Phương pháp xây dựng giáo án cá nhân môn
toán chuyên sâu về các bài toán tổ hợp ở
trường trung học phổ thông chuyên
Trần Thị Thu Trang
Trường Đại học Giáo dục
Luận văn Thạc sĩ ngành: Lý luận và phương pháp dạy học; Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Vũ Lương
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Nêu tóm tắt một số tiêu chuẩn cần đạt được đối với một giáo án cá nhân ở
trường trung học phổ thông chuyên. Đưa ra một số ưu điểm từ những bộ sách giáo
khoa tiên tiến trên thế giới và Việt Nam. Trình bày phương pháp xây dựng giáo án cá
nhân môn toán ở trường chuyên trung học phổ thông. Áp dụng phương pháp xây dựng
giáo án cá nhân với nội dung các bài toán tổ hợp ở trường trung học phổ thông
chuyên.
Keywords: Toán học; Phương pháp giảng dạy; Tổ hợp; Trường trung học phổ thông
Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một chương trình giáo dục là có hiệu quả nếu việc thực hiện phù hợp với điều kiện trường lớp,
trang thiết bị ,thời gian vật chất dành cho việc học và phù hợp với khả năng, sự chấp nhận của
người dạy và người học.Ở một số nước và Việt Nam hiện nay đang xuất hiện một vấn đề là một
chương trình sách giáo khoa quốc gia được áp dụng cho tất cả các vùng miền, tất cả các đối tượng
học sinh nên có thể phù hợp với đối tượng học sinh bình thường nhưng chưa phù hợp với học sinh
yếu kém hoặc học sinh các lớp chuyên. Chính vì vậy hiện nay trên thế giới có nhiều trường phổ
thông tự xây dựng các bộ sách giáo khoa cho riêng mình dựa trên chương trình chuẩn của nhà
nước. Tất cả các bộ sách giáo khoa đều giống nhau là phải phủ kín hết tất cả các nội dung giảng
giáo án của cá nhân mình khi giảng dạy tại trường chuyên (đào tạo học sinh năng khiếu về
khoa học tự nhiên)
2. Lịch sử nghiên cứu
Xu hướng hiện nay trên thế giới các trường đều sử dụng các sách giáo khoa giống nhau về
nội dung nhưng lại khác nhau về thời lượng, sự sắp xếp, độ phức tạp tùy theo mục tiêu đào
tạo của từng trường. Từ trước đến nay có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa học đề
cập đến sự sắp xếp nội dung chương trình, nhưng qua tìm hiểu chúng tôi chưa thấy có bài
viết, công trình khoa học nào đưa ra phương pháp xây dựng giáo án cá nhân môn toán với nội
dung các bài toán tổ hợp ở trường trung học phổ thông chuyên.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Đề xuất phương pháp xây dựng giáo án của cá nhân mình khi giảng dạy nội dung các bài
toán tổ hợp ở trường trung học phổ thông chuyên .
Mục tiêu cụ thể:
Với mục tiêu trên, trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài sẽ tập trung giải quyết
các mục tiêu cụ thể chủ yếu sau đây:
- Một là, nêu tóm tắt một số tiêu chuẩn cần đạt được đối với một giáo án cá nhân ở
trường trung học phổ thông chuyên.
Sách giáo khoa
Quốc gia
Giáo án
cá nhân
Sách giáo khoa
trường 3
- Hai là, đưa ra một số ưu điểm từ những bộ sách giáo khoa tiên tiến trên thế giới và
Việt Nam.
- Ba là, đưa ra được phương pháp xây dựng giáo án cá nhân môn toán ở trường
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp thống kê toán học
9. Kết quả đóng góp của luận văn
4
- Đưa ra được phương pháp xây dựng giáo án cá nhân môn toán với nội dung các
bài toán tổ hợp ở trường trung học phổ thông chuyên.
- Với phương pháp xây dựng giáo án cá nhân đó có thể áp dụng với các nội dung
dạy học khác của môn toán ở trường trung học phổ thông chuyên, sẽ tích lũy được thành một
quyển sách chuyên khảo dùng để giảng dạy cho cá nhân, có thể làm tài liệu tham khảo để chia
sẻ với đồng nghiệp trong toàn quốc.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, các từ và cụm từ viết tắt, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của luận văn được trình bày trong ba chương.
