Phân tích Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 về khả năng áp dụng tại huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định - Pdf 10

ĐẶT VẤN ĐỀ
Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững
của đất nước. Công tác dân số trong giai đoạn hiện nay là một nội dung quan
trọng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng cuộc sống của từng
người, từng gia đình và toàn xã hội [15]. Do vậy công tác dân số và kế hoạch
hóa gia đình là nhiệm vụ của mỗi người, mỗi gia đình và mỗi xã hội cần
không ngừng nâng cao.
Ở Việt Nam công tác dân số kế hoạch hóa gia đình đã bắt đầu từ năm
1961. Trải qua hơn 50 năm, bằng sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước cùng với
sự tự nguyện tham gia của toàn dân cùng với sự cố gắng không ngừng của
những người trực tiếp thực hiện Chiến lược này, cho nên đến nay công tác
dân số kế hoạch hóa gia đình đã đạt được những kết quả đáng kể. Theo Tổng
cục Thống kê về Điều tra biến động DS-KHHGĐ 2011 thì dân số nước ta đã
có 87,8 triệu người [16]. Tỷ suất sinh đã giảm khá nhanh từ 3,8 con năm 1989
xuống 2,33 con năm 1999 xuống còn 2,0 con vào năm 2010 và đang đạt mức
sinh thay thế nhưng chưa thực sự vững chắc. Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh
thai tính đến năm 2011 là 78,2%. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm chậm, từ
21,7% năm 2002 xuống 20,8% năm 2005, 16,7% năm 2007 và 15,1% năm
2010 [16].
Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Dân số và sức
khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, với mục tiêu tổng quát là “
Nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy trì
mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số và phân
bố dân số, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước “ [15].
1
Trong thời gian qua, Tỉnh Bình Định nói chung và huyện Vân Canh nói
riêng đã có nhiều cố gắng thực hiện Chiến lược Dân số và Kế hoạch hóa gia
đình và đã mang lại nhiều kết quả tốt, góp phần vào sự phát triển nền kinh tế -
xã hội của tỉnh cũng như của huyện.

Năm 2002, Vụ dân số Liên hiệp quốc dự báo dân số thế giới năm 2050
sẽ đạt 8,9 tỷ người, nhưng theo một báo cáo mới đây gửi cho 47 thành viên
của Ủy ban Dân số và Phát triển Liên hiệp quốc, dân số thế giới sẽ đạt 7 tỷ
người vào năm 2012 và 9 tỷ người vào năm 2050.
Dân số Việt Nam cho tới những năm cuối thế kỷ XIX, sự gia tăng rất
chậm chạp. Từ đầu thế kỷ XX trở lại đây tốc độ gia tăng dân số nhanh. Nếu
chỉ tính từ năm 1975 đến 1990 số dân nước ta tăng thêm khoảng 18,6 triệu
người, trong khi đó ở Châu Âu chỉ tăng thêm 20 triệu. Như vậy sự bùng nổ
dân số ở nước ta đã diễn ra rất dữ dội. Dân số Việt Nam năm 1999 khoảng
76,3 triệu người, đứng thứ mười ba trên thế giới, đến năm 2009 là 85.846.997
người [16].
Quy mô dân số quá lớn sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế xã hội,
hủy hoại tài nguyên, suy thoái môi trường … và đe dọa sự sống còn của
con người.
Con người là chủ thể của mọi hoạt động trong xã hội. Mọi hoạt động
đều có vai trò của con người tham gia, con người sản xuất ra của cải vật chất,
đồng thời chính con người trở lại tiêu thụ những sản phẩm đó. Nếu kế hoạch
dân số bị phá vỡ, khả năng tiêu thụ lớn hơn nhiều lần so với sản xuất thì sẽ
kéo theo hàng loạt các khó khăn khác cho nền kinh tế - xã hội, đó là: sự mất
cân đối giữa tài nguyên đất đai, giữa nhu cầu học hành, chăm sóc sức khỏe
…, sự rối loạn về trật tự xã hội, đặc biệt sự gia tăng dân số lớn sẽ là người
bạn đồng hành của đói nghèo.
3
Dân số là đối tượng quản lý của mỗi quốc gia, nhà nước nào cũng
không thể không đặt vấn đề dân số là động lực, mục tiêu của chính sách kinh
tế - xã hội, Ăngghen đã khẳng định: “ Xã hội nào làm được việc điều chỉnh sự
sản sinh ra con người như điều chỉnh kinh tế thì mới lãnh đạo chủ động được
xã hội”.
Dân số phù hợp với sự phát triển là yếu tố cơ bản để xóa đói, giảm
nghèo, giảm tình trạng thất nghiệp, sử dụng ngày công lao động thấp, giảm

