Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung
thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn
Đinh Thị Ngọc Anh
SV: Đinh Thị Ngọc Anh
i
Lớp: CQ48/08.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
MỤC LỤC
SV: Đinh Thị Ngọc Anh
ii
Lớp: CQ48/08.01
Sức khỏe bà mẹ trẻ em.
7. UNFPA:
Quỹ dân số Liên Hợp Quốc
8. TC-CB:
Tổ chức cán bộ.
9. TCDS- KHHGĐ:
Tổng cục dân số, kế hoạch hóa gia đình.
SV: Đinh Thị Ngọc Anh
iii
Lớp: CQ48/08.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
DANH MỤC BẢNG BIỂU
SV: Đinh Thị Ngọc Anh
biệt là trong ngành giáo dục và đào tạo có nhiều chuyển biến thuận lợi. Nguồn
vốn hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance - ODA) do
các tổ chức song phương, đa phương tài trợ cho ngành giáo dục trở nên vô
cùng quan trọng. Việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trong ngành y tế đã
góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân ở Việt Nam.
Nguồn vốn ODA là nguồn lực từ bên ngoài có những ưu điểm nổi trội:
ưu đãi về thời gian vay, thời gian ân hạn, lãi suất phù hợp để hỗ trợ các nước
đang phát triển.Tuy nhiên, ODA không chỉ đơn giản là một nguồn viện trợ mà
SV: Đinh Thị Ngọc Anh
1
Lớp: CQ48/08.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
đi kèm với nó là những điều kiện ràng buộc về chính trị, kinh tế. Sẽ là một
gánh nặng lớn nếu chúng ta không biết quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA
một cách hợp lý và hiệu quả. Bởi vậy việc tăng cường hiệu quả quản lý ODA
của UNFPA vào dự án “Hỗ trợ Bộ Y tế thực hiện hiệu quả chiến lược dân số
và sức khỏe sinh sản ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020” là rất cần thiết.
2.
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở khái quát những vấn đề lý luận về ODA, thực trạng quản lý và
sử dụng nguồn vốn ODA tại dự án tìm ra được kết quả, hạn chế và nguyên nhân.
SV: Đinh Thị Ngọc Anh
2
Lớp: CQ48/08.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
2. Chương 2: Thực trạng quản lý ODA của UNFPA tại dự án “Hỗ trợ
bộ Y tế thực hiện hiệu quả chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản ở Việt Nam
giai đoạn 2011-2020”
3. Chương 3: Các giải pháp tăng cường quản lý ODA tại dự án “Hỗ
trợ Bộ Y Tế thực hiện hiệu quả chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản ở Việt
Nam giai đoạn 2011-2012
SV: Đinh Thị Ngọc Anh
3
Lớp: CQ48/08.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
CHƯƠNG 1
Lớp: CQ48/08.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
1.2. Các nguồn vốn sử dụng trong chương trình hỗ trợ chương trình
dân số và sức khỏe sinh sản.
a.
Vốn ODA: 7.300.000 USD, trong đó:
Ngân sách cấp phát hành chính sự nghiệp 100% tổng vốn ODA
Cho vay lại không áp dụng
b.
Vốn đối ứng:
Vốn đối ứng: 19.800.000.000 VND, tương đương 950.000 USD
Trong đó:
Hiện vật: cơ sở vật chất, nhà cửa, thiết bị,... sẵn có
Tiền mặt: 19.800.000.000 VND
Nguồn vốn đối ứng : từ nguồn chi sự nghiệp hàng năm của Bộ Y tế.
1.3.
Hiệu quả của vấn đề dân số và sức khỏe sinh sản đối với nền
kinh tế xã hội Việt Nam.
a.
Hiệu quả trực tiếp đối với đơn vị thực hiện:
Năng lực của những cán bộ công chức làm việc trực tiếp tại dự
án sẽ được cải thiện về kiến thức chuyên môn và kỹ năng quản lý.
