Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông
qua dạy học ứng dụng đạo hàm trong chương
trình toán lớp 12 (Ban nâng cao)
Trần Văn Đỉnh Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Lý luận và PP giảng dạy; Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thành Văn
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Nghiên cứu lý luận về tư duy, tư duy sáng tạo. Xác định thực trạng dạy ứng
dụng đạo hàm trong chương trình Toán trung học phổ thông. Đề xuất một số biện pháp:
Tăng cường tổ chức cho học sinh tự học, tự nghiên cứu; Tổ chức các buổi xêmina cho
các em học sinh trong một lớp nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh. Thực
nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của đề tài trong dạy học.
Keywords: Quản lý giáo dục; Toán học; Phát triển tư duy; Đạo hàm; Lớp 12 Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thế kỷ của trí tuệ sáng tạo. Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới,
đó là thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Phát triển Giáo dục và Đào tạo là một động lực quan
trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện phát huy nguồn lực con
người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng nền kinh tế nhanh và bền vững. Sự nghiệp
giáo dục phải góp phần quyết định vào việc bồi dưỡng cho thế hệ trẻ tiềm năng trí tuệ, tư duy
sáng tạo, năng lực tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, năng lực giải quyết vấn đề thích ứng được với thực
sáng tạo, linh hoạt vận dụng vào các dạng bài toán khác nhau.
- Là một giáo viên Toán, với mong muốn được góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng
dạy học ở trường trung học phổ thông tôi đã chọn đề tài “Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
thông qua dạy học ứng dụng đạo hàm trong chương trình Toán lớp 12 (Ban nâng cao)”.
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định các biện pháp rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh và đề xuất các biện pháp phát
triển năng lực tư duy sáng tạo của học sinh thông qua dạy ứng dụng đạo hàm.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về tư duy, tư duy sáng tạo.
- Xác định thực trạng dạy ứng dụng đạo hàm trong chương trình Toán trung học phổ thông.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh.
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của đề tài trong dạy học.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu các ứng dụng của đạo hàm trong chương trình Toán trung học phổ thông.
5. Mẫu khảo sát
Học sinh lớp 12A1, 12A2, 12A3, 12A4 trường THPT B Nghĩa Hưng – Tỉnh Nam Định.
6. Vấn đề nghiên cứu
Làm thế nào để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh một cách tốt nhất thông qua giảng dạy
chương ứng dụng đạo hàm trong chương trình
toán THPT.
7. Giả thuyết khoa học
Dạy học phần ứng dụng của đạo hàm trong chương trình Toán THPT nếu xây dựng các biện
pháp theo hướng phát huy tính độc lập sáng tạo của học sinh và có phương pháp giảng dạy thích
hợp thì sẽ góp phần phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các tài liệu về giáo dục học môn Toán, tâm lý học, lý luận dạy học môn Toán.
- Các sách báo, các bài viết về khoa học phục vụ cho đề tài.
- Nghiên cứu chương I SGK Giải tích 12 Nâng Cao
8.2. Phƣơng pháp quan sát
ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật. Tư duy chỉ tồn tại
trong mối liên hệ không thể tách rời khỏi hoạt động lao động và lời nói, là hoạt động chỉ tiêu
biểu cho xã hội loài người cho nên tư duy của con người được thực hiện trong mối liên hệ chặt
chẽ với lời nói và kết quả của tư duy được ghi nhận trong ngôn ngữ. Tiêu biểu cho tư duy là
những quá trình như trừu tượng hoá, phân tích và tổng hợp, việc nêu lên là những vấn đề nhất
định và tìm cách giải quyết chúng, việc đề xuất những giả thiết, những ý niệm. Kết quả cuối
cùng của tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ nào đó”.
Từ đó chúng ta có thể rút ra những đặc điểm của tư duy:
- Tư duy là sản phẩm của bộ não con người và là một quá trình phản ánh tích cực thế giới khách
quan.
- Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ và được thể hiện qua ngôn ngữ.