Đồng thời, Chiến lược Dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn
2011 - 2020 cũng đưa ra mục tiêu tổng quát: Nâng cao chất lượng dân số, cải
thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt
những vấn đề về cơ cấu dân số, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [15].
1.2. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH
Kế hoạch hóa gia đình là chủ động có con theo ý muốn của các cặp vợ
chồng, nhằm điều chỉnh số con và khoảng cách giữa các lần sinh. Không để
phải dẫn đến phá thai, hoặc đẻ quá nhiều con, đẻ quá dày, đẻ khi còn quá trẻ
hoặc đẻ khi đã nhiều tuổi. KHHGĐ không chỉ bao hàm việc lựa chọn sử dụng
biện pháp tránh thai mà còn là những cố gắng của các cặp vợ chồng để có thai
và sinh con (trong trường hợp khuyến khích sinh). Thực hiện KHHGĐ sẽ
mang lại lợi ích kinh tế, sức khỏe, học hành của con cái, góp phần ổn định
quy mô dân số, xã hội phồn vinh… Vì vậy, mỗi cá nhân, mỗi cặp vợ chồng
cần thực hiện KHHGĐ. Để thực hiện KHHGĐ, đối tượng cần được thông tin
đầy đủ về các phương tiện tránh thai, lựa chọn và sử dụng đúng cách biện
pháp tránh thai phù hợp.
1.2.1. Trên thế giới
5
Hiện nay dân số thế giới tăng lên với tỷ lệ chưa từng có, năm 2009,
dân số thế giới là 6,8 tỷ người, tăng 83 triệu so với năm 2008. Dân số thế giới
đạt 7 tỷ người vào cuối năm 2011, với hầu hết mức tăng diễn ra tại các quốc
gia nghèo nhất. Từ nay đến năm 2050, dân số các nước kém phát triển ở Châu
Phi, Châu Á, Mỹ La Tinh và vùng Caribe dự kiến sẽ tăng thêm 50%, trong đó
ở những quốc gia nghèo nhất, dân số sẽ tăng gấp đôi.
Năm 2011 TFR của thế giới là 2,5 con. Nếu chia theo mức độ phát
triển của các nước thì TFR của nhóm nước phát triển là 1,7 con, trong khi
nhóm nước kém phát triển là 4,5 con, còn nhóm nước đang phát triển là 2,6-
3,0 con. Như vậy, khoảng cách về mức sinh giữa các nước phát triển và các
nước đang phát triển là rất lớn. Trong khi nhóm các nước đang phát triển và

