Thiết kế bài giảng môn sinh học trong chương
trình trung học phổ thông theo hướng làm tăng
hứng thú học tập của học sinh
Nguyễn Thị Liễn
Trường Đại học Giáo dục
Luận văn Thạc sĩ ngành: Lý luận và phương pháp dạy học; Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: TS. Phạm Văn Lập
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc thiết kế bài giảng môn Sinh học
trong chương trình THPT theo hướng làm tăng hứng thú học tập của học tập của học
sinh. Nghiên cứu nội dung môn Sinh học, điều tra thực trạng dạy học môn Sinh học
chương trình Trung học phổ thông và chọn lọc một số bài giảng và thiết kế các bài
giảng đó theo hướng làm tăng hứng thú học tập cho học sinh. Thực nghiệm sư phạm
nhằm trưng cầu ý kiến của học sinh và các đồng nghiệp về các bài giảng được thiết kế,
từ đó đánh giá tính khả thi của những bài giảng đó.
Keywords: Sinh học; Phổ thông trung học; Học sinh; Phương pháp giảng dạy; Thiết
kế bài giảng
Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở nước ta, đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề cấp thiết mang tính thời sự đối
với sự nghiệp giáo dục. Mục tiêu quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học là nhằm
phát huy tính tích cực chủ động của HS trong quá trình học tập. Nhưng để phát huy được tính
tích cực chủ động của HS trong quá trình học tập thì việc quan trọng nhất là phải tạo ra được
hứng thú học tập cho người học, người học càng thích thú, càng say mê với môn học thì càng
2.1. Những vấn đề đã nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài
Trên thế giới, những công trình nghiên cứu về hứng thú xuất hiện tương đối sớm và ngày
càng được phát triển.
Herbart (1776-1841) nhà tâm lý học, nhà triết học, nhà giáo dục học người Đức người
sáng lập ra trường phái giáo dục hiện đại ở Đức thế kỉ XIX đã đưa ra 4 mức độ của dạy học:
Tính sáng rõ, tính liên tưởng, tính hệ thống, tính phong phú, đặc biệt là hứng thú - yếu tố
quyết định kết quả học tập của người học.
Ovide decroly (1871-1932) bác sỹ và nhà tâm lý người Bỷ khi nghiên cứu khả năng tập
đọc và tập làm tính của trẻ đã xây dựng học thuyết về những trung tâm hứng thú và về lao
động tích cực.
I.K. Strong đã nghiên cứu “Sự thay đổi hứng thú cùng với lứa tuổi”. Từ những năm 1931
ông đã đưa ra quan điểm và phương pháp nghiên cứu hứng thú bằng bảng câu hỏi.
3
Năm 1938 Ch. Buher trong công trình “Phát triển hứng thú ở trẻ em” đã tìm hiẻu khái
niệm hứng thú.
Năm 1946 E.Clapade với vấn đề “Tâm lý trẻ em và thực nghiệm sư phạm” đã đưa ra khái
niệm hứng thú dựa trên bản chất sinh học. Trong giáo dục chức năng, Clapade đã nhấn mạnh
tầm quan trọng của hứng thú trong hoạt động của con người và cho rằng quy luật của hứng
thú là cái trục duy nhất mà tất cả hệ thống phải xoay quanh nó.
Từ những năm 1940 của thế kỷ XX A.F. Beliep đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về
“Tâm lý học hứng thú”.
Các nhà tâm lý học như S.L.Rubinstein, N.G.Morodov đã quan tâm nghiên cứu khái
niệm hứng thú, con đường hình thành hứng thú vf cho rằng hứng thú là biểu hiện của ý chí,
tình cảm.
John Deway (1859- 1952) nhà giáo dục học, nhà tâm lý học người Mỹ năm1896 sáng lập
nên trường thực nghiệm trong đó ưu tiên hứng thú của học sinh và nhu cầu của học sinh trong
từng lứa tuổi. Hứng thú thực sự xuất hiện khi cái tôi đồng nhất với một ý tưởng hoặc một vật
thể đồng thời tìm thấy ở chúng phương tiện biểu lộ.
