Nghiên cứu cải tiến quy trình tổ chức kiểm tra đánh gia kết quả học tập của sinh viên tại Khoa Du lịch - Viện Đại học Mở Hà Nội - Pdf 25

ỳịf* m
i l - c
J
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SưPHẠM
LÊ QUỲNH CHI
NGHIÊN cúu CẢI TIẾN QUY TRÌNH Tổ CHỨC KIỂM TRA -
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
TẠI KHOA DU LỊCH - VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
■ m m ■ ■ •
LUẬN VÃN THẠC sĩ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
NGUỒI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PG S.TS L Ê ĐỨC NGỌC
ĐAI H Ọ C Q UỐ C G IA HÀ NỘI
[RUNG TẤM THÒNG TIN ÍHƯ VIỆN
3UNG TẤM THÒNG ĩir
V J L g Z M .
HÀ NỘI - 2006
4
7
7
7
8
8
9
11
12
16
18
18

Chương 2
THỰC TRẠNG QUY TRÌNH T ổ CHỨC KIỂM TRA -
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
TẠI KHOA DU LỊCH - VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Tổng quan về Viện Đại học Mở HN và Khoa Du lịch
Viện Đại học Mở Hà Nội
2.1.2 Khoa Du lịch 33
2.2 Thực trạng quy trình tổ chức kiểm tra - đánh giá kết quả 36
học tập của sinh viên tại Khoa Du lịch - Viện ĐH Mở HN
2.2.1 Thực trạng quy trình tổ chức kiểm tra kết quả học tập tại Khoa 36
Du lịch - Viện Đại học Mở Hà Nội
2.2.ỉ.1 Xác định mục tiêu kiểm tra 36
2.2.ỉ.2 Xây dựng bảng trọng s ố của bài kiểm tra 36
2.2.1.3 Lập các câu írắc nghiệm 40
22.1.4 Lập các đề thi trắc nghiệm 41
2.2.1.5 Chuẩn bị bài làm cho sinh viên 42.
2.2.1.6 TỔ chức thi 42
2.2.1.7 Tổ chức chấm thi 44
2.2.1.8 Đánh giá cán hỏi và đề thi trắc nghiệm khách quan, xây 46
dựng quỹ câu hỏi, tổ chức trả bài thi
2.2.2 Thực trạng quy trình đánh giá kết quả học tập của sinh viên 47
tại Khoa Du lịch - Viện Đại học Mở HN
2.3 Kết luận chương 48
Chươne3
ĐỂ XUẤT CẢI TIẾN QUY TRÌNH Tổ CHỨC KIỂM TRA -
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
TẠI KHOA DU LỊCH - VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
3.1 Mục tiêu của quy trình tổ chức kiểm tra - đánh giá đề xuất 49
3.2 Quy trình kiểm tra - đánh giá đề xuất 52
3.2.1 Lập kế hoạch kiểm tra - đánh giá 52

3.4 Kết luận chương 72
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 78
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chất lượng dạy và học luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu đối
với ngành giáo dục. Có thể nói, với bất cứ cơ sở đào tạo nào chất lượng đào
tạo luôn là vấn đề sống còn và được đặt lên hàng đầu. Có nhiều yếu tố ảnh
hưởng và góp phần quyết định đến chất lượng dạy và học. Đó là những yếu
tố như mục tiêu dạy học, phương pháp dạy học, nội dung dạy học, đội ngũ
giáo viên, đối tượng dạy học và kiểm tra - đánh giá kết quả học tập. Kiểm
tra đánh giá có vai trò rất lớn nếu không nói là ảnh hưởng quyết định chất
lượng quá trình giảng dạy và học tập. Khi đề cập đến vai trò quyết định của
kiểm tra - đánh giá kết quả học tập đối với chất lượng dạy và học, có nhận
định cho rằng kiểm tra như thế nào sẽ có cách dạy và học tương ứng. Chính
vì vậy để đảm bảo chất lượng dạy học cần thiết phải quan tâm đến công
đoạn cuối cùng của quá trình dạy học này. Phụ thuộc vào nội dung dạy học
và đối tượng dạy học mà có cách thức kiểm tra - đánh giá phù hợp. Tuy
nhiên để đảm bảo chất lượng cũng như sự công bằng trong đánh giá kết quả
học tập giữa những môn học cũng như đối tượng học khác nhau cần tiến
hành theo một quy trình thống nhất.
Với tư cách là giảng viên giảng dạy tại Khoa Du lịch - Viện Đại học
Mở Hà Nội, nhận thức được tầm quan trọng của kiểm tra - đánh giá kết quả
học tập của sinh viên đối với chất lượng dạy và học, cũng như những vấn đề
đang còn tồn tại trong hoạt động này tại đơn vị của mình, tỏi đã lựa chọn đề
tài "Nghiên cứu cải tiến quy trình tổ chức kiểm tra - đánh giá kết quả học
tập của sinh viên tại Khoa Du lịch - Viện Đại học Mở Hà N ội” làm Luận
văn tốt nghiệp.

