Quy trình kiểm tra - đánh giá kết quả học tập
của học sinh trung học phổ thông
Vũ Văn Cát
Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học; Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: GS.TS. Nguyễn Đức Chính, PGS.TS. Đặng Xuân Hải
Năm bảo vệ: 2008 Abstract: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về kiểm tra đánh giá nói chung và kiểm
tra đánh giá môn học nói riêng, làm sáng tỏ vai trò của công tác kiểm tra đánh giá
trong quá trình dạy học - một yếu tố quan trọng. Nghiên cứu thực trạng kiểm tra đánh
giá kết quả học tập của học sinh trong phần quang hình học lớp 11 nâng cao và bộ
môn Vật lý ở trường THPT Kinh Môn 2. Từ đó xây dựng quy trình kiểm tra đánh giá
kết quả học tập của học sinh, xây dựng bộ câu hỏi, bài tập, đề kiểm tra 15 phút, 45
phút, xây dựng hệ mục tiêu bài học ở dạng ứng xử, xây dựng ma trận đề kiểm tra, đề
thi và lập kế hoạch kiểm tra đánh giá, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục THPT
Keywords: Kết quả học tập, Quy trình kiểm tra, Quản lý giáo dục, Trung học phổ
thông
Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thực tiễn giáo dục cũng như nhiều phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội cho
thấy yếu tố kiểm tra đánh giá trong giáo dục, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh còn
nhiều bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội đó là
Sử dụng khoa học về đo lường kiểm tra đánh giá lạc hậu.
Nghiên cứu quá trình kiểm tra đánh giá môn vật lý bậc THPT
5.3. Nghiên cứu, xây dựng quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Xây dựng hệ mục tiêu bài học ở dạng ứng xử quan sát được.
Đổi mới hệ thống câu hỏi, bài tập kiểm tra đánh giá nhằm phát huy năng lực sáng tạo
của học sinh.
Xây dựng ma trận đề kiểm tra, đề thi cho phần quang hình học sách giáo khoa vật lý 11
nâng cao. Xây dựng bộ câu hỏi cho các kì kiểm tra đánh giá trên cơ sở hệ mục tiêu môn học
Xây dựng qui trình kiểm tra đánh giá trong việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của
học sinh.
Thử nghiệm qui trình kiểm tra đánh giá phần quang hình học sách giáo khoa vật lý 11
nâng cao.
Lập kế hoạch kiểm tra đánh giá.
6. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích và tổng hợp các vấn đề lý luận.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.3. Phương pháp thống kê toán học
6.4.Phương pháp chuyên gia.
7. Phạm vi, giới hạn nghiên cứu của đề tài
* Phạm vi khảo sát: Trường THPT Kinh Môn 2.
* Giới hạn nội dung nghiên cứu
Hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh phần quang hình học lớp 11
chương trình nâng cao
8. Đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về kiểm tra đánh giá nói chung và kiểm tra đánh
giá trong vật lý, làm sáng tỏ thêm vai trò của công tác kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học
– yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục THPT
1.1.5. Khái niệm qui trình kiểm tra đánh giá
1.2. Chức năng của kiểm tra đánh giá trong giáo dục
1.2.1. Chức năng định hướng
1.2.2. Chức năng đốc thúc, kích thích, tạo động lực
1.2.3. Chức năng sàng lọc, lựa chọn
1.2.4. Chức năng cải tiến, dự báo
1.3. Những yêu cầu đối với việc kiểm tra đánh giá
1.3.1. Tính quy chuẩn 1.3.2. Tính khách quan
1.3.3.Tính toàn diện
1.3.4. Tính xác nhận và phát triển
1.4. Một số nội dung kiểm tra đánh giá thành quả giáo dục
1.4.1. Mặt nhận thức
1.4.2. Mặt thái độ
1.5. Vị trí, vai trò của kiểm tra đánh giá trong quá trình đào tạo
1.5.1. Vị trí của kiểm tra đánh giá:
Xét trên quan điểm hệ thống, quy trình đào tạo (QTĐT ) được xem như một hệ
thống bao gồm các yêu tố: Mục tiêu (MT ), nội dung (ND ), hình thức tổ chức dạy - học
(HTTCDH), phương pháp dạy ( PPD ) của thầy, phương pháp học (PPH) của trò và cuối
cùng là kiểm tra đánh giá (KTĐG) kết quả của người học
Kiểm tra -
đánh giá
(Tæng kÕt )
Phương pháp
học
Phương pháp
dạy 1.5.2. Vai trò kiểm tra đánh giá trong giáo dục
1.5.2.1. Kiểm tra đánh giá giáo dục là một bộ phận quan trọng của quản lý giáo dục tầm vĩ
mô
- Kiểm tra đánh giá giáo dục là một biện pháp quan trọng nhằm đi sâu cải cách giáo
dục
- Kiểm tra đánh giá giáo dục là một phương pháp quan trọng để nâng cao toàn diện
chất lượng giáo dục, có tác dụng tích cực tới các dự án trong nhà trường, giúp học sinh phát
triển toàn diện về mọi mặt.