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chƣơng 2: Phương pháp xây dựng giáo án cá nhân môn toán áp dụng với các bài toán tổ hợp
ở trường THPT chuyên.
Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Một số tiêu chuẩn cần đạt đƣợc đối với một giáo án cá nhân ở trƣờng trung học phổ
thông chuyên
1.1.1. Đầy đủ kiến thức
Một giáo án phải đảm bảo phủ kín được các nội dung cần giảng dạy
Nội dung kiến thức phải chính xác, làm nổi bật được kiến thức trọng tâm của bài.
Đây là tiêu chí đánh giá trình độ chuyên môn, khả năng kiến thức cũng như sự thấu
hiểu nội dung bài dạy của giáo viên một cách sâu sắc để tổ chức cách học cho học sinh có
hiệu quả.
1.1.2. Kế thừa
gia và chương trình môn toán ở trường THPT chuyên.
Bố trí các nội dung giảng dạy phải phù hợp với trình độ học sinh, mục đích và mục tiêu
đào tạo.
Trong khi xây dựng giáo án cần chú ý tổ chức các hoạt động học tập nhóm, học tập cá
nhân một cách phù hợp để tích cực hóa hoạt động của học sinh, để rèn luyện kỹ năng mà mục
tiêu bài dạy đặt ra.
1.1.7. Sáng tạo
Khi xây dựng giáo án nên có nhiều sáng tạo đặc biệt trong việc tạo ra nhiều bài tập hay
phù hợp với học sinh của mình.
Tích hợp nhiều chương thành chương cơ bản (bao gồm tổ hợp, số phức, lượng giác…)
và có các bài giảng chuyên đề cho các chương.
1.1.8. Hợp lý
Thời gian cho mỗi nội dung giảng dạy phải phù hợp với đặc điểm học sinh của lớp
giảng dậy.
1.2. Một số ƣu điểm từ những bộ sách giáo khoa tiên tiến:
1.2.1. Sách giáo khoa của Singapore
- Bài tập thực tế nhiều, đa dạng.
- Bài tập lý thuyết dễ.
6
- Trong từng phần có lược đồ tư duy hệ thống kiến thức giúp học sinh dễ nhớ và có cái
nhìn tổng quát về nội dung kiến thức của từng phần.
- Cuối mỗi chương có Rubic đánh giá mức độ đạt của học sinh ( loại A, B, C, D,…) giúp
học sinh phần nào tự đánh giá được kết quả học tập của mình.
- Hàm số mũ và hàm số lôgarit dạy sớm từ lớp 10 với nội dung đơn giản.
1.2.2. Sách giáo khoa của Anh
The Core Course for A- level
( L. Bostock and S. Chandler)
Nelson Thornes
- Nội dung cơ bản, đơn giản, dễ hiểu, không có nhiều bài tập khó. 1.3.4. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
1.3.5. Chọn lựa phương pháp
1.3.5.1. Khái niệm về phương pháp dạy học tích cực
1.3.5.2. Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề
1.3.5.3. Phương pháp dạy học theo dự án
1.3.6. Tiến trình bài học
1.3.7. Dự kiến kiểm tra, đánh giá
CHƢƠNG 2
PHƢƠNG PHÁP XÂY DỰNG GIÁO ÁN CÁ NHÂN MÔN TOÁN
ÁP DỤNG VỚI CÁC BÀI TOÁN TỔ HỢP
Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN
2.1. Phƣơng pháp xây dựng giáo án cá nhân môn toán ở trƣờng THPT chuyên
Luật giáo dục đã nêu bốn định hướng đổi mới phương pháp giáo dục phổ thông, đó là:
- Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Bồi dưỡng phương pháp tù học
- Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
- Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
(Điều 24, khoản 2)
Nhận thức
(B.S. Bloom)
Tâm vận
(R.H Dave)
Cảm xúc
(D.R.
Krathwohl)
1. Các lĩnh
chuyên để đáp ứng được các định hướng đổi mới phương pháp giáo dục phổ thông là công
việc quan trọng và rất cần thiết.