5
Giới hạn nội dung: Luận văn nghiên cứu nhằm đề xuất những cải
tiến quy trình tổ chức kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ chính
quy đối với các môn thi viết tại Khoa Du lịch - Viện Đại học Mở Hà Nội.
7. Những luận điểm cần bảo vệ
Để việc kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại Khoa Du
lịch - Viện Đại học Mở Hà Nội có ý nghĩa, phản ánh đúng chất lượng dạy -
học cần thiết phải đổi mới quy trình thực hiện.
8. Những đóng góp của Luận văn
- Hệ thống hoá các cơ sở lý luận có liên quan đến luận văn.
- Phân tích thực trạng quy trình tổ chức kiểm tra - đánh giá kết
quả học tập của sinh viên hệ chính quy tại Khoa Du lịch - Viện Đại học Mở
Hà Nội.
- Đề xuất cải tiến quy trình tổ chức kiểm tra - đánh giá kết quả học
tập của sinbr viên hệ chính quy tại Khoa Du lịch - Viện Đại học Mở Hà Nội.
- Bước đầu áp dụng những cải tiến đề xuất trong việc kiểm tra -
đánh giá kết quả học tập một môn học đối với sinh viên hộ chính quy thuộc
Khoa Du lịch - Viện Đại học Mở Hà Nội.
9. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp các tư liệu liên quan
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp thống kê xử lý kết quả nghiên cứu
10. Kết cấu luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn
được trình bày trong 3 chương:
Chương Ị. Cơ sở lý luận về quản lý và kiểm tra - đánh giá kết quả học tập
của sinh viên
Chương 2. Thực trạng quy trình tổ chức kiểm tra - đánh giá kết quả học tập
của sinh viên tại Khoa Du lịch - Viện Đại học Mở Hà Nội
Chương 3. Đề xuất cải tiến quy trình tổ chức kiểm tra - đánh giá kết quả
học tập của sinh viên tại Khoa Du lịch - Viện Đại học Mở Hà Nội

có thể thực hiện thành công có kế hoạch đặt ra và đạt được mục tiêu tổng
thể của tổ chức.
- Lãnh đạo ( c h ỉ đạo): trên cơ sở kế hoạch đã được lập ra của tổ
chức, để bộ máy tổ chức hoạt động đúng theo bản kế hoạch đã đề ra đó
cũng là một chức năng của quản lý và đó Ịà chức năng chỉ đạo.
- Kiểm tra đánh giá: kiểm tra đánh giá là một chức năng của quản
lý. Trên cơ sở xem xét, kiểm tra tình hình thực tế để tiến hành đánh giá và
nhờ đó tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của tổ chức để đặt kế hoạch, phát huy
điểm inạnh, khắc phục điểm yếu từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả
của tổ chức . [4]
1.2. Khái niệm và chức năng của kiểm tra và đánh giá
1.2.1. Kiểm tra và các chức năng của kiểm tra
Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học đã đưa ra khái niệm kiểm
tra là "xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [19].
Kiểm tra cũng có thể hiểu là việc thu thập những dữ liệu, thông tin về
một lĩnh vực nào đó làm cơ sở cho việc đánh giá. Trong lý luận dạy học
quan niệm kiểm tra là trước đây chỉ ở giai đoạn kết thúc của quá trình dạy
học, ngày nay phải được diễn ra trong suốt quá trình dạy học, đảm nhận
một chức năng lý luận dạy học cơ bản, chủ yếu không thể thiếu được của
quá trình dạy học. Chức năng đó gồm 3 chức năng bộ phận: đánh giá, phát
hiện sai lệch và điều chỉnh.
- Đánh giá kết quả học tập của sinh viên là quá trình xác định trình
độ đạt tới những chỉ tiêu của mục đích dạy học, xác định xem khi kết thúc
8
một giai đoạn quá trình dạy học đã đạt được đến mức độ nào về kiến thức,
kỹ năng và trình độ tư duy
- Phát hiện sai lệch (theo lý thuyết thông tin): việc kiểm tra sẽ phát
hiện ra những mặt đã đạt được và chưa đạt được mà mục tiêu món học đề ra
đối với sinh viên, qua đó tìm được những khó khăn và trở ngại trong quá
trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng Xác định được những nguyên nhân bất