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 thì trong những năm đầu
của thập kỷ qua, tổng tỷ suất sinh có tăng và giảm với biên độ dao động nhỏ
(dưới 6%), nhưng từ năm 2006 đến nay xu thế giảm sinh là khá vững chắc và
đã đạt dưới mức sinh thay thế.
Đây được coi là thành công quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu
đầu tiên của Chiến lược Dân số - Kế hoạch hóa gia đình 2001 - 2010. Thành
công này không những giúp Việt Nam giảm được tốc độ gia tăng dân số
nhanh mà còn là cơ sở để tạo ra một bước chuyển đổi có tính căn bản trong
lĩnh vực sinh sản, chuyển từ sinh sản tự nhiên, với mức sinh rất cao sang sinh
đẻ tự chủ hay còn gọi là “sinh đẻ có kế hoạch”, với mức sinh hợp lý, tiến tới
đạt mức sinh duy trì trạng thái cân bằng của dân số.
Sự khác biệt về mức sinh giữa thành thị và nông thôn, năm 2009 bình
quân mỗi phụ nữ nông thôn có nhiều hơn 0,3 con so với phụ nữ thành thị.
Nguyên nhân của tình trạng này có thể là do tâm lý thích đông con nhiều cháu
7
vẫn còn đang khá phổ biến ở một số khu vực nông thôn và khả năng tiếp cận
dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình ở nông
thôn, đặc biệt vùng sâu, vùng xa còn kém hơn ở thành thị, khiến một số phụ
nữ vẫn còn gặp khó khăn trong việc hạn chế mang thai và sinh con ngoài ý
muốn. Ngoài ra tỷ lệ chết sơ sinh và chết trẻ em ở thành thị thấp hơn ở nông
thôn, cũng tác động làm giảm nhu cầu sinh thay thế ở khu vực này.
TFR, Trong 10 năm 1999 - 2009, của khu vực nông thôn giảm khá
ngoạn mục, từ 2,57 con/1 phụ nữ xuống còn 2,14 con/1 phụ nữ, gần đạt mức
sinh thay thế. Trong khi con số đó của khu vực thành thị gần như không thay
đổi đáng kể xung quanh 1,80 con/1 phụ nữ. Trong 10 năm qua chất lượng
cuộc sống được nâng cao và cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh
sản được cải thiện. Việc cung cấp thông tin về hiệu quả của lợi ích sinh ít con
đối với phụ nữ ở khu vực nông thôn được coi là một trong những nguyên
nhân cơ bản góp phần thu hẹp khoảng cách khác biệt về mức sinh giữa thành
thị và nông thôn.

năm tăng 2.574 người. Tốc độ tăng dân số năm 2009 so với năm 1999 là
1,8%, bình quân thời kỳ 1999-2009 tăng 0,2%/năm, đây là thời kỳ có tỷ lệ
tăng dân số thấp nhất trong vòng 30 năm qua. Các tỷ lệ này của thời kỳ 1979-
1989 là 8,3% và 0,8%/năm; thời 1989-1999 là 17,3% và 1,6%/năm. Ba huyện
miền núi có kinh tế và văn hóa kém phát triển, người dân tộc thiểu số khá
đông (chiếm 36,2% tổng dân số ba huyện), mức sinh cao, dân số ổn định.
Năm 2009, tuy dân số chỉ chiếm 5,2% tổng số dân toàn tỉnh, nhưng có tốc độ
tăng 9,7% và tỷ lệ tăng bình quân cao nhất, đạt 0,9%. Trong thời kỳ 1999-
2009, người Bana, người Chăm có dân số ổn định, mức xuất cư ra khỏi tỉnh
không đáng kể và có mức sinh khá cao nên người Bana có tốc độ tăng bình
quân hàng năm 1,8%, người Chăm tăng 2% [9].
9
Tổng tỷ suất sinh của tỉnh đã giảm mạnh, từ 2,67 con/phụ nữ năm 1999
xuống còn 2,22 con/phụ nữ năm 2009. Tuy nhiên, có sự khác biệt rất lớn về
mức sinh giữa thành thị và nông thôn. Năm 2009 ở khu vực thành thị là 1,89
con/phụ nữ thấp hơn nhiều so với 2,39 con/phụ nữ ở khu vực nông thôn.
Nguyên nhân của sự khác biệt này đó là: ở khu vực thành thị tiếp cận các
nguồn thông tin dễ dàng, có nhận thức tốt hơn về lợi ích của gia đình sinh ít
con, các cơ sở y tế cung cấp các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình tốt hơn giúp
họ tránh mang thai và sinh con ngoài ý muốn [11].
Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên của tỉnh giảm từ 24,86% năm 2006
xuống còn 19,18% năm 2009. Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên ở nông
thôn cao gần gấp hai lần ở khu vực thành thị (21,71% so với 12,27%). Nhưng
so với năm 2006, ở khu vực nông thôn lại có xu hướng giảm nhanh hơn ở khu
vực thành thị (từ 29,75% xuống còn 21,7%). Hay có thể nói, tỷ lệ phụ nữ thôi
không sinh con khi đã có từ một đến hai con ở cả khu vực thành thị và nông
thôn đều tăng lên góp phần tích cực làm giảm mức sinh của tỉnh [11].
Đến năm 2010, theo Báo cáo công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
năm 2010 và Kế hoạch năm 2011 của Sở Y tế tỉnh Bình Định thì TFR toàn
tỉnh là 2,22 con, tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại là 80,1%, tỷ lệ

