Những biện pháp cải tiến công tác tổ chức
tuyển chọn và bồi dưỡng nhằm nâng cao chất
lượng lực lượng giảng viên trẻ tại Viện Đại học
Mở Hà Nội
Vũ Thị Tài
Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Quản lý giáo dục; Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn: PGS.TS. Đặng Bá Lãm
Năm bảo vệ: 2009 Abstract: Trình bày cơ sở lý luận về công tác tổ chức tuyển chọn và bồi dưỡng lực lượng
giảng viên trẻ của Viện Đại học Mở. Giới thiệu về Viện Đại học Mở Hà Nội: đội ngũ
giảng viên và lực lượng giảng viên trẻ của Viện; Công tác tuyển chọn giảng viên ở Viện;
Tổ chức công tác bồi dưỡng giảng viên trẻ; Đánh giá chung về công tác tuyển chọn và
bồi dướng giảng viên. Đề xuất các biện pháp: xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển đội
ngũ giảng viên, lực lượng giảng viên trẻ; Thực hiện tốt quy trình tuyển chọn và bồi
dưỡng giảng viên trẻ; Nâng cao chất lượng đào tạo, đào tạo liên kết hợp với tự bồi dưỡng,
tự rèn luyện của lực lượng giảng viên trẻ; Phát huy vai trò của các cấp ủy, các phòng ban
chức năng; Nâng cao trách nhiệm và tính chủ động của các Khoa, Trung tâm; Xây dựng
môi trường xã hội thuận lợi để phát huy năng lực sáng tạo của lực lượng giảng viên trẻ.
Có những chính sách quản lý, sử dụng, đãi ngộ phù hợp nhằm nâng cao chất lượng công
tác tổ chức tuyển chọn và bồi dưỡng lực lượng giảng viên trẻ ở Viện Đại học Mở Hà Nội
Keywords: Giảng viên; Quản lý giáo dục; Viện Đại học Mở; Hà Nội
đến 10 năm. Việc tuyển chọn và bồi dưỡng lực lượng giảng viên trẻ là hết sức quan trọng.
Ra đời chưa lâu(1993), Viện Đại học Mở Hà Nội là một trong những trường Đại học
Mở công lập đầu tiên ở nước ta. Đội ngũ giảng viên phần lớn là những giảng viên thỉnh
giảng. Đội ngũ giảng viên cơ hữu của Viện còn nhiều hạn chế trong việc đáp ứng nhiệm vụ
đào tạo của nhà trường. Do đó việc xây dựng được một đội ngũ giảng viên cơ hữu trong toàn
Viện đáp ứng được nhu cầu và nhiệm vụ đào tạo là rất cần thiết. Tuy nhiên, cho đến những
năm gần đây, việc tuyển chọn và bồi dưỡng giảng viên trẻ ở các Khoa trong Viện chưa
thống nhất với nhau, hơn nữa quy trình tuyển chọn, bồi dưỡng và phát triển lực lượng giảng
viên trẻ chưa được nghiên cứu, đánh giá và phổ biến để sử dụng một cách thống nhất trong
toàn Viện. Chính vì vậy, việc tìm ra các biện pháp cải tiến công tác tuyển chọn và bồi dưỡng
lực lượng giảng viên trẻ tại Viện Đại học Mở là một nhiệm vụ cấp thiết đối với nhà trường
trong giai đoạn hiện nay. Với những lý do đó, tôi chọn đề tài “Những biện pháp cải tiến công tác tổ chức tuyển chọn và bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng lực lượng giảng
viên trẻ tại Viện Đại học Mở Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định những biện pháp để nâng cao chất lượng tuyển chọn và tổ chức bồi dưỡng lực
lượng giảng viên trẻ từ khi tốt nghiệp đại học đến khi đảm nhận độc lập nhiệm vụ giảng dạy và
nghiên cứu trong nhà trường.
3. Phạm vi nghiên cứu
Công tác tuyển chọn và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở các Khoa, Trung tâm thuộc Viện
Đại học Mở Hà Nội.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
- Khảo sát thực trạng việc tuyển chọn và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên của Viện Đại học
Mở Hà Nội.