Xây dựng giáo án là công việc quan trọng của GV trước khi tổ chức hoạt động học tập
của HS ở trên lớp. Xây dựng giáo án bao gồm việc nghiên cứu Chương trình, SGK, tài liệu
tham khảo và phân tích học sinh để xác định mục tiêu bài học, lựa chọn nội dung cơ bản, nội
dung nâng cao, hoạt động này thường được thảo luận theo nhóm, tổ chuyên môn.
Tiếp theo xây dựng hệ thống hoạt động học tập (bao gồm việc xác định vấn đề học tập,
các hình thức tổ chức dạy học, phương pháp và phương tiện dạy học thích hợp, trong đó có cả
việc dự kiến cách thức củng cố, vận dụng KT, KN đã học vào việc tiếp nhận KT mới hoặc
vận dụng vào thực tế cuộc sống). Xây dựng giáo án còn bao gồm cả việc dự kiến các tình
huống sư phạm xảy ra trong bài dạy và cách ứng xử thích hợp của GV (các tình huống có thể
liên quan đến thời gian, phương tiện dạy học, đối tượng HS, kiến thức thực tế liên quan đến
bài học, )
Đổi mới phương pháp dạy học, dạy học theo “phương pháp lấy HS làm trung tâm”, “dạy
học nhằm phát huy tính chủ động tích cực của HS” là những cụm từ thường được GV nhắc
đến khi nói đến phương pháp dạy học mà họ sử dụng hiện nay. Tuy nhiên, đa số GV đã quen
với việc soạn giáo án bài học theo các bước lên lớp, GV vẫn là người đóng vai trò chính trong
việc thực hiện các hoạt động và các đồ dùng được sử dụng đa số vẫn là đồ dùng dành cho GV.
Cũng do quy định của tiết học, trong khi dạy, GV vẫn chú ý nhiều đến việc làm sao để kết
thúc các hoạt động, kết thúc bài học đúng giờ quy định, chứ chưa thực sự chú ý đến HS hoạt
động như thế nào? Các em học được KT, KN gì qua các hoạt động thầy cô thực hiện. Các giờ
học vẫn mang đậm sắc thái người dạy là trung tâm hơn là lấy HS làm trung tâm.
Xây dựng giáo án là một nghệ thuật chứ không chỉ thuần tuý là khoa học.
Xây dựng giáo án theo hướng dạy học tích cực rất quan trọng vì điều đó giúp GV thực
hiện bài học một cách thành công và tạo cơ hội học tập tích cực, gây hứng thú cho mọi HS
trong lớp.
Xây dựng giáo án theo hướng DHTC gồm 3 bước theo sơ đồ dưới đây:
Bước 1. Xác định mục tiêu bài học
Bước 2. Thiết kế các hoạt động học tập
Bước 3. Kiểm tra giáo án.
Bài tập là giá mang hoạt động của học sinh. Soạn được bài tập tốt là cơ sở để tổ chức
cho học sinh hoạt động có hiệu quả cao.
Bài tập có bốn chức năng:
- Chức năng dạy học (hình thành, củng cố kiến thức và kỹ năng)
- Chức năng giáo dục (hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, gây hứng thú học
tập, rèn luyện phẩm chất đạo đức của người lao động mới, vận dụng kiến thức vào đời sống).
- Chức năng phát triển (phát triển năng lực tư duy, hình thành phẩm chất tư duy khoa
học).
- Chức năng kiểm tra (đánh giá trình độ học sinh)
Một bài tập mà khi sử dụng nó có thể khai thác được nhiều chức năng khác nhau. Vậy
để có bài tập tốt cần có khả năng sáng tác bài tập, điều này thực sự quan trọng đối với một
10
giáo viên dạy toán ở trường chuyên. Một trong những khả năng đó là khả năng đề xuất các bài
tập mới từ một bài tập đã có bằng cách: Lập bài toán tương tự, lập bài toán đảo thêm bớt một
số yếu tố, thay đổi một số yếu tố.
Hình thức bài tập cũng nên có những thay đổi để kích thích tư duy học sinh. Bên cạnh
những bài tập với đề bài cho sẵn, có những đòi hỏi học sinh phải xây dựng đề bài, ví dụ như
cho trước một phương trình yêu cầu học sinh phát biểu một bài toán thực tế có lời giải dẫn
đến phương trình đó; cho trước một số mệnh đề đòi hỏi học sinh sắp xếp lại để được đề toán;
cho trước một đề toán nhưng để lại những chỗ khuyết, học sinh phải điền nội dung cho thích
hợp vào những chỗ khuyết đó; cao hơn nữa giáo viên yêu cầu học sinh tự xây dựng đề toán.
