giải pháp thực hiện kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở việt nam giai đoạn 2006 – 2010 - Pdf 10

Bùi Thị Thu Hương - Kế hoạch 44 - KTQD Luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng một lần nữa lại khẳng
định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa với sự phát triển của sáu thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế
này bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh
tranh lành mạnh trong đó thành phần kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ
đạo. Một trong những bộ phận quan trọng cấu thành kinh tế Nhà nước
chính là doanh nghiệp nhà nước. Để kinh tế Nhà nước thực sự đóng vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế thì bộ phận doanh nghiệp nhà nước phải không
ngừng được hoàn thiện về tổ chức quản lý và chỉ đạo sản xuất.
Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước không phải thể hiện ở số lượng
doanh nghiệp nhà nước nhiều hay ít mà chủ đạo ở chỗ là lực lượng vật chất
quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi
trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển. Do đó
những doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn chỉ nên đầu tư vào
các lĩnh vực, địa bàn kinh doanh phức tạp và góp phần giải quyết các vấn
đề xã hội. Ở những lĩnh vực còn lại thì phải có sự cạnh tranh bình đẳng
giữa những doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Muốn
tạo được lợi thế trong cạnh tranh thì doanh nghiệp nhà nước phải nâng cao
hiệu quả hoạt động của mình thông qua việc thực hiện chuyển đổi sở hữu.
Quá trình chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam được
tiến hành bắt đầu từ năm 1992. Hơn 12 năm thực hiện đã tạo ra những
doanh nghiệp năng động, nhạy bén, thích nghi với điều kiện kinh tế thị
trường. Mặc dù vậy, kế hoạch thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp
nhà nước trong thời gian qua đã không hoàn thành mục tiêu đề ra. Kết quả
là số lượng doanh nghiệp nhà nước cần phải thực hiện chuyển đổi sở hữu
còn nhiều, đặt ra yêu cầu phải tiếp tục thực hiện và hoàn thành cơ bản kế
hoạch chuyển đổi sở hữu trong giai đoạn 2006 – 2010. Để có thể thực hiện
mục tiêu này thì trong kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 1

Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 2
Bùi Thị Thu Hương - Kế hoạch 44 - KTQD Luận văn tốt nghiệp
Kết cấu của bài viết gồm 3 chương
Chương I: Sự cần thiết phải tiếp tục thực hiện chuyển đổi sở hữu
doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010
Chương II: Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chuyển đổi sở hữu
doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005
Chương III: Giải pháp thực hiện kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh
nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 3
Bùi Thị Thu Hương - Kế hoạch 44 - KTQD Luận văn tốt nghiệp
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI TIẾP TỤC
THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI SỞ HỮU DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ỏ VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2006 – 2010
I. Tổng quan về doanh nghiệp nhà nước
Khái niệm DNNN được hiểu theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo cách
tiếp cận và mục đích nghiên cứu đối tượng này. Đối với Việt Nam, khái
niệm về DNNN thay đổi qua nhiều thời kỳ, tương ứng với sự thay đổi quan
niệm về sở hữu Nhà nước và sự thay đổi về cơ chế quản lý kinh tế.
1. Thời kỳ kế hoạch hoá tập trung (1960 – 1986)
Trong thời kỳ Kế hoạch hoá tập trung (1960 – 1986), tổ chức kinh tế
Nhà nước tồn tại dưới dạng các xí nghiệp (trong lĩnh vực công nghiệp),
nông trường quốc doanh (trong lĩnh vực nông nghiệp) và các công ty (trong
lĩnh vực thương mại). Khái niệm DNNN lúc này chưa xuất hiện mà chỉ có
khái niệm về xí nghiệp công nghiệp quốc doanh và xí nghiệp thương mại
quốc doanh. Đặc trưng của những xí nghiệp này là: các xí nghiệp có tư
cách pháp nhân tức là những chủ thể pháp luật, chủ thể kinh tế độc lập;
toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước; các xí nghiệp phải thực hiện