- Đề xuất các biện pháp cải tiến công tác tuyển chọn và bồi dưỡng nhằm nâng cao chất
lượng lực lượng giảng viên trẻ của Viện Đại học Mở Hà Nội. Thăm dò tính cần thiết và tính khả
thi của các biện pháp đó.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC TUYỂN CHỌN VÀ BỒI DƢỠNG LỰC
LƢỢNG GIẢNG VIÊN TRẺ CỦA TRƢỜNG ĐẠI HỌC MỞ
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Giảng viên, giảng viên trẻ
1.1.1.1. Giảng viên
Định nghĩa giảng viên được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau.
Theo Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 14/06/2005 thì "Nhà giáo là người làm
nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo
dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên, ở cơ sở giáo dục Đại học gọi
là giảng viên" [21].
Nhìn từ góc độ công chức nhà nước, đối với các trường công lập, giảng viên là viên chức
chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành
đào tạo của trường đại học và cao đẳng [22].
Vậy giảng viên là nhà giáo ở các cơ sở giáo dục đại học và sau đại học.
Theo Điều 70 – Luật Giáo dục năm 2005, nhà giáo (giảng viên) phải có những tiêu chuẩn
sau đây:
- Phẩm chất, đạo đức tư tưởng tốt.
- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ.
- Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp. - Lý lịch bản thân rõ ràng.
Luật Giáo dục cũng đã quy định đầy đủ quyền hạn của giảng viên.
Các yêu cầu đối với giảng viên
Các yêu cầu đối với giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp.
1.1.1.2. Giảng viên trẻ
Lực lượng giảng viên có thể chia theo độ tuổi: dưới 30 tuổi; từ 30 đến dưới 50 tuổi; từ 50
đến 60 tuổi; trên 60 tuổi. Giảng viên trẻ là những giảng viên ở độ tuổi dưới 30 tuổi, có trình độ
từ cao đẳng đến tiến sỹ khoa học, được bổ nhiệm làm giảng viên giảng dạy ở các trường đại học
và cao đẳng theo hệ thống chức danh của Bộ Giáo dục và Đào tạo; là lực lượng kế cận giữ vai
cách hiểu của người này khác người kia. Chất lượng là một khái niệm động, nhiều chiều, có hàng
loạt định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào các cách tiếp cận khác nhau.
Khái niệm truyền thống về chất lượng: Chất lượng là sự xuất sắc bẩm sinh, tự nó là cái
tốt nhất.
Chất lượng là sự phù hợp với tiêu chuẩn (thông số kỹ thuật).
Chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng.
Chất lượng là sự trùng khớp với mục tiêu (INQAAHE – International Network of Quality
Assurance of Higher Education).
Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng đó khả năng thỏa
mãn nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn (TCVN ISO 1994).
1.1.4.2. Chất lượng bồi dưỡng
Xét theo cách tiếp cận chất lượng bồi dưỡng là mức độ đạt mục tiêu bồi dưỡng, trong giáo
dục cần phải cân đối giữa khả năng được trang bị theo môn học và khả năng dạy học của người
giảng viên nghĩa là phải quan tâm đến cả nội dung và phương pháp. Một trong những chức năng
chính của công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, dù là đào tạo ban đầu hay bồi dưỡng thường
xuyên là phát triển những phẩm chất có tính chuẩn mực đạo đức, trí tuệ, tâm hồn cần thiết mà xã
hội đòi hỏi, nhằm giúp họ có thể nuôi dưỡng ở những sinh viên sau này những phẩm chất như
vậy.
1.2. Vai trò giảng viên và giảng viên đại học mở
1.2.1. Cách tổ chức đại học mở
Cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại và bước nhảy vọt
của nền kinh tế thế giới, nền giáo dục ở nhiều quốc gia đứng trước những thách thức và nhiều áp
lực lớn.
Thứ nhất: Về nguồn nhân lực được đào tạo. Sự cất cánh của nền kinh tế cùng với vai trò
ngày càng tăng của khoa học và công nghệ trong phát triển kinh tế tạo nên nhu cầu lớn về quy
mô và chất lượng của nguồn nhân lực, vượt xa giai đoạn trước đó. Thứ hai: Nhu cầu được học tập, được đào tạo và đào tạo lại của đông đảo nhân dân. Kinh
1.2.2. Vai trò giảng viên và giảng viên đại học mở Theo các văn bản quy phạm pháp luật, vai trò và nhiệm vụ của giảng viên được xem xét trên
hai phương diện.