- Kiểm tra đánh giá giáo dục là một nội dung quan trọng trong công tác nghiên cứu
khoa học giáo dục.
1.5.2.2. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập là một trong những hoạt động quan trọng nhất của
quá trình dạy học
1.6. Đặc trưng của kiểm tra đánh giá trong lớp học
1.6.1. Kiểm tra đánh giá trong lớp học nhằm mục đích cao nhất là vì sự tiến bộ của người
học trong suốt quá trình học tập
1.6.2. Kiểm tra đánh giá trong lớp học định hướng cho hoạt động của giáo viên.
1.6.3. Kiêm tra đánh giá trong lớp học mang lại lợi ích cho cả thầy và trò:
1.6.4. Kiểm tra đánh giá trong lớp học là kiểm tra đánh giá theo tiến trình, liên tục.
1.6.6. Kiểm tra đánh giá trong lớp học gắn với mọi hoạt động của người giáo viên trong và
ngoài giờ học, là bộ phận cấu thành của phương pháp dạy học và là cơ sở hình thành tài
năng sư phạm
tiếp thu, giải thích, liên hệ thông tin với những điều họ biết và kinh qua. Đánh giá có hiệu quả
có tác dụng thúc đẩy quá trình.
Mặt khác, một trong những khía cạnh quan trọng trong giảng dạy là những kỳ vọng
giao tiếp với học sinh. Do vậy, giáo viên liên tục kiểm tra đánh giá trong giảng dạy nhằm cho
học biết những gì mong đợi ở họ. Những kỳ vọng đó được truyền tải tới học sinh thông qua
thực chất các câu hỏi giáo viên đặt ra, thông qua việc giáo viên chấp nhận những câu trả lời của
học sinh như thế nào, hay thể loại thông tin phản hồi của giáo viên khi họ đang làm bài tập,
cũng như thông qua rất nhiều cách thức ứng đáp tinh tế khác của giáo viên với học sinh. Tính
chất các bài kiểm tra giáo viên đưa ra và việc họ kiểm tra đánh giá bài làm của học sinh sẽ
truyền đạt những tiêu chuẩn mà học sinh cần đạt được.
Những kiểm tra đánh giá tin cậy dựa trên hoạt động học tập của học sinh mang tính
dài hạn và tạo những cơ hội học tập cho học sinh; tạo ra môi trường lôi cuốn học sinh tích
cực học tập liên kết thông tin mới với kiến thức hiện hữu; đồng thời giúp cho học sinh nhận
thức rõ hơn động cơ, mục đích của việc học và tự điều chỉnh mình.
1.8. Mục tiêu học tập và các phương pháp kiểm tra đánh giá của giáo viên
1. 8.1. Mục tiêu học tập trong lĩnh vực kiến thức
1.8.1.1 . Các mức độ của mục tiêu học tập trong lĩnh vực kiến thức
Mục đích kiểm tra đánh giá kiến thức là xác định xem học sinh đã biết gì, ở mức độ
nào trong các nội dung đã học. Tuỳ theo mục tiêu học tập mà có những mức độ yêu cầu khác
nhau từ đơn giản nhất là tái hiện được (kể được, mô tả được, trình bày được) đến áp dụng
được, so sánh, phân tích, giải thích…cụ thể như sau: 1.8.1.2. Các phương pháp kiểm tra đánh giá mục tiêu học tập trong lĩnh vực kiến thức
Có nhiều những phương pháp kiểm tra đánh giá thông dụng như trắc nghiệm khách
quan và trắc nghiệm tự luận hiện nay, giáo viên cũng bổ sung thêm các công cụ kiểm tra
đánh giá đa dạng như: Vấn đáp ( interview), quan sát ( observtion ), phiếu kiểm kê
( checklist ), phiếu xếp hạng ( rating scale ) và kết hợp các hình thức này một cách hợp lý
và khoa học
Phương pháp quan sát.
1) Quan sát của giáo viên
2) Thu thập thông tin qua điểu tra
1.9. ảnh hưởng của kiểm tra đánh giá đối với các yếu tố của quá trình dạy học môn vật
lý
1.9.1. Mối quan hệ giữa kiểm tra đánh giá với mục tiêu dạy học
1.9.2. Mối quan hệ giữa kiểm tra đánh giá với quá trình dạy học
Tiểu kết chương 1
Như vậy kiểm tra đánh giá là một quá trình trong đó chúng ta đưa ra những giá trị hoặc ấn
định những giá trị cho cái gì đó. Đặc điểm quan trọng của của sự kiểm tra đánh giá đó là khả
năng phán đoán. Đánh giá mang tính định lượng. nó mô tả cái gì đó dựa trên con số hoặc phần
trăm cụ thể. Trong việc kiểm tra đánh giá sự xét đoán được thực hiện gắn một giá trị hay sự mô tả
định tính với một số đo trên một bài kiểm tra.