01/4/2009 của Chi cục thống kê huyện Vân Canh:
- Dân số: tính đến 0 giờ ngày 01/4/2009 là 24.661 người, trong đó nữ
12.501 người, nam 12.160 người. Tỷ lệ tăng dân số thời kỳ 1999-2009 là
15,4%, tăng dân số bình quân hàng năm là 1,4%. Tổng tỷ suất sinh năm 2009
là 2,29 con/phụ nữ.
- Tỷ lệ hộ nghèo: 52%.
- Đơn vị hành chính: gồm 1 Thị trấn Vân Canh và 6 xã: Canh Vinh,
Canh Hiển, Canh Hiệp, Canh Thuận, Canh Hòa và Canh Liên.
- Gồm có 3 dân tộc chính sinh sống, đó là Kinh (14.709 người), Chăm
(5.157 người) và Bana (4.650 người).
Bảng 1.2. Dân số chia theo dân tộc và giới tính
STT Dân tộc Tổng số
11
Tổng số Nam Nữ
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16

5,157
3
1
5
2
1
1
12,160
7,238
4
41
21
1
3
1
1
-
2,309
2,532
3
1
3
1
-
1
12,501
7,471
5
39
14

8. Tin Lành
20. Không tôn giáo
24,661
1,049
423
306
12
22,871
12,160
513
205
156
6
11,280
12,501
536
218
150
6
11,591
Nguồn: Kết quả tổng hợp điều tra toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở của
Chi cục Thống kê huyện Vân Canh
- Đồng bào dân tộc thiểu số sống phân bố rải rác theo vùng nhỏ, cách
xa nhau với điều kiện địa hình núi cao, độ dốc lớn, giao thông phần lớn chưa
được thông suốt, đời sống vật chất còn nhiều khó khăn nên đã tác động lớn
đến phát triển giáo dục và chăm sóc sức khỏe của cộng đồng [12].
Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trong thời gian qua đã triển
khai và có nhiều cố gắng trong tổ chức thực hiện, từng bước đã nâng cao chất
lượng dịch vụ và đa dạng hóa. Năm 2011, theo Báo cáo tổng kết công tác
năm 2011 của Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình huyện Vân Canh