Giảng viên, với tƣ cách là một bộ phận của những nhà giáo phải thực hiện những
nhiệm vụ được quy định cho nhà giáo nói chung. Theo Điều 72 Luật Giáo dục 2005, nhà giáo có
những nhịêm vụ sau đây:
- Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và có chất lượng
chương trình giáo dục;
- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà
trường;
- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, đối xử
công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học;
- Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn,
nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học;
- Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật;
Giảng viên với tƣ cách là ngƣời làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong các cơ sở giáo
dục Đại học - một loại hình cơ sở giáo dục đặc biệt có những nhiệm vụ riêng được quy định
trong tiêu chuẩn ngạch giảng viên.
Giảng viên đại học mở là những cán bộ làm nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại
các khoa, trung tâm của nhà trường. Giống như giảng viên của các trường đại học khác, người
giảng viên đại học mở cũng có những vai trò quan trọng trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học
cũng như thực hiện các nhiệm vụ khác của nhà trường. Bên cạnh đó, do đặc thù đào tạo của các
trường đại học mở, nên các giảng viên còn có những đặc thù riêng trong công tác.
1.2.3. Tuyển chọn và bồi dưỡng giảng viên của trường đại học mở
Trong những năm đầu thành lập nhà trường hầu như chỉ đủ điều kiện để tuyển chọn đủ đội
ngũ cán bộ quản lý và cán bộ hành chính cốt yếu và với một số lượng giảng viên cơ hữu rất
khiêm tốn chịu trách nhiệm giảng dạy một số lượng giờ giảng rất thấp. Số giờ giảng còn lại chủ
yếu là phải nhờ đến đội ngũ GVTG, ngoài ra là phân công cho các đồng chí cán bộ quản lý tham
Viện Đại học Mở Hà Nội tiền thân là Viện Đào tạo Mở rộng I (được thành lập theo QĐ
2236/TCCB ngày 17/2/1990 của Bộ Giáo dục&Đào tạo). Ngay từ những năm 1960, ở nước ta,
hệ đào tạo tại chức đã được tổ chức, nhưng các đối tượng trong diện đi học chủ yếu là các cán bộ
nhân viên nhà nước và quân đội. Do đó cần phải có một hệ đào tạo mới với phương pháp và hình
thức giáo dục mới để đáp ứng được nhu cầu học tập của đông đảo các tầng lớp xã hội ở khắp các
vùng, miền trong cả nước. Qua bước đầu thử nghiệm mô hình của Viện Đào tạo Mở rộng, đến
năm 1993 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định chính thức thành lập Viện Đại học Mở Hà Nội. Từ đó, mô hình "giáo dục mở" được chính thức áp dụng và Viện Đại học Mở Hà Nội trở thành
trường Đại học Mở công lập đầu tiên ở nước ta.
Qua 15 năm xây dựng và phát triển (1993-2008), Viện Đại học Mở Hà Nội đã đạt được
một số thành tựu nhất định và đang đi đúng hướng nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ và sứ
mạng của mình.
2.1.2. Tổ chức - bộ máy
Viện Đại học Mở Hà Nội tổ chức hoạt động trong hệ thống các trường đại học quốc gia
do Bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý và được hưởng mọi quy chế của một trường đại học
công lập. Mô hình của Viện Đại học Mở Hà Nội có nhiều điểm khác so với mô hình các trường
đại học truyền thống.
Về chức năng: Viện Đại học Mở Hà Nội có chức năng thay thế, tiếp nối, bổ sung và hoàn
thiện các chương trình đào tạo tại các trường đại học truyền thống và tạo cơ hội cho mọi người (đặc
biệt là những người vừa học vừa làm) có thể tìm thấy một chương trình giáo dục và một hình thức
học tập phù hợp với khả năng, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân nhằm cải thiện chất lượng cuộc
sống, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp.