- Bản chất của tư duy là ở sự phân biệt, sự tồn tại độc lập của đối tượng đuợc phản ánh với hình
ảnh nhận thức được qua khả năng hoạt động của con người nhằm phản ánh đối tượng.
- Tư duy là quá trình phát triển năng động và sáng tạo.
- Khách thể trong tư duy được phản ánh với nhiều góc độ khác nhau từ thuộc tính này đến thuộc
tính khác, nó phụ thuộc vào chủ thể là con người.
1.1.2. Tư duy sáng tạo
Theo định nghĩa trong từ điển thì sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết vấn đề mới không
bị gò bó và phụ thuộc vào cái đã có. Nội dung của sáng tạo gồm hai ý chính có tính mới ( khác
cái cũ, cái đã biết) và có lợi ích (giá trị hơn cái cũ). Như vậy sự sáng tạo cần thiết cho bất kỳ hoạt
động nào của xã hội loài người. Sáng tạo thường được nghiên cứu trên nhiều phương diện như là
một quá trình phát sinh cái mới trên nền tảng cái cũ, như một kiểu tư duy, như là một năng lực
của con người.
Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về tư duy sáng tạo .
Theo Nguyễn Bá Kim: “Tính linh hoạt, tính độc lập và tính phê phán là những điều kiện cần
thiết cho tư duy sáng tạo, là những đặc điểm về những mặt khác nhau của của tư duy sáng tạo.
Tính sáng tạo của tư duy thể hiện rõ nét ở khả năng tạo ra cái mới, phát hiện vấn đề mới, tìm ra
hướng đi mới, tạo ra kết quả mới. Nhấn mạnh cái mới không có nghĩa là coi nhẹ cáo cũ”
(Nguyễn Bá Kim – Phương pháp dạy học bộ môn Toán).
Theo Tôn Thân quan niệm: “Tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập tạo ra ý tưởng mới,
học nêu vấn đề - NXBGD – 1977).
Krutexki chỉ ra 3 vòng tròn đồng tâm phản ánh mối quan hệ của ba dạng tư duy, nói nên điều
kiện cần của tư duy sáng tạo là tư suy độc lập và tư duy tích cực. 1.1.3. Quá trình sáng tạo toán học
Quá trình sáng tạo toán học bao gồm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn chuẩn bị: Thử giải quyết vấn đề bằng các cách khác nhau, huy động thông tin, dư
luận.
- Giai đoạn ấp ủ: Khi công việc giải quyết vấn đề bị ngừng lại, còn lại các hoạt động của tiềm
thức.
- Giai đoạn bừng sáng: Đó là bước nhảy vọt về chất trong tri thức, thường xuất hiện đột ngột.
- Giai đoạn kiểm chứng: Kiểm tra trực giác, triển khai các luận chứng logic.
1.1.4. Các yếu tố của tư duy sáng tạo
1.1.4.1. Tính mềm dẻo
Là năng lực thay đổi dễ dàng, nhanh chóng trật tự của hệ thống tri thức, chuyển từ góc độ
quan niệm này sang góc độ quan niệm khác, định nghĩa lại sự vật hiện tượng, xây dựng phương
pháp tư duy mới, tạo ra sự vật mới trong mối quan hệ mới hoặc chuyển đổi quan hệ, nhận ra bản
chất của sự vật và nhiều phán đoán. Tính mềm dẻo của tư duy còn làm thay đổi một cách dễ
dàng các thái độ đã cố hữu trong hoạt động trí tuệ của con người.