Đến Luật DNNN năm 2003, khái niệm DNNN được hiểu sâu hơn.
Điều 1 Luật DNNN năm 2003 định nghĩa: “DNNN là tổ chức kinh tế do
Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối,
được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn”. Như vậy, về khía cạnh sở hữu, quan điểm của Đảng
và Chính phủ Việt Nam có những mặt nới lỏng và năng động hơn. Bên
cạnh những doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước, còn tồn tại những doanh
nghiệp mà Nhà nước chỉ có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then
chốt và địa bàn quan trọng. Khái niệm DNNN trong Luật DNNN năm 2003
chứa đựng một số điểm mới cơ bản sau:
- Việc xác định DNNN không hoàn toàn dựa vào tiêu chí sở hữu như
trước đây. Trước đây, chỉ những doanh nghiệp được Nhà nước thành lập và
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 5
Bùi Thị Thu Hương - Kế hoạch 44 - KTQD Luận văn tốt nghiệp
đầu tư vốn, hoàn toàn do Nhà nước quản lý thì mới được coi là DNNN.
Trong số đó, tiêu chí sở hữu là tiêu chí cơ bản nhất để quyết định doanh
nghiệp là DNNN.
- Thừa nhận sự tồn tại bình đẳng của các hình thức sở hữu trong một
DNNN. Điều này có nghĩa là có những DNNN trong đó các hình thức sở
hữu khác nhau hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật.
- Pháp luật hiện hành thừa nhận khả năng chuyển đổi DNNN thành
doanh nghiệp thông thường thông qua cơ chế chuyển nhượng, mua bán cổ phần.
Theo Luật DNNN năm 2003, tiêu chí xác định DNNN là quyền kiểm
soát và quyền chi phối chứ không dựa vào tiêu chuẩn sở hữu và quản lý
như một điều kiện cần và đủ. Nếu không sở hữu một lượng cổ phần cần
thiết thì không thể nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp. Tiêu chí sở hữu để
xác định DNNN hoàn toàn mang tính định tính. Còn tiêu chí quyền chi
phối được áp dụng trong Luật DNNN năm 2003 là tiêu chí mang tính chất
định lượng. Tính định lượng thể hiện ở tỷ lệ phần vốn góp của Nhà nước
trong toàn bộ vốn của doanh nghiệp. Như vậy, quyền kiểm soát được coi là

1.1.2 Yêu cầu
Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục
tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát
triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán.
1.2. Đối tượng và điều kiện cổ phần hóa
Các công ty nhà nước không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn
điều lệ thực hiện CPH bao gồm: các Tổng công ty nhà nước (kể cả Ngân
hàng thương mại nhà nước và các tổ chức tài chính nhà nước); công ty nhà
nước độc lập; công ty thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty do
Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập; đơn vị hạch toán phụ thuộc của
công ty nhà nước.
Những công ty nêu trên được tiến hành CPH khi còn vốn Nhà nước
(chưa bao gồm giá trị quyền sử dụng đất) sau khi giảm trừ giá trị tài sản
không cần dùng, tài sản chờ thanh lý; các khoản tổn thất do lỗ, giảm giá tài
sản, công nợ không có khả năng thu hồi và chi phí CPH.
Việc CPH đơn vị hạch toán phụ thuộc của các công ty nhà nước chỉ
được tiến hành khi:
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 7
Bùi Thị Thu Hương - Kế hoạch 44 - KTQD Luận văn tốt nghiệp
- Đơn vị hạch toán phụ thuộc của doanh nghiệp có đủ điều kiện hạch
toán độc lập
- Không gây khó khăn hoặc ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp hoặc các bộ phận còn lại của doanh nghiệp
1.3. Hình thức CPH công ty nhà nước
Có ba hình thức CPH như sau:
- Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ
phiếu thu hút thêm vốn áp dụng đối với những doanh nghiệp CPH có nhu
cầu tăng thêm vốn điều lệ. Mức vốn huy động thêm tuỳ thuộc vào quy mô
và nhu cầu vốn của công ty cổ phần. Cơ cấu vốn điều lệ của công ty cổ
phần được phản ánh trong phương án CPH.

đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Tự nguyện đăng ký nhận giao công ty
- Cam kết đầu tư thêm để phát triển sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc
làm tối thiểu từ 3 năm trở lên, đóng đầy đủ bảo hiểm cho người lao động
trong công ty theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp tự nguyện chấm
dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật về lao động và chính
sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước).
- Kế thừa phần công nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty sau khi xử lý.
Kế thừa quyền và nghĩa vụ đối với người lao động theo Bộ luật Lao động.
- Không được cho thuê, chuyển nhượng, tự giải thể công ty trong thời
gian tối thiểu 3 năm sau khi giao.
3. Hình thức bán công ty nhà nước
Bán công ty hoặc bộ phận của công ty là việc chuyển đổi sở hữu có
thu tiền toàn bộ công ty, bộ phận công ty sang sở hữu tập thể, cá nhân hoặc
pháp nhân khác.
3.1. Mục tiêu của việc bán công ty nhà nước
Việc thực hiện bán công ty nhà nước nhằm cơ cấu lại công ty, nâng
cao khả năng cạnh tranh của công ty trong điều kiện nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN. Thông qua đó, sử dụng có hiệu quả số vốn, tài sản của
Nhà nước và khai thác mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế khác cho
đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 9
Bùi Thị Thu Hương - Kế hoạch 44 - KTQD Luận văn tốt nghiệp
Khi tiến hành bán công ty nhà nước, người lao động sẽ được bảo đảm
việc làm, ổn định thu nhập và phát huy quyền làm chủ của người lao động.
Lúc này, Nhà nước sẽ không sở hữu hoàn toàn DNNN đã thực hiện bán nên
giảm bớt chi phí và trách nhiệm kinh doanh của Nhà nước. Do đó bảo đảm
được lợi ích của cả Nhà nước và người lao động.
3.2. Các phương thức tiến hành bán công ty nhà nước
Việc bán DNNN được tiến hành theo ba phương thức: đấu thầu, đấu

động. Nếu thái độ và nhận thức của họ thông suốt, sẵn sàng tiến hành
chuyển đổi doanh nghiệp thì sẽ đẩy nhanh tiến trình chuyển sở hữu.
Đối với cán bộ quản lý doanh nghiệp, vẫn còn tồn tại trong họ tâm lý
bất di bất dịch “chủ nghĩa xã hội gắn liền với sở hữu nhà nước”. Nếu những
tâm lý tiểu nông ấy không được gạt bỏ thì khó có thể thực hiện chuyển đổi
sở hữu doanh nghiệp. Bên cạnh đó, họ còn lo sợ bị mất lợi ích, lo sợ
chuyển đổi sẽ làm chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là rào cản của
quá trình chuyển đổi sở hữu.
Đối với người lao động, nếu họ thông suốt được vai trò và ưu thế của
việc chuyển đổi, hiểu được vì sao phải tiến hành chuyển đổi thì chắc chắn
họ sẽ là lực lượng nòng cốt của quá trình chuyển đổi. Nhận thức và tâm lý
được giải toả, người lao động sẽ sẵn sàng và quyết tâm thực hiện chuyển
đổi sở hữu DNNN.
4.2. Cơ chế chính sách liên quan đến việc chuyển đổi sở hữu
Sở hữu luôn là một trong những vấn đề trọng tâm của mọi thời kỳ lịch
sử. Nó vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời nó cũng tác
động trở lại đến quá trình kinh tế xã hội. Chính vì vậy, vấn đề sở hữu luôn
là mối quan tâm của các nhà chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước ta.
Việc tiến hành chuyển đổi sở hữu DNNN đồng nghĩa với việc giảm sở hữu
Nhà nước, đây là vấn đề không mới nhưng chúng ta vẫn phải vừa làm vừa
“dò dẫm” và học hỏi kinh nghiệm các nước bạn. Bởi vậy, để việc chuyển
đổi sở hữu được tiến hành thống nhất trên phạm vi cả nước, Đảng và Nhà
nước đã không ngừng ban hành các quyết định, nghị định phù hợp với điều
kiện thực tế khi tiến hành chuyển đổi. Cơ chế chính sách được ban hành có
phù hợp với thực tiễn, có phù hợp với yêu cầu đổi mới hay không phụ
thuộc vào sự nhanh nhẹn và nhạy bén của cơ quan thường trực sắp xếp và
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 11
Bùi Thị Thu Hương - Kế hoạch 44 - KTQD Luận văn tốt nghiệp
đổi mới DNNN. Chỉ khi nào những cơ chế chính sách không còn là rào cản
cho quá trình chuyển đổi thì quá trình đó mới diễn ra theo đúng mục tiêu