Điều này hoàn toàn có thể làm được đối với những học sinh có năng khiếu về tự nhiên.
Có thể tạo tình huống có vấn đề theo một số cách thông thƣờng sau đây:
- Xuất phát từ việc giải một bài tập dựa trên kiến thức cũ để hình thành khái niệm mới,
công thức mới.
- Xuất phát từ kiến thức cũ để đặt vấn đề nghiên cứu kiến thức mới bằng cách lật
ngược vấn đề, khai quát hóa, tương tự hóa.
- Nêu lên lợi ích của kiến thức mới sắp học (để giải quyết một vấn đề thực tế hoặc để
giải quyết một bài toán đã biết một cách ngắn gọn hơn…)
dụng. - Chuẩn bị một số ý tưởng để đáp lại những phản ứng và các câu hỏi của
HS. 2.2. Kế hoạch dạy học các bài toán tổ hợp ở trƣờng THPT chuyên
2.3. Một số giáo án dạy học các bài toán tổ hợp ở trƣờng THPT chuyên
2.3.1. Giáo án bài: HAI QUY TẮC ĐẾM CƠ BẢN
I) Mục tiêu bài học
Sau khi học bài HS cần:
1) Về kiến thức:
-Hiểu được hai quy tắc đếm cơ bản
- Biết cách đếm số phần tử của một tập hợp hữu hạn theo quy tắc cộng, quy tắc nhân.
2) Về kỹ năng:
- Nhận biết được các tình huống sử dụng quy tắc cộng, tình huống sử dụng quy tắc nhân.
- Hiểu được phần tử của một tập hợp và cách đếm số phần tử của các tập hợp không giao
nhau, tập hợp giao nhau.
- Giải được các bài toán đếm có tính chất khó, phức tạp phối hợp cả hai quy tắc.
3) Về tư duy và thái độ:
- Biết được toán học có ứng dụng trong thực tiễn.
- Hình thành thái độ yêu thích dẫn tới say mê học toán.
II) Chuẩn bị của GV và HS
1) Chuẩn bị của GV: Giáo án, phiếu bài tập, bảng phụ
2) Chuẩn bị của HS: SGK, kiến thức cũ, dụng cụ học tập
III) Phương pháp dạy học
Theo mô hình giáo dục tích cực, phát huy tính tích cực hoạt động của HS, phương pháp
dạy học chủ yếu DHGQVĐ đan xen với hoạt động nhóm.
IV) Tiến trình bài học
- HS trả lời câu hỏi 1
và 2.
CBA
1121
CBA
Liệt kê: (1; 1),
(1; 2), (1;3)…
12
con đường
-HS quan sát sơ đồ và
trả lời câu 3,4
+) GV yêu cầu HS làm
tiếp câu 3, 4
GV gọi HS trả lời
Bài 1: Hai quy tắc đếm cơ
bản
Bài toán 1: Từ thành phố A đến
thành phố B có 3 con đường, giả
sử được đánh số thứ tự 1, 2, 3, từ
thành phố B đến thành phố C có 4
con đường, giả sử được đánh số
thứ tự 1, 2, 3, 4.
1) Hãy vẽ sơ đồ liệt kê tất cả các
con đường đi từ A đến C qua B.
2) Hãy dùng kiến thức về bộ 2 sắp
thứ tự (x, y) với x là số thứ tự con
đường đi từ A đến B và y là số
thứ tự con đường đi từ B đến C.
Liệt kê tất cả các con đường.
3) Hãy phân tích hành động H
“ Đi từ thành phố A đến C qua B”
gồm mấy giai đoạn ? Mỗi giai
đoạn có bao nhiêu cách chọn để
thực hiện hành động H ?
4) Thử mở rộng trong trường hợp
bài toán tổng quát.
C
13
Hành động H gồm 2
công đoạn
CĐ1: A
B có 3
cách
CĐ2: B
C có 4 cách
Do đó có 3 x 4 = 12
cách thực hiện hành
động H.
-HS: Khái quát thành
bài tổng quát
+)GV đưa ra câu hỏi số
5 cho bài toán 1. Quy tắc nhân:
i) Giả sử một công việc nào đó
bao gồm 2 công đoạn A và B.