lượng trình độ kiến thức, kỹ năng của một học sinh. Số lượng giá là bước
trung gian giữa số đo và đánh giá, nó làm sáng tỏ trình độ (tương đối) của
một sinh viên trong tập thể lớp, khoá so với yêu cầu của chương trình môn
học, nhưng nó chưa trực tiếp nói lèn thực chất trình độ của sinh viên đó.
Từ số đo và lượng giá chúng ta tiến hành đánh giá iheo chuẩn, là so
sánh số đo của mỗi cá nhân trong tổng hợp chung của lớp.
Lượng giá theo tiêu chí: đây là việc đối chiếu số đo của một sinh viên
với những tiêu chí để ra.
♦ Các loại đánh giá: Trong giáo dục có 6 nội dung đánh giá chính:
1/đánh giá mục tiêu đào tạo đáp ứng với yêu cẩu của kinh tế - xã hội,
2/đánh giá chương trình/ nội dung đào tạo, 3/đánh giá quá trình đào tạo,
4/đánh giá sản phẩm đào tạo đáp ứng mục tiêu đào tạo, 5/đánh giá tuyển
dụng, 6/đánh giá kiểm định công nhận cơ sở đào tạo.
Bản thân, trong đánh giá quá trình đào tạo (nội dung 4/) lại bao gồm
các loại đánh giá khác nhau tuỳ theo mục tiêu đánh giá đó là đánh giá xếp
loại, đánh giá chẩn đoán, đánh giá hình thành và đánh giá tổng kết.
- Đánh giá xếp loại: được dùng để đánh giá tình trạng đầu vào của
sinh viên, nó xác định kiến thức và kỹ năng mà người học có được và là cần
thiết khi bắt đầu giảng dạy một lĩnh vực chuyên môn nào đó.
10
Đánh giá xếp loại chỉ ra cho giáo viên những quan tâm và đặc tính cá
nhân của người học và những thông tin này sẽ giúp cho người giáo viên sứ
chins phương pháp giảng dạy có lợi nhất cho học sinh. Trắc nghiệm khả
năng, trắc nghiệm khả năng sẩn sàna, các bảng liệt kê và quan sát là những
dạng của đánh giá xếp loại.
- Đánh giá quá trình: cung cấp cho sinh viên sự phản hồi đối với
thành công hay thất bại của họ trong quá trình họ vươn tới các mục tiêu
2Ĩảng dạy, nó chỉ ra các sai lầm trong quá trình học mà họ cần sửa chữa.
Đồng thời nó cũng góp phần tăng cường cho sự thực hiện thành công. Đối
với giáo viên, đánh giá quá trình cung cấp thông tin để tiến hành công việc

nghiệm điều khuyết hay có câu trả lời chính là có câu trả lời ngắn, thích
hợp cho những vấn đề tính toán, cân bằng phương trình hoá học đánh giá
mức hiểu biết các nguyên lý, giải thích dữ kiện, diễn đạt ý kiến, thái độ. Nó
giúp sinh viên luyện trí nhớ khi học.
Bên cạnh những ưu điểm trên, hình thức kiểm tra này cũng có những
hạn chế nhất định đó là khi soạn thảo, các giáo viên thường có khuynh
hướng trích nguyên văn các câu từ sách giáo khoa. Giáo viên có thể hiểu
sai, đánh giá thấp các câu trả lời sáng tạo, khác với ý giáo viên nhưng vẫn
hợp lý, nhất là khi họ đọc thêm sách, tài liệu ngoài giáo trinh (hay gặp gõ' ở
các nhóm khoa học xã hội, nhân văn). Nhiều câu hỏi loại này thường ngắn
gọn, có khuynh hướng đề cập đến các vấn đề không quan trọng hoặc không
liên quan nhau. Phạm vi khảo sát thường chỉ giới hạn vào chi tiết, các sự
kiện vụn vặt. Các yếu tố: chữ viết, lỗi chính tả có để ảnh hưởng tới việc
đánh giá câu trả lời. Chấm bài mất nhiều thời gian hơn so với loại trắc
nghiệm “đúng - sai” có nhiều câu trả lời cho sấn để chọn. Khi có nhiều chỗ
trống trong câu hỏi, học sinh có thể rối trí. Kết quả là điểm số thường có độ
1.2.3.1. Trắc nghiệm khách quan
12
tương quan cao với mức thông minh hơn là với thành quả học tập. Do đó độ
siá trị của bài thi giảm đối với việc đo tiếp thu kiến thức vì thực ra khi đó
giáo viên đang đo lường mức độ thông minh Nhưng, mặt khác loại cáu
hỏi này lại đáp ứng được khả năng đo lường năng lực nhận thức và năng lực
tư duy cao của người học qua trí thông minh.
♦ Loại đúng - sai. Loại này sinh viên đọc những câu phát biểu và
phán đoán xem nội dung hay hình thức của câu ấy đúng hay sai. Loại cãu
hỏi này phù hợp nhất cho việc khảo sát trí nhớ những sự kiện, hay nhận biết
các sự kiện. Cũng giống như loại trắc nghiệm điền khuyết hay có câu trả
lời, loại đúng sai cũng có những un điểm và hạn chế nhất định.
Đàv là loại câu hỏi đơn giản nhất để trắc nghiệm kiến thức và các sự
kiện, loại này giúp cho việc trắc nghiệm bao gồm một lĩnh vực rộng lớn