Góp phần nâng cao nhận thức và sự ủng hộ tích cực của các nhà
lãnh đạo trong việc thực hiện các chính sách về dân số, sức khỏe sinh sản,
HIV và bạo hành dựa trên cơ sở Giới.
Chiến lược đã Giải quyết đồng bộ các vấn đề dân số, sức khỏe sinh sản,
tập trung nâng cao chất lượng dân số, cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phát
huy lợi thế của cơ cấu “dân số vàng”, chủ động điều chỉnh tốc độ tăng dân số
và kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh.
Đầu tư cho công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản là đầu tư cho
phát triển bền vững, mang lại hiệu quả trực tiếp về kinh tế, xã hội và môi
trường. Tăng mức đầu tư từ ngân sách nhà nước, tích cực tranh thủ các nguồn
viện trợ và huy động sự đóng góp của nhân dân; ưu tiên nguồn lực cho vùng
sâu, vùng xa, miền núi, vùng ven biển và hải đảo.
Chương trình giúp nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức
khỏe sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ
cấu dân số và phân bố dân số, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2. ODA CỦA UNFPA
2.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại ODA
2.1.1. Khái niệm ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance) ra đời từ
sau chiến tranh thế giới thứ II khi Mỹ phê chuẩn bản kế hoạch Marshall năm
1947 để giúp đỡ các quốc gia Châu Âu phục hồi nền kinh tế bị chiến tranh tàn
phá. Trong suốt những năm từ 1947 đến 1951, Châu Âu đã nhận được khoản
viện trợ tương đương 2,5% GDP của Mỹ cho các chương trình tái thiết của
mình.
SV: Đinh Thị Ngọc Anh
6
Lớp: CQ48/08.01
Luận văn tốt nghiệp
SV: Đinh Thị Ngọc Anh
7
Lớp: CQ48/08.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ (Non Governmental
Organization- NGO), các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc (United
Nations- UN), các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm
phát triển nhằm hỗ trợ và thúc đẩy quốc gia đó phát triển kinh tế xã hội.
Trong đó các điều kiện ưu đãi chung nhất bao gồm:
- Các khoản không hoàn lại chiếm ít nhất 25%
- Lãi suất thấp ( dưới 3% một năm)
- Thời gian trả nợ dài ( 25 đến 40 năm)
- Thời gian ân hạn dài ( 8 đến 10 năm)
2.1.2. Đặc điểm nguồn vốn ODA
Nguồn vốn ODA có các đặc điểm sau:
2.1.2.1.ODA là nguồn vốn hợp tác phát triển
- Nếu như trước kia ODA được hiểu là nguồn vốn viện trợ ngân sách mà
các nước phát triển dành cho các nước đang phát triển, chủ yếu chỉ mang tính
chất tài trợ và giúp đỡ thì nay, trong xu thế toàn cầu hóa, quan niệm này đã
phải thay đổi. ODA giờ đây thể hiện sự hợp tác phát triển giữa các nước phát
triển, các tổ chức quốc tế với các nước đang phát triển. Nguồn vốn hợp tác
khi bỏ ra sẽ đem lại lợi ích cho cả hai bên: bên viện trợ và bên tiếp nhận viện
trợ. Các nước phát triển khi cung cấp ODA sẽ nâng cao được vị thế của mình
suất của các nhà tài trợ dành cho Việt Nam giao động trong khoảng từ 0,75%
đến 2% một năm. Có thể kể đến Nhật Bản với mức lãi suất từ 0,75% đến
2,3% tùy dự án. ODA của các tổ chức tài chính quốc tế thường được cho vay
với mức lãi suất bằng không, chỉ tính chi phí sử dụng vốn. Cụ thể với Ngân
hàng Phát triển Châu Á (ADB) chi phí này là 1%/ năm, còn các khoản vay
của Ngân hàng thế giới (WB) choViệt Nam thường tính phí sử dụng vốn là
0,75%/năm.