1.1.4.2. Tính nhuần nhuyễn
Là năng lực tạo ra một cách nhanh chóng sự tổ hợp giữa các yếu tố riêng lẻ của tình huống
hoàn cảnh, đưa ra giả thuyết mới và ý tưởng mới. Là khả năng tìm được nhiều giải pháp trên
Tư duy tích cực
Tư duy độc lập
Tư duy sáng tạo
nhiều góc độ và tình huống khác nhau. Tính nhuần nhuyễn được đặc trưng bởi khả năng sáng tạo
ra một ý tưởng nhất định. Số ý tưởng càng nhiều thì càng có nhiều khả năng xuất hiện ý tưởng
độc đáo. Trong trường hợp này có thể nói số lượng làm nảy sinh chất lượng.
nên nhiều tương tác tư duy hơn nữa trong lớp học, từ hình thức thảo luận nhóm lớn về các vấn đề
gây tranh cãi đến hình thức giải quyết vấn đề theo cặp hay theo nhóm nhỏ.
Ngoài ra, giáo viên cũng có thể trau dồi tư dy sáng tạo cho học sinh bằng nhiều cách khác:
Điều khiển các cuộc thảo luận và tranh luận về những vấn đề gây tranh cãi. Giáo viên có thể
tổ chức những buổi tranh luận có hệ thống, trong đó cặp học sinh này tranh luận với cặp học sinh
kia, sau đó đổi vị trí và bảo vệ quan điểm đối ngược với cặp học sinh đó.
Những kỹ xảo và phương pháp dạy học cụ thể rất bổ ích, nhưng ảnh hưởng quan trọng không
kém đến cách nghĩ của học sinh là môi trường học tập ở trường và tấm gương của người giáo
viên. Giáo viên muốn học sinh tư duy sáng tạo thì giáo viên cần phải thể hiện điều đó ở chính
bản thân mình.
Tiểu kết chƣơng 1
Trong chương này luận văn đã làm rõ các khái niệm tư duy, tư duy sáng tạo, nêu được các
yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo, đồng thời cũng đã chỉ ra được sự quan trọng của việc rèn
luyện tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua quá trình dạy học giải bài tập toán. Qua đó chúng
ta giúp học sinh học tập tích cực hơn và kích thích được tính sáng tạo cho học sinh trong học tập
cũng như trong cuộc sống.
Vậy công việc của mỗi giáo viên trong quá trình dạy học là tìm ra được các phương pháp
nhằm phát triển và rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh.
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG DẠY HỌC PHÁT TRIỂN TƢ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC
SINH Ở MỘT SỐ TRƢỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1. Một số ứng dụng của đạo hàm trong chƣơng trình toán trung học phổ thông
2.1.1. Sử dụng hàm số để giải phương trình
Để giải phương trình ta có thể giải bằng nhiều phương pháp khác nhau, đối với phương pháp
hàm số ta dựa vào cơ sở lý thuyết sau đây:
+ Giao điểm của hai đồ thị
Cho hàm số
()y f x
có đồ thị là (C
tồn tại trên (a;b) thì luôn tồn tại
);( bac
sao
cho
ab
afbf
cf
)()(
)('
2.1.2. Sử dụng hàm số để giải bất phương trình
Để giải bất phương trình bằng phương pháp hàm số ta dựa vào cơ sở lý thuyết sau đây:
- Giải bất phương trình dạng
( ( )) ( ( ))f u x f v x
(*).
Xét hàm số
f
trên tập D sao cho:
+, Hàm số
f
đơn điệu trên tập hợp D.
+,
DxvDxu )(;)(
( D là một khoảng, một đoạn hoặc nửa khoảng)
Khi đó:
Nếu
f
Bất phương trình vô nghiệm trên tập D
min ( ) ( )
xD
f x g m
.
Nhận xét : Đối với bất phương trình có chứa tham số, đòi hỏi học sinh cần nắm vững các bước
biến đổi thường sử dụng sau.
+ Thường với các yêu cầu trên học sinh phải biến đổi bất phương trình về dạng
( ) ( ( ) ; ( ) ; ( ) )f x m f x m f x m f x m
+ Lập bảng biến thiên hoặc tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của hàm số
()fx
.
+ Dựa vào yêu cầu của bài toán để tìm điều kiện của tham số.