nghĩa kê trong cột thứ hai. Câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng, đặc biệt rất
thích hợp khi cần thẩm định các mục tiêu ở mức tư duy thấp. Khi được soạn
kỹ, đòi hỏi học sinh phải chuẩn bị tối trước khi thi, thì yếu tố đoán mò, may
rủi giảm đi nhiều. Loại ghép đôi thường được xem như thuận tiện nhất
trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức, hay xác lập các mối
liên quan. Nếu được soạn thảo kỹ, loại này còn có có thể được dùng như
loại có nhiều câu chọn trả lời cho sẩn để trắc nghiệm những mức trí năng
cao hơn. Hạn chế của câu hỏi ghép đôi là vì muốn soạn thảo câu hỏi để đo
các mức kiến ihức cao đòi hỏi nhiều công phu nên một số giáo viên chỉ
dùng loại câu hỏi ghép đôi để trắc nghiệm lượng các kiến thức về: ngày,
tháng, tên, định nghĩa, biến cố, công thức, dụng cụ để lập các hệ thức,
phân loại. Trắc nghiệm loại ghép đôi cũng không thích hợp cho loại thẩm
định các khả năng như: sắp đặt và áp dụng kiến thức, nguyên lý. Người học
sẽ mất nhiều thời gian để đọc cả một cột dài mỗi lẩn muốn ghép một đôi
nếu danh sách trong cột quá dài (như gồm 25 phần tử chẳng hạn). Mặc dù
so với tự luận, thì loại này có tính khách quan hơn khi chấm bài, nhưng so
với loại “đúng - sai” và loại nhiều lựa chọn, thì loại này vẫn thiếu yếu tố
14
khách quan lúc chấm điểm, khó thiết kế để dùng phương pháp chấm bans
máy.
♦ Loại cậu hỏi có nhiều phương án trả lòi để lựa chọn. (MCQ).
Loại này gồm một câu dẫn hay câu hỏi đi với nhiều câu chọn trả lời để thí
sinh lựa chọn khi làm bài. Các câu trả lời cho mỗi câu hỏi có dạng giống
nhau, gồm một từ, một cụm từ hay một câu hoàn chỉnh. Thí sinh thường
phải chọn một câu trả lời đúng hay hợp lý nhất. Đây là loại trắc nghiệm
khách quan thông dụng nhất. Các câu hỏi loại này có thể dùng thẩm định trí
nhớ, mức hiểu biết, khả năng áp dụng, phân tích, tổne hợp hay ngay cả khả
năng tư duy phán đoán cao hơn. [8]
Loại câu hỏi này có nhiều ưu điểm: Có thể đo được khả năng tư duy
khác nhau. Có thể dùnơ loại này để kiểm tra, đánh giá những mục tiêu