-
Thời gian sử dụng vốn dài. Trong đó thời gian cho vay thường
vào khoảng 30 đến 40 năm (tiêu biểu như ODA của Nhật, ADB hoặc WB );
thời gian ân hạn (thời gian trả lãi suất thấp hoặc không trả lãi) cũng khá
dài, thường từ 5 đến 10 năm.
-
Trong ODA còn bao gồm yếu tố không hoàn lại, được quy định
chiếm ít nhất 25%. Nhìn chung 4 yếu tố quyết định khoản không hoàn lại, là
thời gian trả nợ, thời gian ân hạn, lãi suất khoản nợ và tỉ lệ chiết khấu. Chính
yếu tố không hoàn lại là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại.
- Bên cạnh đó, tính ưu đãi của ODA còn được thể hiện ở chỗ nó là
nguồn vốn dành riêng cho các quốc gia đang và chậm phát triển, để thực hiện
các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội.
2.1.2.3.ODA là nguồn vốn có nhiều ràng buộc
-
Các ràng buộc mà các nước đang phát triển gặp phải khi tiếp
nhận và sử dụng nguồn vốn ODA có thể chia thành 3 loại cơ bản: ràng buộc
Những ràng buộc trong thực hiện ODA có thể mang đến cho
nước nhận viện trợ không ít rủi ro. Ví dụ như với hỗ trợ kỹ thuật, các nước
tiếp nhận có nhiều nguy cơ phụ thuộc lâu dài vào nước viện trợ do các trang
thiết bị khó có thể thay thế bằng thiết bị của nước khác và đội ngũ vận hành
trong nước cũng phải phụ thuộc nhiều vào các chuyên gia nước ngoài. Thêm
vào đó, do không được lựa chọn đồng tiền để vay ODA, các nước nhận viện
trợ còn phải chịu rủi ro khi tỷ giá thay đổi. Nếu đồng tiền viện trợ tăng giá,
khi trả nợ, các quốc gia tiếp nhận viện trợ sẽ phải trả thêm một khoản tiền do
chênh lệch tỉ giá gây ra.
- Về những ràng buộc chính trị, cần hiểu rằng trong ODA luôn chứa
đựng hai mục tiêu song song. Thứ nhất là để thúc đẩy phát triển kinh tế, xã
hội ở các nước đang và chậm phát triển. Thứ hai là tăng cường vị thế chính trị
của các nước và tổ chức tài trợ. Thông qua ODA, các nước phát triển xác lập
SV: Đinh Thị Ngọc Anh
10
Lớp: CQ48/08.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
vị trí và ảnh hưởng của mình tại khu vực tiếp nhận viện trợ. Ví dụ như sau
Chiến tranh thế giới lần thứ II, kế hoạch Marshall của Hoa Kỳ không chỉ
nhằm tái thiết các nước Tây Âu bị chiến tranh tàn phá mà còn để chống lại
ảnh hưởng của Liên Xô cũ tại đây. Mỹ đã dùng viện trợ như một công cụ hiệu
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
trợ, nguồn cung cấp, mục đích sử dụng, điều kiện.v.v…
2.1.3.1. Theo tính chất tài trợ
2.1.3.1.1.Viện trợ không hoàn lại
- Viện trợ không hoàn lại là các khoản cho không, nước nhận viện trợ
không có nghĩa vụ hoàn trả lại. Phần viện trợ không hoàn lại được quy định
chiếm ít nhất 25% giá trị viện trợ và thường được hạch toán như một nguồn
thu trong cân đối ngân sách nhà nước. Viện trợ không hoàn lại thường được
ưu tiên sử dụng cho các chương trình và dự án xã hội như xóa đói giảm
nghèo, phát triển nông thôn, miền núi, bảo vệ môi trường…hoặc hỗ trợ cho
các dự án phát triển và nâng cao năng lực thể chế, nghiên cứu khoa học và
phát triển công nghệ..v..v. Trong trường hợp đặc biệt, ODA không hoàn lại
cũng được sử dụng cho để hỗ trợ các hoạt động sản xuất, chủ yếu nhằm tạo
việc làm và giải quyết các vấn đề xã hội.