Về tính chất: Viện Đại học Mở Hà Nội khác các trường đại học truyền thống ở thuật ngữ
“Mở”: Mở về đối tượng – nhằm tạo cơ hội học tập cho nhiều người, đặc biệt là những người ngoài
độ tuổi đến trường quy định, những người nghèo bị thiệt thòi hoặc cư trú ở những vừng sâu, vùng
xa,… Mở về mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục và áp dụng quy trình đào tạo theo tín
chỉ - Mục tiêu của trường là nâng cao dân trí và góp phần đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực
lao động - Nội dung chương trình phong phú, đa cấp, đa lĩnh vực phù hợp với nhu cầu xã hội.
đội ngũ giảng viên giảng dạy cho đào tạo tại chỗ của Viện Đại học Mở Hà Nội.
2.2.2. Chất lượng giảng viên
Trình độ chuyên môn
Phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức
Năng lực sư phạm
2.2.3. Chất lượng bồi dưỡng giảng viên
Thứ nhất, nhận thức, trách nhiệm và trình độ, năng lực của các cấp uỷ đảng, cơ quan
chức năng đối với công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở các khoa, trung tâm trong Viện Đại
học Mở Hà Nội.
Thứ hai, nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành trong quá trình bồi dưỡng đội ngũ
giảng viên ở các khoa, trung tâm trong Viện Đại học Mở Hà Nội
Thứ ba, sự chuyển biến tiến bộ về phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác
và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ giảng viên ở các khoa, trung tâm trong Viện Đại học
Mở Hà Nội
2.2.4. Cơ cấu giảng viên
2.3. Công tác tuyển chọn giảng viên ở Viện Đại học Mở Hà Nội
2.3.1. Nguồn tuyển chọn Các nguồn tuyển dụng chính của nhà trường là:
Thứ nhất là từ nguồn sinh viên tốt nghiệp tại Viện Đại học Mở Hà Nội với hạnh kiểm tốt
và học lực khá trở lên.
Thứ hai là nguồn từ bên ngoài, bất kỳ ai có đủ điều kiện theo yêu cầu của trường đề ra đều
có thể nộp đơn xin dự tuyển.
2.3.2. Tiêu chuẩn tuyển chọn
Từ tháng 6/2008, Viện thống nhất việc tuyển chọn giảng viên cũng như cán bộ, chuyên
viên trong toàn Viện và đưa ra các tiêu chuẩn chung để tuyển chọn giảng viên. Tuy nhiên khi có
yêu cầu tuyển dụng thì ngoài các tiêu chuẩn do Viện đưa ra từng khoa còn đưa thêm một số tiêu
chuẩn sao cho phù hợp với yêu cầu cũng như đặc thù riêng của khoa.
2.3.3. Quy trình tuyển chọn
thức mới về khoa học, học tập các phương pháp giảng dạy hiện đại, tiên tiến, nâng cao tầm nhìn
cho giảng viên cả về thực tế lẫn lý thuyết của chuyên môn giảng dạy.
- Về tư tưởng, tình cảm của giảng viên với công việc giảng dạy: Nâng cao phẩm chất
đạo đức người giảng viên, tinh thần trách nhiệm với công việc và tính chuyên nghiệp khi
hoạt động chuyên môn.
- Về xu hướng phát triển của đội ngũ giảng viên trong thời đại mới: Toàn cầu hoá, vươn
tới tầm khu vực và thế giới về đào tạo, tạo khát vọng vươn lên để nâng cao trình độ của bản thân,
hướng tới các chuẩn mực quốc tế.
2.5.2. Đánh giá về chất lượng công tác tuyển chọn giảng viên
Trong những năm qua, Viện Đại học Mở Hà Nội đã thực hiện tốt các quy định và quy
trình tuyển chọn nên công tác tuyển chọn đã thực sự đi vào nề nếp, chất lượng tuyển chọn không
ngừng được nâng lên. Qua đó, giúp cho các đơn vị khoa, phòng, và nhà trường thực sự chủ động
trong kế hoạch tuyển dụng giảng viên và nhân viên phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng
đơn vị. Nhờ thực hiện đúng quy trình với các tiêu chí tuyển chọn rõ ràng minh bạch đã giúp cho
trường tuyển chọn được những giảng viên và nhân viên có chất lượng cao bổ sung cho đội ngũ.