1.3.1.2. Sức khoẻ sinh sản
Tình trạng sức khỏe bà mẹ còn hạn chế. Tai biến sản khoa và tử vong
mẹ tuy đã giảm, nhưng còn có sự khác biệt giữa các vùng, miền. Khả năng
tiếp cận và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước, trong và sau
sinh, chăm sóc sơ sinh còn hạn chế ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa;
14
không có cán bộ được đào tạo đỡ đẻ còn khá phổ biến ở một số vùng đồng
bào dân tộc ít người. Tỷ lệ thăm khám bà mẹ và trẻ sơ sinh sau đẻ còn thấp.
Cung ứng PTTT gặp khó khăn. Những năm tới, do số phụ nữ bước vào
độ tuổi sinh đẻ tiếp tục tăng, nhu cầu sử dụng các BPTT, đặc biệt là cácBPTT
sẽ tăng và luôn giữ ở mức cao. Hầu hết PTTT phải nhập khẩu, trong khi
nguồn quốc tế viện trợ PTTT không còn. Nhà nước cần đầu tư hàng trăm tỷ
đồng mỗi năm để mua PTTT.
Số trường hợp phá thai và vô sinh còn nhiều. Tỷ lệ phá thai, kể cả phá
thai ở thanh niên, vị thành niên còn cao. Tình trạng phá thai lặp lại, phá thai
không an toàn khá phổ biến. Tỷ lệ vô sinh, nhất là vô sinh thứ phát khá cao,
nhưng khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ cho người vô sinh còn hạn chế.
Tình trạng nhiễm khuẩn đường sinh sản khá phổ biến, bệnh lây truyền
qua đường tình dục - HIV và ung thư đường sinh sản còn cao. Việc khám,
phát hiện, điều trị, theo dõi và tư vấn sau điều trị chưa được quan tâm. Việc
sàng lọc và phát hiện sớm ung thư đường sinh sản chưa được triển khai rộng
rãi. Sự liên kết hệ thống dịch vụ CSSKSS và phòng chống HIV còn hạn chế.
Tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV từ chồng và bạn tình có xu hướng tăng. Sức khỏe
sinh sản, sức khỏe tình dục ở các nhóm đối tượng đặc thù có nhiều thách
thức. Quan hệ tình dục không an toàn, mang thai ngoài ý muốn và phá thai,
mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở VTN/TN có xu hướng tăng.
Hiểu biết, hành vi về SKSS, SKTD của VTN/TN còn nhiều hạn chế. Kiến
thức, thái độ và hành vi về DS/SKSS trong cộng đồng và ngay cả cán bộ y tế
còn hạn chế. Dịch vụ CSSKSS nam giới, người cao tuổi, người di cư chưa sẵn
có, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng. Tình dục được coi là vấn đề

yếu tố tác động, chưa loại trừ được khả năng mức sinh tăng trở lại. Mặt khác,
ở một số địa phương có mức độ đô thị hóa cao, mức sinh đã tương đối thấp,
16
nếu tiếp tục thực hiện chính sách DSKHHGĐ như trước, sẽ có khả năng làm
cho mức sinh giảm xuống quá thấp. Để tránh những biến động bất lợi cho
việc ổn định quy mô dân số ở mức phù hợp, có được cơ cấu dân số hợp lý và
kéo dài thời gian của cơ cấu “dân số vàng”, cầ phả duy trì mức sinh thấp, hợp
lý và cần có chính sách linh hoạt, thích ứng với những diễn biến của mức
sinh.
1.3.1.5. Năng lực kế hoạch hóa, lồng ghép biến dân số
Dân số và phát triển có mối quan hệ chặt chẽ và tương hỗ lẫn nhau.
Việc lồng ghép các biến dân số vào kế hoạch phát triển KT-XH là yêu cầu
khách quan. Tuy nhiên, việc lồng ghép các biến dân số của các bộ, ngành, địa
phương vào kế hoạch phát triển KT-XH chưa thực sự tốt và chưa được quan
tâm đúng mức. Điều này dẫn đến tình trạng vừa lãng phí vừa thiếu hụt trong
đầu tư, phát triển KT-XH.
1.3.2. Quan điểm, mục tiêu
1.3.2.1. Quan điểm:
1.3.2.1.1. Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 -
2020 là một nội dung quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất
lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội.
1.3.2.1.2. Giải quyết đồng bộ các vấn đề dân số, sức khỏe sinh sản, tập trung
nâng cao chất lượng dân số, cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phát huy lợi
thế của cơ cấu “dân số vàng”, chủ động điều chỉnh tốc độ tăng dân số và kiểm
soát tỷ số giới tính khi sinh.
1.3.2.1.3. Giải pháp cơ bản để thực hiện công tác dân số, chăm sóc sức khỏe
sinh sản là sự kết hợp đồng bộ, hiệu quả giữa vận động, giáo dục, truyền
thông chuyển đổi hành vi, cung cấp dịch vụ dự phòng tích cực, chủ động,
công bằng, bình đẳng và chế tài kiên quyết, hiệu quả đối với các đơn vị, cá