- Viện trợ không hoàn lại thường có 2 dạng;
- Hỗ trợ kỹ thuật: thông qua việc chuyển giao công nghệ, truyền đạt
kinh nghiệm và bí quyết từ nước phát triển cho nước nhận viện trợ
- Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật như thốc men, lương thực, quần áo,
nhu yếu phẩm..
2.1.3.1.2.Viện trợ có hoàn lại
- Viện trợ có hoàn lại là các khoản vay có nhiều ưu đãi về lãi suất, thời
gian trả nợ, thời gian ân hạn. Viện trợ có hoàn lại được coi như một khoản tín
dụng ưu đãi, phần lớn để bù đắp thâm hụt ngân sách của nhà nước. Chính vì
vậy nó thường chỉ được sử dụng để đầu tư cho các mục đích có khả năng thu
hồi vốn, hoàn trả cho nhà nước cả vốn lẫn lãi để trả nợ nước ngoài. Trong
thực tế, viện trợ có hoàn lại thường được sử dụng cho các dự án cải tạo cơ sở
hạ tầng, tạo tiền đề vững chắc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- ODA đa phương là viện trợ phát triển chính thức của các tổ chức quốc
tế (IMF, ADB, WB…) hay tổ chức khu vực hoặc viện trợ của một chính phủ
dành cho một chính phủ khác thông qua các tổ chức đa phương như UNICEF
(Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc ) hay UNDP ( Chương trình phát triển Liên
hiệp quốc ).
2.1.3.3. Phân theo mục đích sử dụng
2.1.3.3.1.Hỗ trợ dự án.
-
Hỗ trợ dự án là hình thức hỗ trợ ODA chủ yếu để thực hiện các dự
án phát triển. Hỗ trợ dự án gồm 2 loại:
SV: Đinh Thị Ngọc Anh
13
Lớp: CQ48/08.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
+ Hỗ trợ cơ bản: là loại hình hỗ trợ các dự án xây dựng
+ Hỗ trợ kỹ thuật: là hình thức chuyển giao công nghệ, tri thức, đào tạo
kỹ thuật.v.v..
2.1.3.3.2. Hỗ trợ phi dự án.
- Hỗ trợ phi dự án bao gồm các loại hình sau:
+ Hỗ trợ chương trình: Là cung cấp ODA cho một mục đích tổng quát
với thời gian nhất định, không cần phải xác định chính xác khoản viện trợ đó
- ODA ràng buộc một phần là loại ODA mà một phần chi ở nước viện trợ
phần còn lại chi ở bất cứ nước nào.
2.2.Tác động của nguồn vốn ODA đối với nước tiếp nhận
2.2.1. Tác động tích cực của ODA
Phần lớn các nước tiếp nhận ODA là các nước đang hoặc kém phát triển
đang phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn trong quá trong quá trình phát
triển. Quá trình này đòi hỏi một khoản vốn đầu tư khổng lồ để tạo dựng
những điều kiện cơ bản và bền vững cho phát triển kinh tế- xã hội. Trong khi
các nước này đang gặp phải vấn đề mâu thuẫn giữa nhu cầu đầu tư phát triển
và sự thiếu hụt nguồn lực tài chính, thì vốn ODA có tính bền vững đối với các
công trình và dự án phát triển, do được thực hiện bằng viện trợ không hoàn
lại, hoặc cho vay với lãi suất ưu đãi, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ vốn
vay dài.