Công đoạn A có thể làm theo n
thực hiện theo n
1
.n
2…
n
k
cách.
CH5: Có bao nhiêu cách chọn lộ
trình đi từ A đến C qua B và từ C
trở về A cũng qua B, nếu ta không
muốn dùng đường đi làm đường
về trên cả 2 chặng.
Hướng dẫn: Khi đã ở thành phố C
muốn trở về A phải qua B không
được lặp lại phương án khi đi, thì:
CĐ 3: Chọn đường từ C về B có 3
cách
CĐ 4: Chọn đường từ B về A có 2
cách
Nên số cách là 3 x 2 = 6 cách.
Vậy có tất cả 12 x 6 = 72 cách.
Mỗi cách chọn đường về có thể
ghép với bất kì cách chọn đường
14
+)GV củng cố khắc sâu
a
4
a
có 3 cách
3
a
có 5 cách
2
a
có 4 cách
1
a
có 3 cách ?
Đáp số: 3 x 5 x 4 x 3
= 180 số (nhận xét cách
làm là sai)
- HS: Đa số đưa ra lời
giải đúng như GV
-HS: Qua câu hỏi 1HS
GV nhận xét và
cho điểm các nhóm. Bài toán 2: Với các chữ số 0, 1, 2, 3,
4, 5
1) Có thể lập được bao nhiêu số lẻ
gồm 4 chữ số khác nhau
Hướng dẫn: Gọi số cần tìm có dạng
4321
aaaa
là số lẻ nên
5,3,1
4
a
4
a
có 3 cách chọn
1
có 1 cách
chọn
1
a
có 5 cách chọn
2
a
có 4 cách chọn
3
a
có 3 cách chọn
Vậy có 1 x 5 x 4 x 3 = 60 số
16
GV: Tổng kết: ngoài
quy tắc nhân còn có
quy tắc cộng của bài
toán đếm. Sau đó GV
nêu quy tắc cộng.
Sau đó GV đặt câu hỏi
CH1: Em cho biết hợp
của hai tập hợp hữu
hạn không giao nhau?
CH2: Em cho biết hợp
của hai tập hợp hữu
hạn bất kỳ?
GV: Chuyển quy tắc
cộng, quy tắc nhân
sang ngôn ngữ tập hợp
bằng nhận xét.
GV: Bản chất toán học
được thực hiện bởi n + m cách.
ii) Giả sử một công việc có thể được
thực hiện theo một trong k phương án
A
1
, A
2
, …,A
k
. Có n
1
cách thực hiện
phương án A
1
, n
2
cách thực hiện
phương án A
2
,… và n
k
cách thực hiện
phương án A
k
. Khi đó công việc có
thể được thực hiện bởi n
1
+ n
2
+…+n
hợp hữu hạn không
giao nhau.
+GV phát phiếu học
tập số 1 cho HS.
k
A
+ Cho A và B là hai tập hợp hữu hạn
bất kỳ. Khi đó ta có
BABABA
+ Cho A, B, C là ba tập hợp. Khi đó
BACBACBA
CBAACCB
3. Củng cố toàn bài(10 phút):
4. Hƣớng dẫn học bài ở nhà và ra bài tập về nhà
-Về nhà các em cần: Học quy tắc cộng, quy tắc nhân và biết cách khi nào dùng quy tắc cộng
khi nào dùng quy tắc nhân, chú ý cách áp dụng trong các bài toán ở bài học.
- Nhớ công thức tính số phần tử của hai tập hợp hữu hạn không giao nhau và hai tập hợp
hữu hạn bất kỳ, mở rộng bài toán với n tập hợp
- Làm các bài tập 1,3,4 trang 54, SGK. Và bài tập còn lại trong phiếu bài tập 1.
- Đọc trước bài: Hoán vị, chỉnh hợp, tổ hợp.
18
5. Phụ lục
quả tự nghiên cứu và báo cáo của học sinh hay nhóm học sinh sau mỗi quá trình nhằm có kết
luận về tính hiệu quả của các thiết kế bài giảng đã trình bày trong dự án cũng như các điều
chỉnh cần thiết khi áp dụng.