2.1.3. Sử dụng hàm số để giải hệ phương trình
Hệ phương trình giải được bằng phương pháp hàm số ta thường gặp ở hai dạng :
- Một phương trình của hệ có dạng : f(u(x))=f(v(y)), phương trình còn lại giúp ta giới hạn u(x)
,v(y) thuộc tập D (D là một khoảng, một đoạn hoặc nửa khoảng) để trên đó hàm số f đơn điệu .
- Một phương trình trong hệ có dạng ( hoặc đưa được về dạng )
f(x) = 0 trong đó f là hàm số đơn điệu.
Ví dụ 1. Giải hệ phương trình
33
84
5 5 1
1 . 2
thay vào PT (2) ta được PT:
84
10xx
.
Đặt
4
ax
và giải phương trình ta được
4
1 5 1 5
22
a y x
.
Vậy hệ có 2 nghiêm phân biệt là:
4 4 4 4
1 5 1 5 1 5 1 5
; à ;
2 2 2 2
v
.
Nhận xét:
, x
2
thuộc (a;b) và x
1
< x
2
thì
f(x
1
) < f(x
2
).
+, Nếu Hàm số f nghịch biến trên (a;b), x
1
, x
2
thuộc (a;b) và x
1
< x
2
thì
f(x
1
) > f(x
2
).
Ví dụ 1. Xét x, y, z là các số thực không âm thỏa mãn điều kiện
1 zyx
. Tìm giá trị lớn nhất của biểu thức
P = xy + yz + zx - 2xyz.
2
1
23
2
zzzzz
z
Ta xét hàm số
)12(
4
1
)(
23
zzzf
trên
3
- Học sinh lớp 12A1, 12A2, 12A3, 12A4 trường THPT B Nghĩa Hưng, Nam Định.
- Giáo viên tổ Toán – Tin trường THPT B Nghĩa Hưng, Nam Định.
2.2.3. Phương pháp điều tra
- Quan sát: Dự giờ một số tiết dạy môn Toán về chuyên đề “ Ứng dụng đạo hàm” ở một số lớp
để quan sát tiến trình dạy học, thái độ học tập của học sinh từ đó đánh giá mức độ bồi dưỡng và
phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua các giờ học đó.
- Phát phiếu điều tra cho học sinh và giáo viên về thực trạng dạy và học chuyên đề “ Ứng dụng
của đạo hàm” trong chương trình toán 12.
2.2.4. Kết quả điều tra
2.2.4.1. Dự giờ cô Nguyễn Thị Hải trường THPT B Nghĩa Hưng
giảng dạy lớp 12A2.
Tên bài dạy:
Một số bài toán thƣờng gặp về đồ thị (chương trình nâng cao)
Kết quả:
+, Ưu điểm:
- Nội dung bài dạy đảm bảo tính chính xác về kiến thức cơ bản.
- Giáo viên kết hợp tốt các phương pháp giảng dạy, phát huy được tính tích cực, chủ động chiếm
lĩnh tri thức của học sinh.
- Học sinh học tập tích cực, vận dụng tốt ứng dụng của đạo hàm để biện luận số nghiệm của
phương trình bậc 3, bậc 4.
- Đa số học sinh đã nắm được phương pháp sử dụng đạo hàm để biện luận số nghiệm của
phương trình ngay sau tiết học.
+ Khuyết, nhược điểm.
Như vậy qua kết quả điều tra ta có thể thấy được:
Trong dạy học môn toán ở trường phổ thông về lý thuyết, giáo viên chưa thực sự quan tâm đến
việc lựa chọn phương pháp phù hợp để phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học
sinh. Học sinh chưa thực sự chủ động trong việc tìm tòi, khám phá, lĩnh hội tri thức mới. Vẫn
còn nhiều học sinh không nắm được lý thuyết từ tiết dạy lý thuyết đầu tiên. Chính vì thế các em
gặp rất nhiều khó khăn khi làm bài tập. Phần lớn các em chỉ giải được những bài toán như thầy
đã chữa một cách máy móc còn khi thay đổi giả thiết của bài toán một chút là các em lúng túng.
họ thuộc tầng lớp xã hội nào. Việc phát huy sức mạnh sáng tạo cho học sinh là con đường dẫn tới
thành công.