Đánh giá là một quá trình gồm hai bước. Bước thứ nhất đó là kiểm tra, trong đó số liệu
thu thập từ việc sử dụng từ một hoặc một chuỗi các bài kiểm tra. Một khi việc kiểm tra đã
được thực hiện, thì sự xét đoán cũng được thực hiện về trình độ, thường là trong bối cảnh các
mục đích có hướng dẫn.
Đánh giá có liên quan mật thiết với việc kiểm tra và giảng dạy. Thực tiễn cho thấy khi
giáo viên trình bày, truyền đạt kiến thức theo nhiều cách khác nhau thì học sinh có xu hướng
hiểu bài nhiều hơn . Học sinh tham gia vào bài thi sẽ nhớ kiến thức tốt hơn . Như vậy việc
kiểm tra đánh giá như một sự mở rộng của việc truyền đạt kiến thức và không tách khỏi quá
trình giáo dục.
Chúng ta đã thấy bản chất của hoạt động kiểm tra đánh giá , cũng như các vấn đề có
liên quan
Trong khuôn khổ của luận văn vấn đề kiểm tra đánh giá được đề cập là kiểm tra đánh giá lớp
học vận dụng cho phần quang hình học vật lý lớp 11 chương trình nâng cao.
Chương 2: Thực trạng kiểm tra đánh giá ở trường trung học phổ thông Kinh Môn 2
2.1.Trường THPT Kinh Môn 2
2.1.1. Sơ lược về trường THPT Kinh Môn 2
2.1.1. Đội ngũ giáo viên
giúp khẳng định điều đó(chỉ có 25% đồng ý tích cực sử dụng đồ dùng) Kết quả giờ học buồn
tẻ, chưa sôi nổi . Học sinh học thụ động, không phát huy được tính tích cực của học sinh.
Về kiến thức, các GV đều cố gắng giới hạn ở mức đảm bảo kiến thức sách giáokhoa
kiến thức mở rộng chưa nhiều, hầu hết các GV đều sử dụng ngay ví dụ trong sách giáo khoa
mà chưa đưa ra các ví dụ có sức thuyết phục. Các cách đặt vấn đề và chuyển đoạn trong tiết
dạy còn cứng nhắc không có lô gích chặt chẽ rất áp đặt. Một hạn chế rất hay thường gặp là
giáo viên không khái quát được kiến thức, hay dừng lại ở mức độ bậc 1 vì thế khả năng vận
dụng của học sinh sẽ hạn chế, việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh là chưa phát huy. Các GV đều dừng lại ở việc giảng dạy các mục tiêu bậc 1, rất ít mục tiêu bậc 2 và
mục tiêu bậc 3. Để từng bước nâng cao chất lượng giờ dạy thì việc cần thiết là phải có các
mục tiêu cao hơn trong mỗi tiết dạy. Trong bài Lăng kính đã dự ở 11A2 chỉ có một mục tiêu
bậc 2 còn lại là mục tiêu bậc 1. Hầu hết các giờ đều chưa xác định được và chưa làm rõ được
trọng tâm bài học, kết quả bài giảng còn lan man, dàn trải. Điều này khẳng định việc khi
giảng dạy phần quang hình học luôn cần phân tích cấu trúc nội dung và thiết kế lô gích của tiến
trình xây dựng mạch kiến thức. trong số liệu điều tra chỉ 41.67% cho rằng cần thiết phải thực hiện
hoạt động này trước khi giảng dạy.
Các bước lên lớp được các thầy cô giáo tuân thủ một cách rất máy móc chưa hoàn
toàn chưa linh hoạt
Học sinh học tập trong không khí chưa thật sự sôi nổi, rất thụ động. Rất ít học sinh
tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài, trong lớp các em chỉ ngồi nghe và chép bài một cách
thụ động. Hiếm có học sinh đặt câu hỏi với thầy cô để thầy cô giải đáp cho các khúc mắc khó
hiểu. Số hoạt động khác của học sinh trong giờ giảng là rất ít. Điều này phản ánh năng lực sư
phạm của GV, sự say mê nghề nghiệp và trách nhiệm của các GV thấp. Đồng thời cho thấy
học sinh cũng chưa có niềm đam mê thật sự với việc học, năng lực của một số học sinh còn
kém, ý thức tổ chức kỷ luật của một phận các em còn chưa nghiêm túc. Các bài kiểm tra
miệng hầu hết điểm thấp, tính chuyên cần trong học tập và rèn luyện của nhiều học sinh chưa
cao.