3.1.3. Phương pháp và hình thức thực nghiệm
19
Chúng tôi đưa ra phương pháp xây dựng giáo án và áp dụng với nội dung các bài toán tổ
hợp ở trường trung học phổ thông chuyên, sau đó giảng dạy trực tiếp trên các lớp với các giáo án
đã được xây dựng ở chương 2 của luận văn này, cụ thể như sau:
Thực hiện song song giữa các lớp thử nghiệm và lớp đối chứng do cùng một giáo viên
dạy. Để lựa chọn mẫu thử nghiệm sát với đối tượng học sinh, chúng tôi tiến hành thực hiện
phân tích đối tượng học sinh để biết tình hình học tập của học sinh.
Ở trường trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, thành phố Nam Định chúng tôi
chọn lớp 11 chuyên toán làm lớp thử nghiệm và lớp đối chứng là lớp gồm 30 học sinh khá
giỏi của 2 lớp chọn toán do chính tác giả trực tiếp giảng dạy.
Ở trường trung học phổ thông chuyên Đại học khoa học tự nhiên chúng tôi chọn lớp
11 Tin làm lớp thử nghiệm và lớp 11 chuyên lý làm lớp đối chứng, cũng là những học sinh có
năng khiếu về tự nhiên do thầy Phạm Minh Tuấn giảng dạy.
Ở trường trung học phổ thông Trần Hưng Đạo thành phố Nam Định chúng tôi chọn
lớp 11A1 (45 học sinh) là lớp chọn toán làm lớp thử nghiệm và lớp 11A2 cũng là lớp chọn
toán làm lớp đối chứng do cô Phạm Thị Phương Thảo giảng dạy.
Chúng tôi tiến hành các hoạt động dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập và thu
thập các thông tin phản hồi để đánh giá điều chỉnh giáo án cá nhân. Ngoài ra, chúng tôi còn
kết hợp chặt chẽ với các phương pháp khác như: quan sát tổng kết kinh nghiệm Sau mỗi bài
học chúng tôi trao đổi với giáo viên và học sinh để rút kinh nghiệm, có sự điều chỉnh cho phù
hợp với các giáo án mà chúng tôi đã đưa ra.
3.2. Nội dung của thực nghiệm sƣ phạm
Nội dung thực nghiệm sư phạm là áp dụng phương pháp xây dựng giáo án cá nhân vào
phần các bài toán tổ hợp để thiết kế các giáo án với nội dung các bài toán tổ hợp ở trường
trung học phổ thông chuyên.
42%
17/31
55%
31
Đối chứng
0/30
0%
0/30
0%
1/30
3%
16/30
53%
13/30
44%
30
Tại trường THPT chuyên Đại học khao học tự nhiên Hà Nội
Điểm
Lớp
Kém
Yếu
TB
Khá
Giỏi
Số bài
Thử
nghiệm
0/35
0%
0/35
nghiệm
0/45
0%
1/45
2,2%
5/45
11,2%
24/45
53,3%
15/45
33,3%
45
Đối chứng
0/45
0%
2/45
4,4%
7/45
15,5%
23/45
51,1%
13/45
29%
45
3.3.2.2. Một số kết quả báo cáo của học sinh sau dự án
3.3.2.3. Đối với giáo viên bộ môn toán
Đối với giáo viên bộ môn toán sau khi cùng tham gia thực nghiệm thông qua các buổi
dự giờ, các tiết giảng dạy trên lớp và tham gia chấm bài làm của học sinh cũng như chấm các
sản phẩm của dự án được chúng tôi hướng dẫn cung cấp cơ sở lý luận một cách đầy đủ, chúng
tôi đưa ra một số câu hỏi như sau:
biết: tôi tham khảo tài liệu (SGV, sách thiết kế bài giảng, giáo án mẫu,…) để thiết kế giáo án
cho tiết dạy của mình. Tuy nhiên, tôi thấy phải đầu tư thời gian để suy nghĩ cách điều chỉnh
sao cho phù hợp với đối tượng HS của mình và điều kiện dạy học thực tế, nên đây cũng
không phải là cách làm hay.
- Hầu hết các thầy cô được hỏi đều cho rằng, một tiết dậy thực sự thành công khi giáo viên
làm việc trong nhóm, theo tổ chuyên môn cùng đưa ra nội dung giảng dạy phù hợp với HS
của trường mình, lớp mình. Sau đó GV tự mình xây dựng các bài giảng, bài toán cho mình.