Năm 1955 A.P.Ackhadop có công trình nghiên cứu về sự phụ thuộc của tri thức học viên
không đem lại hiệu suất đầy đủ nếu người ta không khêu gợi những động cơ nội tại của hoạt
động đó. Ông cho rằng mọi việc làm của trí thông minh đều dựa trênmột hứng thú, hứng thú
chẳng qua chỉ là một trạng tahí chức năng động của sự đồng hóa. Vậy từ những công trình
nghiên cứu trên ta có thể khái quát lịch sử nghiên cứu hứng thú trên thế giới chia làm các xu
hướng sau:
+ Xu hướng thứ I: Giải thích bản chất tâm lý của hứng thú. Đại diện cho xu hướng này là
A.F.Belaep [2]. Năm 1944 tác giả tiến hành thành công luận án tiên sĩ “Tâm lý học hứng
thú”, nội dung cơ bản của luận án là những vấn đề lý luận tổng quát về hứng thú trong tâm lý
học.
+ Xu hướng thứ II: Xem xét hứng thú trong mối quan hệ với sự phát triển nhân cách nói
chung và vốn tri thức của cac nhân nói riêng. Đại diện cho xu hướng này là L.L.Bogiovich
“Hứng thú trong quan hệ hình thành nhân cách”, Lukin, Levitop nghiên cứu “Hứng thú trong
quan hệ với năng lực”. L.P.Bơlagona Dejina, L.X.Xlavi, B.L.Mione lại xem xét “Hứng thú
trong mối quan hề với hoạt động”, các tác giả này đã coi hứng thú là động cơ ý nghĩa của hoạt
động. Trong xu hướng này còn có nhiều nhà nghiên cứu khác như: L.X.Rubinstein,
A.P.Daparozet, M.I.Boliep, L.A.Gođôn
+ Xu hướng thứ III: Nghiên cứu sự hình thành và phát triển hứng thú theo các giai đoạn lưa
tuổi. Đại diện là G.I.Sukina “Nghiên cứu hứng thú trẻ em ở các lưa tuổi”. D.P. Xalonhisu
nghiên cứu sự phát triển hứng thú nhận thức của tre mẫu giáo. V.G.Ivanop đã phân tích sự
phát triển và hứng thú của học sinh lớn trong trường trung học, V.N.Marosova nghiên cứu
“Sự hình thành hứng thú trẻ em trong điều kiện bình thường và trong điều kiện không bình
thường” năm 1957. Những công trình nghiên cứu này đã phân tích đặc điểm hứng thú của
từng lứa tuổi của trẻ.
2.2. Những vấn đề nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài
5
Nghiên cứu cách tạo ra hứng thú cho người học cũng không còn là vấn đề còn mới mẻ.
Năm 1960 Trương Anh Tuấn, năm 1970 Phạm Huy Thụ, năm 1980 Đặng Trường
Thanh nghiên cứu “Hứng thú bộ môn của học sinh cấp III”.
Năm 1973, Phạm Tất Dong [8] đã bảo vệ thành công luận án PTS ở Liên Xô với đề tài
6
lý giáo dục”. Tác giả đã đưa ra nguyên nhân gây hứng hứng thú là do ý nghĩa của môn học,
trình độ của học sinh, phương pháp giảng dạy của giảng viên.
Năm 1988, Vũ Thị Nho với đề tài “Tìm hiểu hứng thú với năng lực học văn của học sinh
lớp 6”. Đề tài đã tiến hành thực nghiệm để nghiên cứu bước đầu về hứng thú về năng lực học
văn của các em học sinh lớp 6.
Năm 1990, Imkock [15] trong luận án PTS nhan đề “Tìm hiểu hứng thú đối với môn toán
của học sinh lớp 8”, tác giả kết luận: Khi có hứng thú học sinh dường như cũng tham gia vào
tiến trình giảng bài cũng đi theo những suy luận của giảng viên nhờ quá trình nhận thức tích
cực.