Việc tuyển chọn, phát triển đội ngũ giảng viên của Viện trong những năm qua đã được
quan tâm thực hiện thường xuyên, tuy nhiên mới chỉ là đáp ứng nhu cầu hiện tại của các khoa,
bộ môn và của toàn Viện, chưa có tính chiến lược lâu dài, thể hiện ở chỗ chưa có kế hoạch dài
hơi cho 5 năm, 10 năm sau, chưa thành một quy trình cụ thể, tiêu chí tuyển chọn cũng chưa được
nêu lên thành quy định chính thức có tính chất bắt buộc và thống nhất trong toàn Viện đối với
từng loại nguồn tuyển.
2.5.3. Đánh giá về chất lượng công tác bồi dưỡng giảng viên, giảng viên trẻ
Những ưu điểm cơ bản:
Một là, cấp uỷ Đảng, các cơ quan chức năng đã nhận thức tương đối đầy đủ yêu cầu khách
quan phải bồi dưỡng đội ngũ giảng viên của Viện, chủ động có những chủ trương, biện pháp bồi
dưỡng đội ngũ giảng viên tương đối toàn diện. Hai là, nội dung, hình thức bồi dưỡng luôn có sự đổi mới, nhiều phương pháp bồi dưỡng
được vận dụng linh hoạt, phù hợp với đặc điểm, điều kiện của Viện, vào từng thời kỳ nhất định.
học công lập truyền thống khác Viện Đại học Mở Hà Nội đã khẳng định việc xây dựng thành công mô hình trường đại học công lập trên cơ sở xã hội hoá giáo dục về cơ bản, kiên trì thực
hiện nhiệm vụ chính trị là mở rộng cơ hội học tập cho nhiều người bằng cách đa dạng hoá
các loại hình đào tạo. Nhà trường “thực hiện phân cấp quản lý theo tinh thần tự chủ, tự chịu
trách nhiệm, vừa quản lý tập trung, vừa phát huy tính năng động, sáng tạo của các đơn vị cơ
sở”. Quan điểm thực hiện rất rõ ràng: phân cấp quản lý không phải là giải pháp trước mắt để
giải quyết khó khăn ban đầu mà thực sự là một giải pháp có tính nguyên tắc trên cơ sở khoa
học và thực tiễn quản lý.
3.2. Các biện pháp cải tiến công tác tổ chức tuyển chọn và bồi dƣỡng lực lƣợng giảng viên
trẻ ở Viện Đại học Mở Hà Nội
3.2.1. Xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển đội ngũ giảng viên và lực lượng giảng viên trẻ
3.2.1.1. Mục đích của biện pháp
Để có thể phát triển đội ngũ nói chung và đội ngũ giảng viên trẻ nói riêng một cách hiệu
quả và đúng hướng thì việc dự báo phát triển là yêu cầu đầu tiên mà một trường đại học phải
làm. Chỉ có làm tốt công tác dự báo thì nhà quản lý mới có thể có căn cứ để lập kế hoạch cho
công tác tuyển dụng, bổ nhiệm và sàng lọc.
3.2.1.2. Nội dung của biện pháp
Việc dự báo phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu chung và các định hướng phát
triển, chỉ tiêu tuyển sinh và kế hoạch đào tạo của nhà trường cũng như của từng khoa nhằm đưa ra
những tính toán và dự báo cụ thể.
Điều tra, khảo sát, thu thập thông tin số liệu, so sánh với các yêu cầu trong định hướng phát
triển để đưa ra dự báo rõ ràng về số lượng giảng viên, trình độ chuyên môn của giảng viên và môn học
mà giảng viên sẽ phải đảm nhiệm.
Kế hoạch định hướng của nhà trường trong thời gian sắp tới là tăng cường đội ngũ giảng
viên cơ hữu có phẩm chất và năng lực chuyên môn cao đạt tỷ lệ 50% tổng số giảng viên của
Viện. Như vậy, trong thời gian tới nhà trường cần tuyển khoảng hơn 200 GVCH đồng thời sẽ cắt
hợp đồng với khoảng hơn 400 GVTG.