Tình hình dạy và học còn vấn đề cần khắc phục, cần phải đổi mới cách dạy và cách
mất thì giờ vì sợ cháy giáo án. Phần đông GV cho rằng học sinh lớn rồi phải tự giác không nhắc
nhở nhiều, đồng thời với lý do bài dài nên rất ít học sinh được kiểm tra miệng. GV không có kế
hoạch kiểm tra miệng. Khi cho điểm chưa thực sự tạo động lực cho học sinh mà tạo ra áp lực, hầu
hết học sinh có tâm trạng sợ kiểm tra miệng đầu giờ, tuy nghiên có một số giáo viên có sự chuẩn bị
chu đáo các câu hỏi và cách kiểm tra rất uyển chuyển ,lời nhận xét và kiểm tra đánh giá khích lệ
được học sinh vươn lên, xoá bỏ mặc cảm.
2.3.2. Kiểm tra 15 phút
Sau đây là 1 đề kiểm tra mà đã được các thầy cô giáo thành viên trong nhóm được
điều tra thực hiện.
Đề kiểm tra 15 phút
1. Phát biểu định luật khúc xạ ánh sáng? (3đ)
2. Chiết suất tuyệt đối là gì ? nêu các hệ thức liên hệ giữa chiết suất và vận tốc ánh sáng
trong các môi trường. (3đ)
3. Hiện tượng phản xạ toàn phần là gì ? nêu điều kiện có phản xạ toàn phần? (4đ)
Vì thời gian kiểm tra rất ngắn và kiểm tra theo đề tự luận do đó số mục tiêu kiểm tra
là ít đồng thời học sinh dễ thực hiện việc coi cóp, cả lớp chung một đề, độ tin cậy và độ chính
xác của đề thi là kém,việc kiểm tra đánh giá thiếu chính xác và công bằng. Mức độ đề ra
không khó chỉ có các mục tiêu bậc một, không kích thích tư duy học sinh. ở đề này chỉ dừng
lại ở việc nhớ lại các kiến thức đã học về khúc xạ ánh sáng: Nội dung định luật, công thức
định luật và nhớ các công thức liên hệ giữa chiết suất với các đại lượng, điều kiện có phản xạ
toàn phần. Đặc biệt việc ra đề còn nhiều cảm tính căn cứ thiên về nội dung. Số bài kiểm tra
15 phút cũng không nhiều, tìm hiểu thực tế cho thấy các giáo viên không có kế hoạch kiểm
tra 15 phút chu đáo mà thường để dồn ép vào cuối chương và cuối kỳ miễn sao số lần kiểm tra tối thiểu đủ là được, điều này dẫn đến kết quả tai hại học sinh sao nhãng việc học tập
chuyên cần, giáo viên cũng bị dồn ép nên làm cẩu thả dẫn đến sai sót và hình thức.Tất cả các
bài kiểm tra15 phút đều không có dàn bài, không có kế hoạch kiểm tra.
2.3.3. Kiểm tra 45 phút
biệt nội dung thực hành không được đưa vào để kiểm tra đánh giá, theo số liệu điều tra thì có
tới 80% ý kiến cho rằng phần thực hành không được quan tâm trong kiểm tra đánh giá
Việc ra đề hết sức cảm tính và mang nặng dấu ấn kinh nghiệm và cảm tính, 91,67% ý
kiến các Thầy (cô) được hỏi cho rằng chưa được tham gia một khoá đào tạo nào về đo lường
và kiểm tra đánh giá trong giáo dục do các chuyên gia trong lĩnh vực đo lường kiểm tra đánh
giá phụ trách.
Các căn cứ để làm một đề kiểm tra chưa đúng, 83,33% ý kiến khẳng định nội dung
giảng dạy là căn cứ cơ bản để soạn đề, chỉ kiểm tra các nội dung hay thi đại học Số đông các giáo viên vẫn quan niệm kiểm tra đánh giá đồng nhất với cho điểm.
Trong kiểm tra số ít giáo viên ghi lời nhận xét về chất lượng bài làm những ưu, nhược điểm
học sinh mắc phải, thái độ của học sinh chỉ có 30% ý kiến cho rằng bài kiểm tra được sửa
trong bài làm, phần lớn người được kiểm tra đánh giá chỉ quan tới điểm số mà không chú ý
tới những lời phê này hoặc không coi trọng những lời phê này. Điều này tạo ra tâm lý chạy
theo điểm số cho học sinh và thậm chí đưa đến thói quen kiểm tra đánh giá học sinh và cả
giáo viên, cả quá trình dạy, học thông qua điểm số .