Năm 1994 Hoàng Hông Liên với đề tài “Bước đầu nghiên cứu những con đường nâng cao
hứng thú cho học sinh phổ thông”, tác giả kết luận dạy học trực quan là biện pháp tốt nhất để
tác động đến hứng thú của học sinh.
Năm 1996, Đào Thị Oanh đã nghiên cứu về “Hứng thú học tập và sự thích nghi với cuộc
sống nhà trường của học sinh tiểu học”.
Năm 1998, Phạm Thị Thắng “Nghiên cứu sự quan tâm của cha mẹ đến việc duy trì hứng
thú học tập cho các em thanh thiếu niên”.
Năm 1995, Nguyễn Hoài Thu nghiên cứu “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học môn ngoại ngữ
của học sinh lớp 10 PTTH Hà Nội”.
Năm 1999, Lê thị Thu Hằng với đề tài “Thực trạng hứng thú học tập các môn lý luận của
sinh viên trường đại học TDTT I”, trong đó phương pháp, năng lực chuyên môn của giảng
viên là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hứng thú học tập của sinh viên.
Năm 2000 Trần Công Khanh [17] đã đi sâu nghiên cứu “Tìm hiểu thực trạng học tập môn
toán của học sinh THCS thị xã Tân An”. Kết quả cho thấy đa số học sinh trong diện điều tra
chưa có hứng thú học toán.
Năm 2001 Phạm Thị Ngạn nghiên cứu “Hứng thú học môn tâm lý học của sinh viên
trường cao đẳng sư phạm Cần Thơ” (Luận văn thạc sỹ Tâm lý học - Hà Nội 2002), tác giả đã
tiến hành biện pháp thử nghiệm nâng cao hứng thú học tập môn tâm lý học của sinh viên:
+ Cải tiến nội dung các bài tập thực hành.
Năm 2005 Phạm Mạnh Hiền nghiên cứu “hứng thú học tập của học viên thuộc trung tâm
phát triển kỹ năng con người Tâm Việt”, trong đó nổi bật lên phương pháp giảng dạy của
giảng viên có ý nghĩa to lớn tác động đến hứng thú học tập của học viên.
Năm 2005 Phan Thị Thơm trong nghiên cứu luận văn thạc sỹ “Hứng thú học tập môn Tâm
lý học đại cương của sinh viên trường đại học dân lập Đông Đô”, tác giả khẳng định: Phần
lớn sinh viên đã nhận thức vai trò của sự cần thiết tầm quan trọng của môn tâm lý học đại
cương đối với hoạt động học tập và công tác sau này của họ. Tuy nhiên sự nhận thức của sinh
viên về vai trò của môn tâm lý học đại cương chưa sâu sắc, chưa toàn diện, phần lớn sinh viên
chưa có biểu hiện thích thú chờ mong hài lòng với môn học này. Hành vi khi học tập môn học
này biểu hiện thiếu tích cực chưa chủ động sáng tạo khi học trên lớp cũng như ngoài giờ học
chưa chủ động tìm hiểu thêm các tài liệu tham khảo, chưa hăng hái thảo luận, tranh thủ với
thầy và bạn khi học môn Tâm lý học đại cương. Tác giả khẳng định:
8
+ Hứng thú học tập môn Tâm lý học chưa cao, chưa đồng đều.
+ Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học tập của sinh viên trong đó phải kể đến
yếu tố của giảng viên.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Sinh học ở trường phổ thông.
Đối tượng nghiên cứu: Các bài giảng môn Sinh học - chương trình THPT.
4. Mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề về lý luận dạy học làm tăng hứng thú với môn học và qua
đó thực hành thiết kế một số bài giảng cho môn sinh học ở bậc THPT nhằm tăng hứng thú của
học sinh với môn sinh học.
4.2. Mục tiêu nghiên cứu
Đưa ra các khái niệm hứng thú, hứng thú học tập, hứng thú học tập môn sinh học,
những yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học môn Sinh học và các phương pháp làm tăng hứng
thú học môn Sinh học.