3.2.1.3. Các bước tiến hành
Bước 1: Căn cứ vào quy mô đào tạo cũng như kế hoạch phát triển của nhà trường trong
giai đoạn tiếp theo, căn cứ vào đội ngũ giảng viên cơ hữu hiện có cũng như nhu cầu về giảng
viên hiện tại của toàn trường cũng như của các khoa, các trung tâm, Ban chủ nhiệm các Khoa,
Giám đốc các Trung tâm đưa ra kế hoạch tuyển dụng.
Bước 2: Phòng Tổ chức - hành chính tổng hợp và báo cáo Ban Giám hiệu về số lượng cần
tuyển và trình Ban Giám hiệu kế hoạch tuyển dụng chi tiết, cụ thể, thông báo công khai trên các
phương tiện thông tin đại chúng về số lượng cần tuyển, tiêu chuẩn tuyển chọn, điều kiện, chức
danh, vị trí cho mỗi ngành, chuyên ngành, kế hoạch tiếp nhận hồ sơ đăng ký dự tuyển, trả lời
những thông tin cần thiết cho các đối tượng dự tuyển (nếu có) và dự kiến các vòng thi tuyển và
Hội đồng tuyển dụng. Bước 3: Hội đồng thành lập các tiểu ban tổ chức thi, chấm thi cho các vòng thi tại các
khoa (các tiểu ban này có các thành viên của Hội đồng tuyển dụng của Trường tham gia).
Bước 4: Sau khi có kết quả điểm cũng như danh sách trúng tuyển, kết quả điểm và danh
sách trúng tuyển được công bố công khai theo đúng thời gian quy định, nếu không có khiếu nại,
tố cáo về việc tuyển dụng, Viện trưởng sẽ ra quyết định công nhận kết quả trúng tuyển.
3.2.3. Xây dựng và thực hiện tốt quy trình bồi dưỡng giảng viên trẻ
3.2.3.1. Mục đích của biện pháp
Các chương trình bồi dưỡng hướng vào việc duy trì và hoàn thiện kết quả thực hiện công
việc hiện có, đang diễn ra. Nhu cầu bồi dưỡng người mới tuyển là một điều hiển nhiên. Với đối
tượng là những người trẻ tuổi mới được tuyển vào, về trình độ chuyên môn, cũng như kỹ năng
nghề nghiệp còn chưa đạt chuẩn. Việc đưa ra một quy trình bồi dưỡng giảng viên trẻ và thực
hiện tốt quy trình đó sẽ giúp nhà trường hoàn thiện về đội ngũ giảng viên cả về số lượng và chất
lượng đáp ứng được nhu cầu về nhân lực của nhà trường.
3.2.3.2. Nội dung của biện pháp
Số giảng viên trẻ mới tuyển dụng đều là những sinh viên mới tốt nghiệp đại học hoặc sau
đại học, về năng lực chuyên môn cũng như các năng lực sư phạm còn yếu, không thể tự đảm
nhận được nhiệm vụ giảng dạy độc lập một bộ môn nào đó cũng như tham gia vào các hoạt động
chuyên môn và nghiên cứu khoa học của nhà trường, cần được bồi dưỡng kịp thời. Việc bồi
giáo dục, tự rèn luyện trở thành người giảng viên trong Viện.
Hai là, thường xuyên bồi dưỡng kỹ năng tự giáo dục, tự rèn luyện cho giảng viên trẻ
thông qua quá trình dạy học, giáo dục tại cơ quan mình. Kết quả tự giáo dục phụ thuộc nhiều vào
việc học viên tìm ra con đường, cách thức, biện pháp tự tu dưỡng, tự rèn luyện.
3.2.5. Phát huy vai trò của các cấp uỷ, các phòng ban chức năng trong việc xây dựng lực
lượng giảng viên trẻ
3.2.5.1. Mục đích của biện pháp
Để nâng cao chất lượng mọi mặt của lực lượng giảng viên trẻ cần phải phát huy sức mạnh
tổng hợp về vai trò của các tổ chức, các lực lượng trong việc bồi dưỡng đạo đức, lối sống,
chuyên môn nghiệp vụ đối với lực lượng giảng viên trẻ. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ tạo ra
những hiệu ứng tích cực đạo đức, lối sống, chuyên môn của người giảng viên ở Viện hiện nay
3.2.5.2. Nội dung của biện pháp
Sự lãnh đạo của tổ chức Đảng các cấp ở Viện là nhân tố quyết định đến chất lượng giáo
dục, bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của lực lượng giảng
viên trẻ. Trước hết, cần phải nâng cao nhận thức của tổ chức đảng các cấp về sự cần thiết và tính
tất yếu phải bồi dưỡng cho đội ngũ giảng viên. Mặt khác, tổ chức đảng các cấp của Viện phải
nhận thức rõ vai trò trách nhiệm của mình trong công tác giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng đối với
đội ngũ giảng viên. Từ đó, phát huy vai trò lãnh đạo của mình.