- Mục tiêu 3: Nâng cao sức khỏe bà mẹ, thu hẹp đáng kể sự khác biệt về các
chỉ báo sức khỏe bà mẹ giữa các vùng, miền.
+ Chỉ tiêu: Giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản xuống
58,3/100.000 trẻ đẻ sống vào năm 2015 và xuống dưới 52/100.000 vào năm
2020.
- Mục tiêu 4: Giảm mạnh tốc độ tăng tỷ số giới tính khi sinh, đặc biệt tập
trung vào các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có tình trạng mất cân
bằng nghiêm trọng về tỷ số giới tính khi sinh, tiến tới đưa tỷ số này trở lại
mức 105 - 106 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái khoảng năm 2025.
+ Chỉ tiêu: Tỷ số giới tính khi sinh dưới mức 113 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ
sinh gái vào năm 2015 và dưới mức 115/100 vào năm 2020.
- Mục tiêu 5: Duy trì mức sinh thấp hợp lý, đáp ứng đầy đủ nhu cầu kế hoạch
hóa gia đình của người dân, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ sinh sản có
chất lượng.
+ Chỉ tiêu 1: Tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một cặp vợ chồng trong
độ tuổi sinh đẻ) giảm xuống 1,9 con vào năm 2015 và 1,8 con vào năm 2020.
+ Chỉ tiêu 2: Quy mô dân số không vượt quá 93 triệu người vào năm 2015 và
98 triệu người vào năm 2020.
- Mục tiêu 6: Giảm tỷ lệ phá thai, cơ bản loại trừ phá thai không an toàn.
+ Chỉ tiêu: Giảm tỷ lệ phá thai xuống 27/100 trẻ đẻ sống vào năm 2015 và
xuống dưới 25/100 vào năm 2020.
- Mục tiêu 7: Giảm nhiễm khuẩn đường sinh sản, nhiễm khuẩn lây truyền qua
đường tình dục; chủ động phòng ngừa, phát hiện và điều trị sớm ung thư
đường sinh sản, chú trọng sàng lọc ung thư đường sinh sản ở phụ nữ trong độ
tuổi 30 - 54 tuổi.
19
+ Chỉ tiêu 1: Giảm 15% số trường hợp nhiễm khuẩn đường sinh sản vào năm
2015 và 30% vào năm 2020.
+ Chỉ tiêu 2: Giảm 10% số trường hợp nhiễm khuẩn lây truyền qua đường
tình dục vào năm 2015 và 20% vào năm 2020.