Có thể so sánh ưu và nhược điểm chính của các loại trắc nghiệm
khách quan qua Bảng 1. Từ Bảng 1, ta thấy trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm
khách quan đều có những ưu điểm và hạn chế riêng, tuỳ theo mục tiêu cần kiểm
tra, đánh giá mà lựa chọn loại câu hỏi trắc nghiệm cho phù họp.
1.2.3.2. Trắc nghiệm tự luận
Bảng 1. Đánh giá các dạng câu hỏi trắc nghiệm khác nhau [18]
Yếu tố Tự luận
hoặc vấn
đáp
Trả lời
ngán
Đúng^ai;
ghép đỏi;
nhiều lụa
chon
Đo lường khả năng của người học về năng lực
lựa chọn, sắp xếp, tổng hợp các ý tưởng của
mình và diễn đạt nó một cách mạch lạc
+ + +
Ngăn ngừa các cảm giác mơ hồ về kết quả của
bài làm
-
+ +
Có giá trị chẩn đoán cao
- + +
16
Câu trả lời không thể suy ra từ quá trình loại trừ
+ +
+ +
-

Khi được soạn kỹ, câu hỏi tự luận có thể tạo cho sinh viên cơ hội để
phân tích và tổng hợp dữ kiện theo lời văn riêng của mình, dựa trên kinh
nghiêm có được. Đối với loại trắc nghiệm này, sinh viên có khả năng thể
hiện khả năng giải quyết vấn đề hay khả năng suy luận trong việc sắp đặt
các dữ kiện hay sự kiện, so sánh các tính chất hay ý kiến, giải thích rõ ràng
các định luật và quy tắc, ứng dụng các nguyên tắc vào những vấn để riêng
biệt cần giải quyết suy diễn từ những sự kiện đã biết
Ngược lại, loại trắc nghiệm khách quan có thể dùng kiểm tra, đánh
giá khả năng nhớ những sự kiện hay kiến thức tốt hơn loại tự luận. Bên cạnh
đó, dạng trắc nghiệm này cũng có thể dùng để thẩm định các khả năng suy
luận, giải quyết vấn để ở những mức trí lực cao hơn.
OA\ HỌC QUỔC GIA HẢ NOi
ÍRUNG TÂM THỐNG TIN THỰ VIỂN
V - L O / l
H
Đối với trắc nghiệm tự luận thường cho phép đánh giá một số ý kiến
trong thời gian hạn định, loại trắc nghiệm khách quan có thể đánh giá một
sổ kiến thức rộng rãi, bao quát hơn. Ưu điểm này có được là do câu hỏi loại
tự luận cần nhiều thời gian hơn để có thể trá lời một câu hỏi, Irons khi đó,
các câu hỏi loại trắc nghiệm khách quan có thể trả lời nhanh hơn.
Đối với những sinh viên thích được tự do diễn đạt ý tưởng sẽ thích
loại câu hỏi tự luận hơn. Việc chấm điểm loại trắc nghiệm khách quan sẽ
nhanh hơn và chính xác hơn, do các câu trả lời đã được chọn sẩn. Nhừ đó,
với cùng một thời gian làm bài như nhau, loại trắc nghiệm khách quan
thường có độ tin cậy cao hơn loại tự luận. Loại tự luận đòi hỏi phải có nhiều
thời gian hơn để chấm bài, và điểm của cùng một bài thi do nhiều giáo viê
khác nhau chấm có thể sẽ có kết quả khác nhau, thậm chí cùne một «iáo
viên chấm vào những thời điểm khác nhau cũng có thể cho kết quả khác
nhau.
Một đé thi trắc nghiệm tự luận dễ soạn hơn bài thi loại trắc nghiệm

lý thuyét vừa
thưc hành
Học phần/
môn học
thuần thực
hành
- Bài trắc nghiệm giữa kỳ
(lần 1, lần 2 )
3 0 -1 0 % 40 - 20% 0 - 10%
- Bài trắc nghiệm thực hành
(lần 1, lần 2, lần 3 )
10-30%
80 - 60%
- Bài tiểu luận môn học
20 - 30%
- Bài trắc nghiệm kết thúc
học phần
50 - 60%
40 - 50% 20 - 30%
Tổng sô
100%
100%
100%
1.2.5. Quy trình kiểm tra ■ đánh giá kết quả học tập
1.2.5.1. Cơ sở để xây dựng quy trình kiểm tra - đánh giá
Việc xây dựng quy trình đánh giá cần dựa vào những nguyên tắc
chung sau:
19
- Đánh giá là một quá trình tiến hành có hệ thống để xác định phạm
vi đạt dược của các mục tiêu đã đề ra. Chính vì vậy điều tiên quyết là phải