3.2.5.3. Các bước tiến hành Một là, nâng cao vai trò, trách nhiệm của tổ chức Đảng trong việc lãnh đạo, quản lý, giáo
dục, rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức, lối sống cho lực lượng giảng viên trẻ.
Hai là, phát huy vai trò của các phòng ban chức năng, các khoa chuyên ngành trong việc
giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống của đội ngũ giảng viên.
Ba là, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Công đoàn, Hội
Phụ nữ trong từng khoa tham gia giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện lực lượng giảng viên trẻ.
3.2.6. Nâng cao trách nhiệm và tính chủ động của các khoa, trung tâm
3.2.6.1. Mục đích của biện pháp
Các khoa là nơi trực tiếp quản lý mọi mặt lực lượng giảng viên trẻ, vì vậy đề cao trách nhiệm
chất.
3.2.7.3. Các bước tiến hành
Căn cứ vào tình hình tài chính và các nguồn lực thực tế của nhà trường, căn cứ vào các
quy định về quản lý tài chính của Bộ và Nhà nước, Ban lãnh đạo Nhà trường và bộ phận kế
hoạch tài chính có những điều chỉnh về lương, thưởng một cách thích đáng để có đủ sức thu hút
và động viên đội ngũ giảng viên tận tâm với nghề và gắn bó với nhà trường. Bên cạnh đó, công
đoàn nhà trường cần thường xuyên quan tâm, chăm lo đến đời sống tinh thần cho đội ngũ giảng
viên, là chỗ dựa cho giảng viên trong những lúc họ gặp khó khăn trong cuộc sống.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Từ các kết quả nghiên cứu thu được, có thể rút ra một số kết luận sau:
1.1. Đội ngũ giảng viên đại học có vai trò quan trọng, quyết định chất lượng đào tạo của tất cả
các trường đại học. Do đó, việc tuyển chọn, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, đặc biệt là lực
lượng giảng viên trẻ trong trường đại học là việc cần được quan tâm đặc biệt. Muốn nâng cao
chất lượng đào tạo, khẳng định thương hiệu của một nhà trường thì đội ngũ giảng viên của
trường đại học, trong đó có các giảng viên trẻ phải đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và
đồng bộ về cơ cấu. Việc tuyển chọn, bồi dưỡng lực lượng giảng viên trẻ là nhân tố quan trọng
đáp ứng yêu cầu đó. Đó là một quá trình liên tục phát triển nhằm hoàn thiện hoặc thay đổi tình
hình hiện tại để làm cho đội ngũ không ngừng lớn mạnh về mọi mặt, đặc biệt là chất lượng của
từng người giảng viên và toàn bộ đội ngũ giảng viên.
1.2. Chất lượng bồi dưỡng, tuyển chọn đội ngũ giảng viên của Viện Đại học Mở Hà Nội còn
nhiều hạn chế so với yêu cầu nhiệm vụ được giao; tình trạng vừa thừa lại vừa thiếu đang diễn
ra chưa có giải pháp khắc phục; cơ cấu đội ngũ bị mất cân đối, hiện tại còn thiếu nhiều giảng
viên ở các chuyên ngành khác nhau.
Thực tế trong những năm qua, nhà trường cũng đang tiến hành các biện pháp để cải tiến
công tác tuyển chọn, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, lực lượng giảng viên trẻ trong Viện. Tuy
đã đạt được một số kết quả song cũng còn bộc lộ những hạn chế, tồn tại do công tác quy hoạch
và xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên của nhà trường chưa được hoàn thiện, công
tuyển chọn, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên phù hợp với yêu cầu và điều kiện thực tế của Viện.
