp tác xã”(điều 3 Luật HTX 2013) [34]
Với Luật HTX mới, định nghĩa hợp tác xã có khác nội dung so với Luật
Hợp tác xã cũ ở mấy điểm sau:
24
-Do ích nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập
- Không hoạt động như một doanh nghiệp
Như vậy, theo Luật này, thì hợp tác xã có thể được thành lập và hoạt động
trong rất nhiều lĩnh vực, nhiều ngành của nền kinh tế, nhưng không được coi
như một loại hình doanh nghiệp.
2.1.2. Khái niệm hợp tác xã vận tải
Căn cứ vào Luật Hợp tác xã 2013, kết hợp với đặc thù của ngành vận
tải, có thể khái niệm HTX vận tải như sau” Hợp tác xã vận tải là tổ chức
kinh tế tập thể có tư cách pháp nhân của những người lao động hành nghề
kinh doanh vận tải, có nhu cầu và lợi ích chung, tự nguyện góp vốn (bằng