Bùi Thị Thu Hương - Kế hoạch 44 - KTQD Luận văn tốt nghiệp
tạp và “đụng chạm” đến quyền lợi của nhiều người. Vì vậy, cần phải có sự
chỉ đạo và hướng dẫn cụ thể thông qua Ban chỉ đạo chuyển đổi.
Ban chỉ đạo chuyển đổi bao gồm nhiều cá nhân được lựa chọn và cùng
nhau chuẩn bị các chương trình hành động, lên kế hoạch sắp xếp lại hay kế
hoạch chuyển đổi sở hữu DNNN. Ban chỉ đạo có trách nhiệm nghiên cứu
văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước cũng như các Bộ, ngành có liên
quan, tham khảo ý kiến tư vấn trong trường hợp cần thiết. Ban chỉ đạo sẽ
thay mặt Đảng và Nhà nước tiến hành chuyển đổi sở hữu các DNNN cần
phải chuyển đổi. Đồng thời cũng thay mặt Nhà nước trực tiếp quản lý quá
trình chuyển đổi. Do đó, Ban chỉ đạo có tầm quan trọng rất lớn, có ảnh
hưởng không chỉ với tiến độ chuyển đổi mà còn ảnh hưởng đến khả năng
phát triển trong tương lai của doanh nghiệp sau chuyển đổi. Bởi vậy, việc
lựa chọn các thành viên trong Ban chỉ đạo chuyển đổi cũng vô cùng quan
trọng. Nếu các cá nhân trong Ban chỉ đạo chỉ đưa ra những ý kiến đánh giá
nhằm duy trì quyền lợi cá nhân hay các ý kiến mang tính chủ quan, duy ý
chí thì mục tiêu hoạt động của Ban chỉ đạo chuyển đổi sẽ không thể thực
hiện được. Chính vì vậy, các thành viên phải là những người quán triệt sâu
sắc chủ trương đổi mới DNNN của Đảng và Nhà nước, có trình độ, có kinh
nghiệm, có nhiệt huyết đối với công cuộc đổi mới để “thổi những luồng gió
mới” vào quá trình chuyển đổi sở hữu. Có như thế, quá trình chuyển đổi sở
hữu DNNN mới được tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả cao.
4.4. Nhân tố xuất phát từ chính trong nội tại doanh nghiệp
Quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN có tiến hành thuận lợi khi bản
thân doanh nghiệp vẫn còn tồn tại những rào cản cản trở sự chuyển đổi?
Những rào cản phải kể đến là: quá trình xác định giá trị doanh nghiệp, nợ
của DNNN và giá trị tài sản của doanh nghiệp trước khi chuyển đổi.
Một là, bất cập từ quá trình xác định giá trị doanh nghiệp. Giá trị
doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong giá trị cổ phần của người lao động
khi thực hiện giao doanh nghiệp cho tập thể người lao động, có vai trò

Bốn là, tính chất kinh tế của sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp cho
thị trường. Những sản phẩm nào thích ứng với thị trường, đáp ứng yêu cầu
của người tiêu dùng, có lợi thế cạnh tranh so với đối thủ sẽ hấp dẫn các
thành phần kinh tế khác nhảy vào. Điều này sẽ tạo điều kiện cho việc thực
hiện chuyển đổi sở hữu nhanh hơn và hiệu quả hơn. Ngược lại, đối với
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 14
Bùi Thị Thu Hương - Kế hoạch 44 - KTQD Luận văn tốt nghiệp
những sản phẩm mà để sản xuất ra nó đòi hỏi phải có quy mô vốn đầu tư
lớn, thời gian quay vòng vốn lâu thì không hấp dẫn các nhà đầu tư nên việc
chuyển đổi sở hữu sẽ gặp nhiều khó khăn.
III. Sự cần thiết phải tiếp tục thực hiện chuyển đổi sở hữu
doanh nghiệp nhà nước ỏ Việt Nam
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đã được xác định rõ từ Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Đó là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần trong đó thành phần KTNN giữ vai trò chủ đạo. Đến Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ X, quan điểm ấy vẫn không hề thay đổi mà phát
triển cao hơn thích nghi với điều kiện kinh tế - xã hội mới. Nhưng thực tế
cho thấy, trong những năm qua thành phần KTNN đặc biệt là bộ phận
DNNN hoạt động không có hiệu quả. Để có thể phát huy vai trò chủ đạo
của DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì phải tiến
hành chuyển đổi sở hữu DNNN, chỉ giữ lại những doanh nghiệp mà Nhà
nước nắm 100% vốn trong các lĩnh vực kinh doanh phức tạp. Chuyển đổi
sở hữu những DNNN hoạt động không hiệu quả để thích nghi với nền kinh
tế nhiều thành phần, chuyển đổi để nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền
kinh tế và chuyển đổi để thích nghi với những yêu cầu của tình hình mới
1. Chính sách đa thành phần sở hữu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, thực hiện nhất quán chính sách của Đảng về xây dựng
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, các doanh nghiệp phát
triển đa dạng, phong phú gồm nhiều loại hình sở hữu, nhiều quy mô, hoạt