Tác động đầu tiên, rõ ràng và dễ thấy nhất của ODA là bổ sung cho
nguồn vốn trong nước của nước nhận viện trợ. Các nước đang phát triển là
những nước rất cần vốn cho đầu tư phát triển. Vốn đầu tư được lấy từ những
nguồn vốn trong nước là chính, nhưng nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ nền kinh
tế lại rất hạn hẹp nên cần bổ sung bằng nguồn vốn nước ngoài. Ưu điểm nổi
bật nhất của ODA là trong lĩnh vực phát triển hạ tầng kinh tế- xã hội của nước
nhận viện trợ. Nguồn vốn ODA thường được các nước đang phát triển đầu tư
cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như xây dựng đường giao thông, phát
triển bưu chính viễn thông và tăng cường năng lực cung cấp năng lượng...
Những lĩnh vực này không có nhiều sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư tư
nhân vì lý do vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn lâu và có nhiều rủi ro trong
quá trình đầu tư. Trong khi đó, các đặc điểm của vốn ODA lại giải quyết được
những vấn đề đó.
SV: Đinh Thị Ngọc Anh
thường ở trong tình trạng nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế.
Để giải quyết vấn đề này, các quốc gia đều phải cố gắng phối hợp với IMF, WB
và các tổ chức quốc tế khác tiến hành chính sách điều chỉnh cơ cấu. Việc điều
chỉnh này cần có một lượng vốn lớn, trong đó có vốn ODA. Khi tiếp nhận vốn
ODA, các nước đang phát triển cũng phải thực hiện các cam kết như cải cách
nền kinh tế thành kinh tế thị trường,cải cách bộ máy hành chính, phân rõ quyền
SV: Đinh Thị Ngọc Anh
16
Lớp: CQ48/08.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
và chức năng giữa các cơ quan quản lý. Nhờ đó, bộ máy quản lý Nhà nước về
kinh tế ngày càng đổi mới, phù hợp hơn ; năng lực cán bộ quản lý được nâng cao
thông qua tiếp thu được kinh nghiệm từ khâu khảo sát, ý tưởng đầu tư, xây dựng
dự án, giám sát, đánh giá hiệu quả của dự án ODA. Cải thiện thể chế và chính
sách kinh tế ở các nước đang phát triển chính là chìa khoá để tạo bước nhảy vọt
về lượng trong thúc đẩy tăng trưởng làm giảm đói nghèo. Một cơ chế quản lý
tốt, một nền kinh tế vĩ mô ổn định, một Nhà nước pháp quyền và hạn chế tham
nhũng sẽ dẫn tới tăng trưởng cao và giảm đói nghèo.
Ngoài ra ODA còn tạo điều kiện để tăng khả năng thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) và mở rộng đầu tư trong nước ở các nước đang
phát triển. Nhờ có ODA mà nước nhận viện trợ sẽ giải quyết được những khó
khăn, bất cập về cơ sở hạ tầng và cơ chế quản lý, chính sách. Các nước đang
phát triển sẽ tạo ra được một môi trường thuận lợi, đảm bảo tổn phí đầu tư
Như vậy vốn ODA giúp thúc đẩy nền kinh tế của nước nhận viện trợ
phát triển phần lớn thông qua đầu tư, xây dựng và phát triển các công trình
thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng. Phát triển cơ sở hạ tầng là tiền đề để phát triển
kinh tế. Các dự án sử dụng ODA đầu tư cho các công trình kết cấu hạ tầng tuy
không có khả năng sinh lời trực tiếp nhưng lại sinh lời một cách gián tiếp như
thu hút vốn FDI và vốn đầu tư trong nước. Các dự án sử dụng vốn ODA còn
góp phần nâng cao điều kiện sống cho con người, tăng phúc lợi công cộng và
cải thiện môi trường sinh thái, đồng thời giúp các nước đang phát triển hoàn
thiện cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực thể chế, phát triển nguồn lực con
người. Do vậy ODA có ý nghĩa rất lớn lao trong góp phần làm thay đổi bộ
mặt nền kinh tế xã hội của một quốc gia, đặc biệt trong giai đoạn đầu xây
dựng và phát triển đất nước
2.2.2. Tác động tiêu cực
Việc vay nợ nước ngoài nói chung và tiếp nhận ODA nói riêng thường
dẫn đến những tác động tiêu cực sau đây:
Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế
quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng
hoá của nước tài trợ. Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở
cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ;
yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho
phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao.