Thiết kế 16 bài giảng trong chương trình Sinh học cơ bản ở 3 khối 10, 11, 12 theo
hoạt động theo nhiều kiểu khác nhau để làm tăng hứng thú học tập của học sinh.
9. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành giảng dạy trực tiếp trên các lớp học các bài giảng
môn Sinh học.
Phương pháp quan sát: Quan sát thái độ, hành động và quá trình học tập của học sinh,
đặc biệt là những thay đổi tâm lý với bài học.
Phương pháp phỏng vấn: Trực tiếp hỏi học sinh về các bài giảng đã thực hiện.
Phương pháp điều tra: Phát phiếu điều tra cho học sinh trả lời.
Phương pháp thống kê: Thống kê và xử lý các số liệu đã thu được ở phiếu điều tra.
10. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc thiết kế bài giảng môn Sinh học
trong chương trình THPT theo hướng làm tăng hứng thú học tập của học tập của học sinh.
Chương 2: Thiết kế một số bài giảng môn Sinh học nhằm nâng cao hứng thú cho
người học.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
References
TIẾNG VIỆT
1. Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành (2006), Lý luận dạy học Sinh học phần đại
2. Bêlaép M. F (1957), Tâm lý học hứng thú, luận án Tiến sĩ, Matxcơva.
10
3. Bộ Giáo dục - Đào tạo (2006), Chương trình giáo dục phổ thông môn Sinh học, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
4. Bộ Giáo dục - Đào tạo (2008), Sách giáo viên, Sinh học 12, NXB Giáo dục Hà Nội
5. Côvaliôp. A.G (1971), Tâm lý học cá nhân, Tập I, III, Nxb Giáo dục, Hà nội.
6. Daparogiet. A.V (1974), Tâm lý học, Nxb Giáo dục, Hà nội.
11
24. Menchinxkaia N.A (1972), Tâm lý học dạy học, Nxb Giáo dục, Hà nội.
25. Vũ Thị Nho (1985), Hứng thú nhận thức và con đường hình thành hứng thú nhận
thức, Tạp chí thông tin Khoa học giáo dục, số 8.
26. Đào Thị Oanh (1996), Hứng thú học tập và sự thích nghi với cuộc sống nhà trường
của học sinh bậc đầu tiểu học, Tạp chí Ngiên cứu Giáo dục, số 4.
27. Piagiet J. (1986), Tâm lý học và giáo dục học, Nxb Giáo dục, Hà nội.
28. Sukina G.I (1973), Vấn đề hứng thú nhận thức trong khoa học giáo dục, Tài liệu dịch
- Tổ tư liệu trường CĐSP Hà nội I.
29. Trần Trọng Thuỷ (chủ biên), Nguyễn Quang Uẩn, Lê Ngọc Lan (1998), Tâm lý học
(Giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học hệ CĐSP và SP 12 + 2), NXB Giáo dục, Hà Nội.
30. Trần Trọng Thuỷ (chủ biên) (1998), Tâm lý học đại cương, Nxb Giáo dục, Hà nội.
31. Nguyễn Huy Tú (1996), Tâm lý học giáo dục, tài liệu dành cho học viên cao học Tâm
lý học, Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội.
32. Nguyễn Quang Uẩn (Chủ biên) (1998), Tâm lý học đại cương, Nxb đại học Quốc gia,
Hà nội.
33. Nguyễn Khắc Viện (1991), Từ điển Tâm lý học, Nxb Ngoại văn, Hà nội.
34. Xôlôvâytrich L.X (1975), Từ hứng thú đến tài năng, Nxb Phụ nữ, Hà nội.
TIẾNG ANH
36. Linnell, Charles C (2004), Technology and Children, .
37. Roger Hightfield (2005), Sciênc Editor,
38. Sandstrom Kjellin, Margareta; Granlund, Mats (2006), European Journal of Special
Needs Education,
39. Strong E. K (1931), Change of interest with Age, Stanford university Press.