Và vì chạy theo điểm số các giáo viên chỉ chú trọng dạy những gì học sinh phải thi,
phải kiểm tra, bỏ qua tất cả những phần chương trình thấy không phục vụ cho thi cử, còn học
sinh lao vào thói học gạo, học tủ. Khối A thi toán, lý , hoá. Toán ra đề ở cả khối 10, lớp 11,
lớp 12, lý, hoá ra để tập chung ở lớp 12 vì vậy phần kiến thức cơ sở, nền học vấn phổ thông
trung học quan trọng ở khối 10, lớp 11 của cả hai môn còn lại thì học sinh khối A cũng chiếu
lệ qua loa thậm chí cũng bỏ chứ không nói gì đến học sinh ở khối khác, xuất hiện nền giáo
dục ứng thí, học để thi .
Phân tích kết quả kiểm tra của các bài kiểm tra tình trạng phổ biến không phân loại
được học sinh 81% ý kiến được hỏi cho rằng trong tất cả các lần làm bài kiểm tra đã có tình
huống cả lớp đều không đạt yêu cầu hoặc cả lớp đạt điểm giỏi
Việc chấm trả bài cho học sinh .Theo kết quả điều tra thì đa só giáo viên rất coi trọng về
kiến thức, chỉ một số ít để ý đến hình thức (chữ sạch , chữ đẹp) khi chấm bài.Tuy nhiên có tới
50% ý kiến điều tra cho rằng không phải sau 2tuần GV trả bài cho học sinh. Có nhiều GV không
Khi sử dụng hệ thống bài kiểm tra nhằm mục đích đo lường, lấy điểm để kiểm tra
đánh giá thực thế cho thấy, bài thi đo chính xác nhưng nó lại đo lường một cái gì khác chứ
không phải cái mà cần đo, bài kiểm tra có độ tin cậy cao nhưng độ giá trị thấp.
Nguyên nhân:
Chưa có quy trình kiểm tra đánh giá khoa học
Giáo viên chưa được trang bị kiến thức về khoa học đo lường và kiểm tra đánh giá.
Cụ thể GV:
- Chưa biết xác định mục tiêu làm cơ sở khoa học cho việc kiểm tra đánh giá
- Chưa có kỹ thuật xác lập dàn bài .
- Chưa biết viết các câu hỏi theo các mục tiêu, theo các mức trí năng khác nhau.
- Chưa biết kỹ thuật xử lý câu hỏi
Tiểu kết chương 2
Căn cứ vào cơ sở lý luận đã trình bày ở chương một, căn cứ vào thực trạng của việc
dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong phần quang hình học lớp 11
nâng cao và bộ môn vật lý THPT kinh môn 2 nói chung ở các trường THPT hiện nay, chúng
ta thấy rằng việc tổ chức quá trình dạy học và kiểm tra đánh giá chưa thực sự được đổi
mới,chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của xã hội
Dạy học vẫn nặng lối truyền thống, giáo viên còn lúng túng trong việc tổ chức, điều
khiển hoạt động học tập của học sinh, chưa có những hình thức dạy học phong phú và các
phương pháp dạy học tích cực để khơi dậy sự hứng thú, say mê của học sinh đối với môn
học.
Việc kiểm tra đánh giá vẫn diễn ra nhưng chưa thực hiện được quy trình kiểm tra đánh giá theo
đúng nghĩa của nó. Do đó chưa có thông tin phản hồi kịp thời để giúp học sinh điều chỉnh việc học
của mình và thầy cô giáo điều chỉnh việc dạy sao cho có hiệu quả Tình trạng học sinh bỏ học, kết quả học tập xa sút, ở lớp không hiểu bài có nhiều
nguyên nhân. Nguyên nhân của tình trạng này là cũng do các giáo viên chưa thực sự hiểu rõ
vai trò của công tác kiểm tra đánh giá và quy trình khoa học của hoạt động kiểm tra đánh giá.
Giáo viên chưa tận dụng ưu thế mạnh mẽ của kiểm tra đánh giá để nâng cao chất lượng của
+ Quyết định liên quan đến giáo viên, chương trình đào tạo, quản lý hệ thống đào tạo.
* Qui trình KTĐG bao gồm các bước sau:
Bước1 - Xác định mục đích kiểm tra đánh giá
Bước 2 - Lựa chọn các hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá.