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN TƢ DUY SÁNG TẠO CHO
HỌC SINH VÀ THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1. Một số biện pháp phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh
3.1.1. Tăng cường tổ chức cho học sinh tự học, tự nghiên cứu
3.1.1.1. Nội dung của biện pháp
* Các bước chuẩn bị cho hoạt động tự học
- Xác định yêy cầu, xây dựng động cơ, tạo hứng thú học tập cho học sinh.
- Làm rõ nhiệm vụ và mục đích của việc tự học: “ Học cái gì? Học để làm gì?”
- Xây dựng kế hoạch tự học: Muốn vậy cần phải xác định nội dung trọng tâm kiến thức cần phải
học để tự xây dụng kế hoạch học tập mang tính khả thi và có hiệu quả.
* Thu thập tài liệu liên qua đến nội dung kiến thức
Đây là công việc hết sức quan trọng đòi hỏi người giáo viên phải thể hiện rõ trong kế hoạch thực
hiện chương trình chi tiết; nội dung nào giáo viên trình bày, nội dung nào học sinh cần tự nghiên
cứu và để nghiên cứu nội dung đó cần có những tài liệu nào, liên qua đến phần kiến thức nào
* Trình bày, thể hiện kết quả của việc tự học, tự nghiên cứu.
Việc trình bày kết quả tự học, tự nghiên cứu giúp học sinh có cách nhìn khái quát nội dung mình
tự nghiên cứu, đồng thời qua đó người dạy cũng nắm bắt được kết quả của quá trình tự học, tự
nghiên cứu của học sinh, từ đó có thể bổ xung những kiến thức mà học sinh chưa khám phá
được.
3.1.1.2.Ví dụ.
3.1.1.3. Những ưu điểm của biện pháp tự học,tự nghiên cứu
+, Bảo đảm vị thế tích cực, chủ động của người học.
+, Phát triển hứng thú nhận thức, thoả mãn nhu cầu tìm tòi, khám phá của người học.
+, Đảm bảo tốt nhất yêu cầu cá biệt hoá dạy học, phù hợp với tốc độ, nhịp độ học tập của từng
học sinh.
3.2.1.1. Kế hoạch thực nghiệm
- Chuẩn bị giáo án thực nghiệm.
- Tiến trình thực nghiệm: Dạy thực nghiệm một số bài luyện tập của chương “ Ứng dụng đạo
hàm” trong chương trình toán lớ 12 tại các lớp 12A1, 12A2. Sau đó kiểm tra dưới dạng tự luận ở
lớp thực nghiệm và lớp đối chứng để đánh giá kết quả.
- Đánh giá kết quả thực nghiệm.
- Giáo viên dạy thực nghiệm: Trần Văn Đỉnh
- Thời gian thực nghiệm: 20/09/2012 đến 20/11/2012
3.2.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm
Trong đợt thực nghiệm, tác giả đã tiến hành kiểm tra hai bài liên quan đến nội dung đã triển
khai với hai lớp thực nghiệm là lớp 12A1 và lớp 12A2 và hai lớp đối chứng 12A3, 12A4.
*) Về bài kiểm tra
Bài 1: (Thời gian kiểm tra 30 phút)
Câu 1: Tìm m để phương trình có nghiệm
2
( 1 2) 3 2 1m x x x x x
.
Câu 2: Tìm GTLN, GTNN của hàm số
sin cos sin2 3y x x x
.
Những ý định sư phạm về đề kiểm tra
Bài kiểm tra này thực hiện nhằm kiểm tra kỹ năng sử dụng đạo hàm để xác định điều kiện tồn
tại nghiệm của phương trình và tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của hàm số thông qua phép
đặt ẩn phụ.