21
Chương 2
PHÂN TÍCH CÁC MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC DÂN SỐ VÀ SỨC
KHỎE SINH SẢN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020 VỀ KHẢ NĂNG
ÁP DỤNG TẠI HUYỆN VÂN CANH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
2.1. Mục tiêu tổng quát
Nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy
trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số và
phân bố dân số, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Để đạt được mục tiêu tổng quát đó, chúng ta cần triển khai làm tốt các
nhóm mục tiêu cụ thể như sau: Nâng cao chất lượng dân số giai đoạn đầu đời:
giảm tỷ lệ bệnh, tật, tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 5 tuổi, chú trọng
giảm tỷ lệ trẻ em bị mắc các bệnh bẩm sinh, rối nhiễu tâm trí, rối loạn dinh
dưỡng; Nâng cao sức khỏe bà mẹ, giảm tử vong mẹ, thu hẹp đáng kể sự khác
biệt về sức khỏe bà mẹ giữa các vùng miền; Khống chế tốc độ gia tăng tỷ số
giới tính khi sinh, tiến tới ổn định và cân bằng tỷ số giới tính khi sinh; Đáp
ứng đầy đủ nhu cầu kế hoạch hóa gia đình; Tăng khả năng tiếp cận và nâng
cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ vô sinh; Giảm mạnh phá thai, loại trừ phá thai
không an toàn; Giảm các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền
qua đường tình dục; chủ động phòng ngừa, phát hiện và điều trị sớm ung thư
đường sinh sản; Nâng cao chất lượng dân số, cải thiện sức khỏe sinh sản cho
các nhóm dân số đặc thù, chú trọng người cao tuổi, một số dân tộc có nguy cơ
suy giảm, vị thành niên và thanh niên, người khuyết tật, người di cư. Đáp ứng
nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người bị bạo hành giới và trong
trường hợp thảm hoạ thiên tai;Tăng khả năng lồng ghép các yếu tố dân số vào
hoạch định chính sách và lập kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo
cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin, số liệu về dân số đáp ứng yêu
22
cầu quản lý, điều hành chương trình dân số, sức khỏe sinh sản, yêu cầu xây

mẹ liên quan đến thai sản. Tuy nhiên, trong thời gian đến cũng cần quan tâm
nâng cao công tác quản lý thai nghén, nâng cao chất lượng chăm sóc trong và
sau sinh.
2.2.4. Mục tiêu 4: Giảm mạnh tốc độ tăng tỷ số giới tính khi sinh, đặc biệt
tập trung vào các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có tình trạng mất cân
bằng nghiêm trọng về tỷ số giới tính khi sinh, tiến tới đưa tỷ số này trở lại
mức 105 - 106 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái khoảng năm 2025.
- Theo Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 của Cục Thống kê
tỉnh Bình Định, tỷ số giới tính khi sinh của huyện Vân Canh là 121,6 bé
trai/100 bé gái. Trong khi đó tỷ số này của tỉnh là 113,8 và của cả nước là
110,5. Điều này nói lên sự bất thường đối với quy luật sinh học, đồng thời nó
cũng nói lên tư tưởng trọng nam khinh nữ trong người dân vẫn còn cao và
nghi ngờ có sự can thiệp chủ ý ở mức độ nào đó để lựa chọn giới tính. Vì vậy,
để đạt được chỉ tiêu này của Chiến lược (Tỷ số giới tính khi sinh dưới mức
113 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái vào năm 2015 và dưới mức 115/100
vào năm 2020) đối với huyện Vân Canh là cực kỳ khó.
2.2.5. Mục tiêu 5: Duy trì mức sinh thấp hợp lý, đáp ứng đầy đủ nhu cầu kế
hoạch hóa gia đình của người dân, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ sinh
sản có chất lượng.
- Tổng tỷ suất sinh năm 2009 của Vân Canh là 2,29 con/phụ nữ. Chất lượng
dịch vụ kế hoạch hóa gia đình tại các trạm y tế còn thấp, sự nhận thức của
người dân chưa cao, cho nên để đạt mục tiêu tổng tỷ suất sinh giảm xuống 1,9
con vào năm 2015 và 1,8 con vào năm 2020 thì chính quyền, các ngành cần có sự
quan tâm nhiều hơn nữa.
24
2.2.6. Mục tiêu 6: Giảm tỷ lệ phá thai, cơ bản loại trừ phá thai không an toàn.
Theo thống kê tại Trung tâm Y tế Vân Canh, những năm gần đây tỷ lệ
phá thai là rất thấp.
2.2.7. Mục tiêu 7: Giảm nhiễm khuẩn đường sinh sản, nhiễm khuẩn lây
truyền qua đường tình dục; chủ động phòng ngừa, phát hiện và điều trị sớm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status