Bước 3 - Phân tích nội dung
Bước 4 - Xác định tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm tra đánh giá cho từng nội dung kiểm tra đánh giá
Kiểm tra có thể quan niệm là phép đo: dùng thước đo là các đề thi để đo một năng lực nào đó
của học sinh. Phép đo nào cũng có mục tiêu của nó : đo cái gì? Muốn một đề thi đo được cái cần đo,
tức là đo được mức độ đạt được các mục tiêu môn học, cần soạn các câu hỏi và đề thi bám sát mục
tiêu của môn học. Như vậy cũng như đã nói ở chương 2, mục tiêu môn học là tiêu chí để kiểm tra
đánh giá. Xây dựng mục tiêu là một quá trình xác định tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm tra đánh giá cho
từng nội dung kiểm tra đánh giá. Gồm phân tích tình hình tìm kiến thức, kỹ năng và thái độ cần
chiếm lĩnh của học sinh, phân định mức độ hoàn thiện các kiến thức, kỹ năng và thái độ đó. Phác
hoạ những mục tiêu chính của bài theo các cấp độ. Đây là cơ sở quan trọng để thiết lập dàn bài thi.
Bước 5 - Thiết lập dàn bài thi.
Bước 6 - Lựa chọn hoặc viết các câu hỏi.
Dàn bài thi đã cho ta biết số lượng và bậc mục tiêu ứng với từng nội dung cần
kiểm tra. Bước tiếp theo là lựa chọn ( nếu đã có ngân hàng câu hỏi ) hoặc viết các câu hỏi
Bước 7- Phân tích câu hỏi. Tổ hợp đề theo dàn bài
Việc phân tích các câu hỏi đã lựa chọn hoặc tự viết nhằm xác định xem các câu hỏi có thể
dùng làm công cụ để kiểm tra việc đạt các mục tiêu trong các nội dung cần kiểm tra hay không.
Việc phân tích các câu hỏi cũng nhằm kiểm tra đánh giá độ khó, độ phân biệt của các câu hỏi đó để
thay đổi hoặc điều chỉnh nếu cần và làm thử. sử dụng các phần mềm đảo đề như phần
mềmVITESTA[10] của công ty EDTECH -VN xây dựng
Sau khi xem xét từng câu hỏi, cần phân tích để kiểm tra đánh giá toàn bộ đề thi vừa
được biên soạn.
Các tiêu chí để kiểm tra đánh giá một đề kiểm tra.
1. Phạm vi nội dung cần bao quát
quan trọng trong những kiến thức của học sinh về quang hình học.
Học sinh cần phải biết vẽ ảnh và khi áp dụng công thức thấu kính phải biết dự đoán có
phân tích rằng ảnh thu được ở khoảng cách là bao nhiêu, phải biết xác định tính chất của ảnh,
độ lớn của nó, hay cần phải đặt vật ở khoảng cách là bao nhiêuđể thu được một ảnh xác
định,độ tụ của thấu kính là bao nhiêu v.v
Thông thường học sinh biết công thức của thấu kính. Tuy nhiên trong khi giải các bài tập
một công thức thấu kính là không đủ, bởi vì trong phương trình được lập ra dựa trên công thức thấu
kính có hai ẩn số. ở đây không phải lúc nào học sinh cũng biết cách đưa thêm các công thức khác
thuộc về tháu kính như công thức tính độ phóng đại và độ tụ của thấu kính, để có đủ số phương
trình cần cho việc giải bài tập đã cho. Đôi khi học sinh gặp khó khăn trong việc áp dụng công thức thấu kính cũng là do chưa có sự
hiểu biết rõ ràng về qui tắc lấy dấu của các đại lượng đưa vào công thức.
Học sinh cần nắm rõ đối với ảnh ảo trong công thức thấu kính cũng như trong công
thức tính độ phóng đại, khoảng cách từ nó đến thấu kính có dấu âm.
Cần có các bài tập về thấu kính được đưa vào bài kiểm tra giúp ta kiểm tra tất cả các
vấn đề nêu trên.
Trong khi nghiên cứu quang học, học sinh học sinh sẽ trau dồi và phát triển thêm những
kỹ năng và kỹ xảo thực hành, cần thiết và thực tế cần sử dụng sau này .Đó là các kỹ năng và
kỹ xảo dưới đây : đo các kích thước dài bằng thước hay thước dây, kiểm tra đường thẳng
trong phép vẽ đường đi của các tia sáng, sử dụng thấu kính với tính cách là một dụng cụ
quang học, sử dụng nguồn sáng ( đèn chiếu sáng với bóng đèn điện nhỏ sáng dưới hiệu điện
thế thấp ), sử dụng ácqui hoặc pin, lắp các mạch điện, vẽ đường đi của các tia sáng trong các
dụng cụ quang học
Học sinh lớp 11 cần phải biết xác định bằng thực nghiệm chiết suất của thuỷ tinh hay của
nước, xác định bằng thực nghiệm tiêu cự và độ phóng đại của thấu kính cần phải kiểm tra
những kiến thức thực hành thiết yếu này của học sinh.