Nguồn vốn ODA cung cấp cho các nước đang phát triển cũng thường
SV: Đinh Thị Ngọc Anh
18
Lớp: CQ48/08.01
Luận văn tốt nghiệp
SV: Đinh Thị Ngọc Anh
19
Lớp: CQ48/08.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
định đối với các nước đang phát triển được nhận nguồn vốn này. Việc sử
dụng nguồn vốn này là để tận dụng những nguồn lực bên ngoài phục vụ cho
sự phát triển của mỗi quốc gia. Nhưng sự phát triển này chỉ có được khi có
một chiến lược tiếp nhận và hoàn trả hợp lý để vừa phát huy tốt nhất những
tác động tích cực, vừa hạn chế đến mức tối đa các tác động tiêu cực.
2.3.ODA của UNFPA cho Việt Nam
Do UNFPA là một cơ quan thuộc sự quản lý của Liên Hợp Quốc nên ta
có một vài thông tin sơ lược về Liên Hợp Quốc như sau:
Liên Hợp Quốc: là một tổ chức quốc tế có mục đích duy trì hòa bình và
an ninh trên thế giới, phát triển các mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc và
tiến hành hợp tác quốc tế giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình
đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc. Hiện nay, Liên Hiệp Quốc có 193
thành viên, bao gồm hầu hết các quốc gia có chủ quyền trên Trái Đất. Liên
Hiệp Quốc sử dụng 6 ngôn ngữ chính thức: tiếng Ả Rập, tiếng Anh, tiếng
Nga, tiếng Pháp,tiếng Tây Ban Nha và tiếng Trung.
- Từ trụ sở trong lãnh phận quốc tế tại thành phố New York, Liên Hiệp
Quốc và các cơ quan chuyên môn của nó quyết định các vấn đề về điều hành
và luật lệ. Theo hiến chương LHQ thì tổ chức này gồm 6 cơ quan chính, chủ
yếu gồm: Đại hội đồng, Hội đồng Bảo An, Hội đồng kinh tế và xã hội, Ban
viên Hội đồng chấp hành UNDP. Hội đồng chấp hành UNDP/UNFPA chịu
sự chỉ đạo về mặt chính sách của Đại hội đồng LHQ và Uỷ ban Kinh tế Xã
hội LHQ (ECOSOC).
Trụ sở chính của UNFPA đặt tại thành phố Niu Oóc (Mỹ). UNFPA có
Văn phòng Đại diện tại Việt Nam, do Đại diện thường trú UNFPA đứng đầu.
2.3.1.2.
Tôn chỉ và mục đích của UNFPA:
Trợ giúp các nước đang phát triển thông qua việc cung cấp các dịch vụ
có chất lượng trong sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình trên cơ sở sự
lựa chọn của cá nhân; Hỗ trợ việc xây dựng các chính sách dân số phục vụ
phát triển bền vững.
Thúc đẩy việc thực hiện chiến lược dân số do Hội nghị Quốc tế về Dân số
và Phát triển thông qua năm 1994 (ICPD) và được kiểm điểm tại Khoá họp đặc
biệt của Đại hội đồng LHQ năm 1999 (ICPD + 5). Chiến lược này không chỉ
hướng vào các chỉ tiêu nhân khẩu học mà còn coi trọng yêu cầu nâng cao năng
lực của phụ nữ, đưa lại cho phụ nữ nhiều sự lựa chọn hơn thông qua tăng cường
tiếp cận với giáo dục, các dịch vụ sức khoẻ và các cơ hội việc làm.
SV: Đinh Thị Ngọc Anh
21
Lớp: CQ48/08.01