mục tiêu của bài kiểm tra để làm gì. Với những mục tiêu khác nhau sẽ thiết
kế bài trắc nghiệm phù hợp. Những mục tiêu có thể là đánh giá tiếp thu
môn học, tuyển chọn sinh viên giỏi hay đánh giá giảng dạy của giảng
viên
- Điều kiên: kiểm tra nội dung nào của môn học, thời gian làm bài,
cách thức làm bài và cách chấm điểm
♦ Bước 2. Xây đựng bảng trọng số của bài trắc nghiệm
Bảng trọng số thể hiện mức độ quan trọng của từng nội đung đối với yêu
cầu về nhận thức và thực hành. Đối với bài trắc nghiệm kết quả học tập để
phân bổ trọng số cần dựa vào mục tiêu của môn học và xác định rõ phẩn
kiến thức nào là cốt lõi, phần bổ trợ và phần mở rộng. Ví dụ, Bảng trọns số
tiếp thu môn học có dạng sau
Bảng 3. Ví dụ bảng trọng số kiểm tra tiếp thu môn học [12]
Các phần
chương/mục
của môn học
Trọng sô'
cua moi
phần
Yêu cầu năng lực nhận thức
Nhớ
Hiểu Đánh giá
I 15

II
25
2
5 8 10
III 26


♦ Nguyên .tắc chính để lập câu dẫn là: câu dãn là câu đặt vấn đề do
đó cần ngắn gọn, súc tích, đảm bảo tính rõ ràng và hoàn chỉnh của vấn đề
hoặc nhiệm vụ được trình bày (bao gồm tất cả các thông tin cần thiết). Câu
dẫn phải mạch lạc, tránh “đánh lừa”, không dùng nhiều từ phủ định vì dễ
nhầm lẫn giữa khẳng định và phủ định.
♦ Nguyên tắc chính để lập câu lựa chọn: câu đúng phải chính xác,
không được gần đúng hoặc suy ra đúng. Để tăng độ khó của câu hỏi, câu
nhiễu cần phải có lý và có dạng giống câu đúng và có tính tương tự trong
cấu trúc câu trả lời. Để giảm tỷ lệ xác suất đoán mò cần xây dựng nhiều
phương án lựa chon.
22
♦ Bước 4. Lập các đề thi trắc nghiệm.
Các đề thi trắc nghiệm được lập bằng cách tổ hợp các câu hỏi trắc
nghiệm đã soạn, tỷ lệ các câu hỏi phải theo bảng trọng số. Thứ tự các câu hỏi
nên sắp xếp từ dễ đêh khó để kích thích sự hưng phấn tư duy của sinh viên.
♦ Bước 5. Chuẩn bị bài làm cho sinh viên
Đối với phương pháp kiểm tra theo hình thức trắc nghiệm khách
quan, lý tưởng nhất là có thể tổ chức kiểm tra trên máy vi tính đã có sẩn
chươníĩ trình trắc nghiệm và công bố ngay kết quả trên máy tính. Nếu tổ
chức thi theo hình thức trắc nghiệm trên giấy cần chuẩn bị bài làm theo
danh mục các câu hỏi tương ứng với đề thi đã ra và mỗi câu hỏi có 4-5
phương án lựa chọn để sinh viên đánh dấu chọn.
♦ Bước 6. Tổ chức thi
Cần chuẩn bị cho mỗi thí sinh một đề thi. Trong một phòng thi nên
dùng ít nhất 5 đề thi để tránh trao đổi. Tốt nhất là tạo 5 đề khác nhau từ
cùng số câu hỏi, nhưng khác nhau về thứ tự câu hỏi và câu chọn trả lời.
♦ Bước 7. Chấm và cho điểm
Chấm bài trên cơ sở tính phần trăm số câu trả lời đúng so với tổng số
câu hỏi rồi quy ra thang điểm 10.
Bước 8. Đánh giá câu hỏi và đề thi trắc nghiệm khách quan, xây dựng

Thang phân loại độ phân biệt quy ước như sau:
- Tỷ lệ thí sinh nhóm khá và nhóm kém trả lời đúng như nhau thì độ
phân biệt bằng Không.
- Tỷ lệ thí sinh nhóm khá trả lời đúng nhiều hơn nhóm kém thì độ
phân biệt là Dương.
- Tỷ lệ thí sinh nhóm khá trả lòi đúng ít hơn nhóm kém thì độ phân
biệt ỉà Âm.
Phân tích câu trắc nghiệm: để giúp ta biết và sửa chữa các cảu nhiễu,
làm thay đổi độ khó và độ phân biệt của các câu trắc nghiêm.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status