3.2.4. Xây dựng hệ mục tiêu quang hình học vật lý 11 THPT
Giữa mục tiêu môn học với kiểm tra đánh giá có mối quan hệ chặt chẽ và biện chứng
hình học Vật Lý lớp 11 nâng cao.
* Ma trận mục tiêu
Nhìn vào bảng tổng hợp trên ta thấy, do số lượng mục tiêu cụ thể là nhiều nên việc kiểm tra,
kiểm tra đánh giá phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, theo một quy trình để đảm bảo được
kiểm tra, kiểm tra đánh giá được toàn bộ mục tiêu đã xác định .
Đây là kết quả của việc phân tích nội dung và mục tiêu của phần quang hình học, đồng
thời làm căn cứ khoa học của việc kiểm tra đánh giá và dạy,học. Ta có một dàn bài để kiểm tra
đánh giá toàn diện học sinh, từ đó ra đề phủ kín toàn bộ chương trình, kiểm tra đánh giá chính
xác kết quả học tập của học sinh
3.2.5.Viết các câu hỏi để kiểm tra đánh giá các mức trí năng khác nhau trong phần quang
hình học vật lý 11 nâng cao( theo mục tiêu môn học).
3.2.5.1. Biết(knowledge)
ở mức độ này chỉ đòi hỏi học sinh nhớ lại các kiến thức đã thu nhận được.
Câu1.Phát biểu nào sau đây là sai khi nói về đường đi của một tia sáng về đường đi của một
tia sáng qua thấu kính hội tụ đặt trong không khí:
A. tia tới qua quang tâm O cho tia ló truyền thẳng.
B. tia tới thấu kính có phương không qua quang tâm O thì cho tia ló luôn có hướng
lệch ra xa trục chính so với hướng của tia tới
C. tia tới có phương song song với trục chính của thấu kính cho tia ló đi qua tiêu
điểm chính.
D. tia tới đi qua tiêu điểm chính cho tia ló có phương song song với trục chính.
Trong câu hỏi này học sinh chỉ cần nhớ các kiến thức đường đi của các tia sáng qua thấu
kính hội tụ và phân kỳ thì trả lời ngay được phương án là B.Tương tự như vậy ở câu 2
Câu 2.Phát biểu nào sau đây là đúng khi nói về đường đi của tia sáng qua thấu kính phân kì
đặt trong không khí. A. Tia tới qua quang tâm cho tia ló có phương đối xứng với tia tới qua trục chính.
B. Tia ló bao giờ cũng có hướng lệch ra xa trục chính so với hướng của tia tới.
C. Tia tới đi qua tiêu điểm chính cho tia ló có phương song song với trục chính.
C. dịch vào gần thấu kính.
D.dịch chuyển đi nhưng chưa biết chiều nào.
Để trả lời đúng học sinh phải biết công thức thấu kính và hiểu mối quan hệ giữa các đại
lượng trong công thức. Đáp án là C.
Câu 2. Nhận định nào sau đây là sai?
A.Trong kính hiển vi, tiêu cự của vật kính nhỏ hơn rất nhiều so với tiêu cự của thị kính
B. Trong kính thiên văn, tiêu cự của vật kính lớn hơn rất nhiều so với tiêu cự của thị
kính
C.Từ hai nhận xét A và B ta rút ra kết luận: Kính thiên văn có thể chuyển thành kính
hiển vi(và kính hiển vi thành kính thiên văn) nếu ta đổi thị kính bằng vật kính và vật kính
bằng thị kính
D.Kính thiên văn là dụng cụ quang học bổ trở, cho phép ta quan sát những vật ở rất xa
và kính hiển vi quan sát các vật nhỏ ở gần.
Câu 3. Vì sao khi dùng kính lúp ta thường sử dụng cách ngắm chừng ở vô cực?
A.Vì ở đây ảnh nhìn rõ nhất
B. Vì ở đây ảnh có độ phóng đại lớn nhât
C. Vì ở đây ảnh có độ bội giác lớn nhất.
D.Vì ở đây mắt không phải điều tiết,độ bội giác không phụ thuộc vào vị trí mắt.
ở câu hỏi này người học biết được cách ngắm chừng ở vô cực và hiểu đặc điểm, tiện
lợi của cách ngắm chừng này. Đáp án là D. Với câu hỏi tiếp theo học sinh trả lời đúng khi
biết điểm cực viễn và hiểu điểm cực viễn có các đặc điểm gì!