Khai thác thế mạnh trong quan hệ hợp tác quốc tế để tranh thủ hỗ trợ về trang thiết bị
hiện đại, về đào tạo cán bộ chuyên môn ở nước ngoài về chương trình giảng dạy, giáo trình, mời
gọi những chuyên gia giỏi đến trường giảng dạy… Qua đó nâng cao chất lượng đào tạo xứng đáng với vị trí là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực, nhân tài, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước.
2.3. Đối với giảng viên của Viện Đại học Mở Hà Nội
- Đội ngũ giảng viên nhà trường cần nhận thức đúng, đầy đủ về vai trò, vị trí trách nhiệm
của người giảng viên, phải vì quyền lợi của người học mỗi khi người giảng viên lên lớp. Từ đó
tự giác chủ động không ngừng học tập, bồi dưỡng, nâng cao trình độ về mọi mặt để đáp ứng
nhiệm vụ được giao và luôn có trách nhiệm cho sự xây dựng và phát triển Viện Đại học Mở Hà
Nội.
- Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, toàn cầu hóa về mọi
mặt đang là một xu thế khách quan tác động đến mọi quốc gia dân tộc, vì vậy là giảng viên của Viện,
đặc biệt là giảng viên trẻ phải không ngừng tự học và nâng cao trình độ ngoại ngữ làm sao đến năm
2015 mỗi giảng viên của nhà trường khi lên lớp có thể tự giảng bài bằng tiếng Anh. Ngoài giờ lên lớp
phải tích cực nghiên cứu tự học, tự dịch sách nước ngoài để bổ trợ cho chuyên môn của mình. Không
ngừng tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, biết và sử dụng thành thạo tin học, cải tiến phương pháp
giảng dạy để không ngừng hoàn thiện mình, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cho nhà trường.
- Ngoài nhiệm vụ chính của giảng viên là đảm nhận công tác giảng dạy tự học để nâng
cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và tin học, các giảng viên còn phải chủ động tham gia
nghiên cứu khoa học, đăng ký đề tài, xây dựng đề cương thông qua hội đồng khoa học Viện, ký
hợp đồng và thực hiện nghiên cứu với một số đơn vị bên ngoài, các đề tài trong nhà trường chủ
yếu tập trung vào nghiên cứu xây dựng, cải tiến chương trình, tổng kết kinh nghiệm dạy học,
biên soạn tài liệu, giáo trình, các sáng kiến ứng dụng, phương tiện kỹ thuật hỗ trợ giảng dạy. Đối
với đề tài bên ngoài chủ yếu tập trung vào các ứng dụng thực tế để không ngừng nâng cao tính
thực tiễn cho mỗi giảng viên.
16. Đỗ Mƣời, Bài phát biểu tại buổi lễ khai mạc Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung
ương Đảng khoá VIII, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997( tr. 82,83).
17. Phạm Thành Nghị. “Những thay đổi chủ yếu trong chính sách giáo dục đại học thế giới
những năm gần đây”, Tạp chí Phát triển Giáo dục, 2/1996.
18. Phạm Thành Nghị. “Những xu thế phát triển đại học thế giới và khu vực”, Kỷ yếu hội thảo -
Những vấn đề về Chiến lược phát triển giáo dục đại học , NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998.
19. Lê Đức Phúc. Xu thế giáo dục thế kỷ 21. Viện Khoa học giáo dục (đề tài cấp bộ), 2003.
20. Quốc hội nƣớc CHXHCN Việt Nam. Luật Giáo dục. Nxb Chính trị Quốc gia, 2005.
21. Quốc hội nƣớc CHXHCN Việt Nam. Pháp lệnh công chức, Hà Nội, 2003
22. Hoàng Tụy (2006), “7 kiến nghị cấp bách về phát triển giáo dục đại
học”, />GD/7_kien_nghi_cap_bach_ve_phat_trien_giao_duc_Dai_hoc 23. Viện Đại học Mở Hà Nội. Quy chế tổ chức đào tạo, 1999.
24. Viện Đại học Mở Hà Nội. Viện Đại học Mở Hà Nội - 15 năm xây dựng và phát triển, Hà
Nội. 2008.
25. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị quốc gia.