Yêu cầu học sinh phải nắm vững kiến thức về tương giao giữa hai đồ thị và cách xác định giá
trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của hàm số đồng thời học sinh cần phải linh hoạt trong việc lựa chọn
ẩn mới và tìm điều kiện của ẩn mới.
Đa số các em đều làm đúng bài này. Tuy nhiên vẫn còn một số em tìm sai điều kiện của ẩn
15
13
3
40
Lớp đối
chứng 1
5
12
14
8
0
40
Nhìn chung cả hai lớp thực nghiệm và đối chứng đều nắm được kiến thức cơ bản, trình bày rõ
ràng, đã biết cách lựa chọn phép đổi biến hợp lý và tìm điều kiện của ẩn mới phù hợp với yêu
cầu của bài toán.
Bên cạnh đó, lớp đối chứng có học sinh nắm chưa rõ bản chất của bài 2 nên không sử dụng
phương pháp đặt ẩn phụ mà nhận xét tính chất tuần hoàn của hàm số và đi tìm GTLN, GTNN
trực tiếp theo ẩn x.
Lớp thực nghiệm và lớp đối chứng đều đạt 100% trên trung bình
Lớp thực nghiệm đạt 31/40 = 77,5% số học sinh đạt điểm từ 8 trở lên
Kết quả bài kiểm tra thứ 2
Điểm
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Số bài
Lớp thực
nghiệm
1
4
5
18
Trên cơ sở các biện pháp đã nêu, tác giả đã tiến hành thực nghiệm trong giảng dạy. Thực
nghiệm sư phạm tuy tiến hành trên phạm vi chưa rộng, song kết quả đã cho thấy : Ở lớp đối
chứng, các em biết áp dụng phương pháp hàm số đối với các bài kiểm tra còn mất nhiều thời
gian để nhận dạng và chưa thực sự linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp cũng như lựa chọn
hàm số để áp dụng; Ở lớp thực nghiệm, hầu hết học sinh đều nhanh chóng tìm được hướng giải
và làm đúng, sáng tạo. Kết quả thực nghiệm qua kiểm tra ở lớp thực nghiệm cao hơn ở lớp đối
chứng đặc biệt là số điểm đạt từ 8 trở lên.
Theo đánh giá của các giáo viên dự giờ và ý kiến phản hồi từ các em học sinh thì các buổi
xêmina thực hiện trong lớp thực nghiệm và những nội dung giáo viên hướng dẫn cho học sinh tự
nghiên cứu, tự học đã thực sự phát huy được tính sáng tạo, độc lập và hứng thú đối với học sinh.
KẾT LUẬN
Trước những yêu cầu to lớn của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhà trường
cần phải đào tạo cho xã hội những con người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo. Do vậy mà
giáo dục và đào tạo phải đổi mới nội dung chương trình, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới
cách đánh giá kết quả rèn luyện, học tập của học sinh.
Luận văn này được hình thành với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc hình thành, rèn luyện
và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh.
Những kết quả đạt được:
1. Tổng quan một số vấn đề thuộc về lý luận liên quan đến tư duy sáng tạo. Làm sáng tỏ
thêm các yếu tố của tư duy sáng tạo và các đặc điểm của tư duy sáng tạo. Từ đó chỉ ra
được tầm quan trọng của việc phát triển, rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh.
2. Trình bày một số ứng dụng của đạo hàm đối với phương trình, bất phương trình, hệ
phương trình, bất đẳng thức và giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của hàm số.
3. Mô tả thực trạng giảng dạy chuyên đề “Ứng dụng đạo hàm” tại trường THPT B Nghĩa
Hưng.
4. Đề xuất được hai biện pháp nhằm rèn luyện và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh và
đã tiến hành thực nghiệm sư phạm trong giảng dạy. Tuy phạm vi thực nghiệm chưa rộng
nhưng đã chứng tỏ được tính khả thi và hiệu quả của đề tài.
môn Hình học. NXB Giáo dục. 1995.