3.4. Tổng kết
Dựa vào kết quả thực nghiệm trên các cơ sở đưa ra ta thấy :
Kết quả thực nghiệm đối với lớp chuyên toán ở trường THPT chuyên Lê Hồng Phong-
Nam Định là tốt nhất, tiếp theo là lớp chuyên tin trường THPT chuyên- Đại học khoa học tự
nhiên và cuối cùng là lớp chọn toán của trường THPT Trần Hưng Đạo – Nam Định.
Các ý kiến của các GV bộ môn toáncùng tham gia trong đợt thực nghiệm đã được tổng
hợp lại thành các ý kiến chủ yếu sau đây:
Các giáo án đã được xây dựng với nội dung các bài toán tổ hợp được thực hành giảng dạy
phù hợp và hiệu quả với các HS có năng khiếu về tự nhiên đặc biệt là với lớp chuyên toán.
Phần tổ hợp có rất nhiều các dạng bài hay, phong phú và đa dạng, có nhiều bài toán đố rất
vui thu hút HS. Tuy nhiên đây là phần có nội dung kiến thức khó, HS dễ mắc sai lầm, các
trường THPT khác trong toàn quốc ít quan tâm dạy cho học sinh tất cả các dạng bài tập đó vì
đối tượng HS kém và trung bình không thể tiếp cận hết các dạng bài tập được.
Với các GV thì sau các tiết dạy với các giáo án đã được xây dựng như trên, HS tiếp thu bài
tốt tạo ra được các sản phẩm tốt có chất lượng cao là tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn
chuẩn bị thi đại học. GV thấy yêu nghề hơn, tiếp tục bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn
22
để thiết kế được nhiều baì giảng hay giúp cho công việc giảng dạy của mình đạt hiệu quả cao
hơn.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua quá trình nghiên cứu, luận văn đã thu được các kết quả sau:
giáo án dạy học theo các phương pháp dạy học phù hợp. Điều này thực sự tốt hơn nữa nếu có
sự kết hợp giữa các ý tưởng của các chuyên gia, đặc biệt là sự kết hợp giữa các ý tưởng của
23
các đồng nghiệp trong nhóm, tổ chuyên môn. Tuy nhiên cần phải có một kế hoạch thật cụ thể,
chặt chẽ và nghiêm túc trong các giờ họp tổ chuyên môn hàng tuần ở các trường THPT hiện
nay.
- Nhà trường, các tổ chuyên môn cần khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi nhất để
giáo viên có sự giao lưu trao đổi với các đồng nghiệp không ngừng bồi dưỡng và nâng cao
trình độ chuyên môn.
- Bên cạnh đó nhà trường (đặc biệt là trường chuyên), các tổ chuyên môn nên khuyến
khích hình thức tự học, tự nghiên cứu, học nhóm của học sinh theo sự hướng dẫn của giáo
viên, tạo điều kiện để thầy và trò giao lưu tạo môi trường học tập thân thiện, cải thiện chất
lượng hiệu quả học tập môn toán.
- Giáo viên luôn luôn phải bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề để xây
dựng các bài giảng hay giúp cho việc giảng dạy của mình đạt hiệu quả tốt.
References
1. Bộ Giáo dục và đào tạo (2009), Đại số và giải tích 11 nâng cao, NXB Giáo dục.
2. Bộ Giáo dục và đào tạo (2009), Bài tập đại số và giải tích 11 nâng cao, NXB Giáo dục.
3. Bộ Giáo dục và đào tạo (2006), Chương trình giáo dục phổ thông môn toán, NXB Giáo
dục.
4. Bộ Giáo dục và đào tạo (2009), Đại số và giải tích 11 nâng cao – sách giáo viên, NXB
Giáo dục.
5. Bộ Giáo dục và đào tạo (2009), Chương trình chuyên sâu THPT chuyên môn Toán.
6. Bộ Giáo dục và đào tạo (2009), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK
lớp 11 môn Toán, NXB Giáo dục.
7. Nguyễn Hữu Châu, Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, NXB
Giáo dục.
8. Nguyễn Hữu Châu, Dạy học giải quyết vấn đề trong môn Toán, NCGD số 9-1995.