Câu 4. Điều nào sau đây là đúng khi nói về điểm cực viễn của mắt
A. Điểm cực viễn là vị trí xa mắt nhất, mắt còn nhìn rõ vật
B. Điểm cực viễn là vị trí mà khi đặt vật tại đó, cho ảnh thật hiện đúng trên võng mạc
khi mắt không điều tiết
C. Điểm cực viễn là vị trí mà khi đặt vật tại đó mắt có thể nhìn thấy nếu điều tiết tối đa
D. A,B,C đúng .
Câu5. Độ bội giác của kính hiển vi khi ngắm chừng ở vô cực:
A. tỉ lệ thuận với cả hai tiêu cự của vật kính và thị kính
B. tỉ lệ thuận với tiệu cự của vật kính và tỉ lệ nghịch với tiêu cự của thị kính
A. – 40 cm. B. 40 cm. C. 40 cm. D. – 0,04 m.
Để trả lời đúng câc câu hỏi 1 đến 5 ở mục này học sinh phải biết công thức tính độ tụ
của thấu kính mỏng
1
f
= (n - 1 ) (
1
1
R
+
2
1
R
) (biết) và ý nghĩa của các đại lượng khác
nhau có trong công thức ( hiểu ) từ đó áp dụng để trả lời được các câu trả lời
3.2.5.4. Phân tích, tổng hợp ( analyis, synthesis) Học sinh thực hiện các hoạt động tách các yếu tố của một sự vật, một vấn đề sao cho
làm xuất hiện trật tự và quan hệ giữa các yếu tố đó: tìm các yếu tố, tìm các mối quan hệ, tìm
các nguyên tắc thiết lập sự vật hiện tượng.Với mức độ tổng hợp thì cần tập hợp các yếu tố
nhắm hình thành một tổng thể.
Câu 1.Thấu kính phân kì có f = - 12 cm trong không khí. Thấu kính một mặt lồi, một mặt
lõm, bán kính mặt nàycó trị số gấp đôi bán kính mặt kia , chiết suất của thấu kính là n = 1,5.
tính bán kính mặt cầu.
A.6 cm và - 3 cm. B.3 cm và - 6 cm. C 9 cm và 18 cm . D. Một đáp án khác.
Câu 2 . Thấu kính hội tụ tiêu cự 20 cm đặt trong không khí, thấu kính có một mặt cầu lồi,
một mặt cầu lõm có trị số bán kính gấp đôi nhau, chiết suất của chất làm thấu kính là 1,5.
Tính bán kính của các mặt cầu.
A.6 cm và - 3 cm. B.3 cm và - 6 cm. C 10 cm và 5 cm . D 9 cm và 18 cm
D. Dịch một đoạn bằng 2h cùng hướng dịch chuyển của thấu kính .
Học sinh phải biét về ảnh của một điểm sáng và hiểu các đường đi của các tia sáng qua
thấu kính, áp dụng vào câu hỏi để vẽ .Đồng thời phải căn cứ vào hình vẽ phân tích thấy rõ
mối quan hệ giữa độ dịch chuyển của thấu kính và độ di chuyển của ảnh từ đó tổng hợp các
kiến thức để trả lời
3.2.5.5. Đánh giá ( avaluation)
ở mức độ này học sinh được đòi hỏi phải kiểm tra đánh giá, chẳng hạn sự nhất quán
của các tài liệu đã chế tác, giá trị của các quá trình thực nghiệm hoặc việc giải thích các dữ liệu. Đánh giá chất lượng vật liệu, sự vật, hiện tượng. Đánh giá tính hợp lý của các hoạt động,
quy trình
Câu 1.Điều nào sau đây là đúng khi nói về tật cận thị của mắt?
A.Mắt cận thị là mắt không nhìn rõ được những vật ở xa
B.Đối với mắt cận thị khi không điều tiết tiêu điểm của thuỷ tinh thể nằm trước võng
mạc
C.Điểm cực cận của mắt cận thị ở gần mắt hơn so với mắt bình thường
D. A,B,C đều đúng.
Học sinh biết tật cận thị là gì, hiểu các đặc điểm của mắt cận thị, áp dụng các kiến
thức này kiểm tra đánh giá đúng sai từ đó học sinh chọn phương án trả lời.
Câu 2. Khi nào độ bội giác của kính lúp không phụ thuộc vị trí của vật trước kính lúp?
A. Kính đặt cách mắt một khoảng bằng tiêu cự của kính.
B. Kính cách mắt một khoảng bằng nửa tiêu cự của kính.
C. Kính sát mắt .
D. Kính cách mắt một khoảng 2 lần tiêu cự của kính.
Để trả lời học sinh cần biết cách ngắm chừng , hiểu được công thức tính độ bội giác,
đồng thời áp dụng tính toán, phân tích kết quả tính toán, kiểm tra đánh giá ,nhận xét các kết
quả từ đó có câu trả lời là A.
Câu 3. Nhận định nào sau đây là sai?
A.Trong kính hiển vi, tiêu cự của vật kính nhỏ hơn rất nhiều so với tiêu cự của thị