nhỏ, chủ yếu dựa vào vốn và lao động của gia đình.
- Kinh tế tư bản tư nhân là loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất. Tuy đều là sở hữu tư nhân nhưng kinh tế tư bản tư nhân
phân biệt với kinh tế cá thể, tiểu chủ ở quy mô hoạt động. Kinh tế tư bản tư
nhân có quy mô sản xuất kinh doanh và quy mô sử dụng lao động lớn hơn.
Kinh tế tư bản tư nhân đại diện cho trình độ phát triển cao về kinh tế với
trình độ công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến.
- Kinh tế tư bản Nhà nước là loại hình kinh tế dựa trên hình thức sở
hữu hỗn hợp. Đó là hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế Nhà nước và
kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước.
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là loại hình kinh tế dựa trên vốn
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 16
Bùi Thị Thu Hương - Kế hoạch 44 - KTQD Luận văn tốt nghiệp
đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đây là loại hình kinh tế hỗ trợ và bổ sung quan
trọng cho các loại hình kinh tế trong nước về vốn, công nghệ và thị trường.
So với các loại hình kinh tế trong nước, loại hình này thường có trình độ
công nghệ và trình độ quản lý cao hơn. Do đó, đối với những nước như
nước ta, việc khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi cho nhà đầu tư
nước ngoài là vấn đề có ý nghĩa quan trọng.
Cùng với việc xác định rõ 6 thành phần kinh tế tồn tại ở nước ta, tại
Đại hội lần thứ X, quan điểm của Đảng ta về vị trí của các thành phần kinh
tế được hoàn thiện ở mức độ cao hơn. Đảng và Nhà nước ta đã xác định,
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN các thành phần kinh tế
cùng tồn tại và phát triển trong một thể thống nhất, mọi thành viên đều bình
đẳng và có quyền lợi cũng như nghĩa vụ trước pháp luật là như nhau. Trong
đó KTNN giữ vai trò chủ đạo, KTNN cùng với kinh tế tập thể ngày càng
trở thành nền tảng quan trọng của nền kinh tế quốc dân và KTTN cũng có
vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế. Các thành
phần kinh tế tồn tại với vị trí quan trọng của nó và cần phải được chú trọng
phát triển.

- Những công ty bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất và
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc miền núi, vùng
sâu, vùng xa.
- Những công ty đáp ứng đủ các điều kiện sau: vốn nhà nước từ 30 tỷ
đồng trở lên, mức thu nộp ngân sách nhà nước bình quân ba năm liền kề từ
3 tỷ đồng trở lên, đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ mũi nhọn, công
nghệ cao, góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô và hoạt động trong
những ngành, lĩnh vực sau: Chế biến dầu mỏ; Khai thác quặng có chất
phóng xạ; Đóng và sửa chữa phương tiện vận tải đường không; In sách, báo
chính trị; Bán buôn thuốc phòng bệnh, chữa bệnh, hoá dược; Bán buôn
lương thực; Bán buôn xăng dầu; Vận tải đường không, đường sắt.
2.2. Những công ty tiến hành chuyển đổi sở hữu dưới hình thức cổ phần
hoá, giao cho tập thể người lao động hoặc bán
- Những công ty khi CPH, Nhà nước nắm giữ trên 50% tổng số cổ
phần là những công ty có vốn nhà nước từ 20 tỷ đồng trở lên, mức thu nộp
ngân sách nhà nước bình quân ba năm liền kề từ 2 tỷ đồng trở lên, hoạt
động trong những ngành, lĩnh vực đã nêu ở trên và các ngành, lĩnh vực sau:
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 18
Bùi Thị Thu Hương - Kế hoạch 44 - KTQD Luận văn tốt nghiệp
Sản xuất điện; Khai thác các khoáng sản quan trọng: than, bô xít, quặng
đồng, quặng sắt, quặng thiếc, vàng, đá quý; Sản xuất các sản phẩm cơ khí:
thiết bị kỹ thuật điện và vật liệu điện, máy công nghiệp chuyên dùng, máy
móc, thiết bị phục vụ nông, lâm, ngư nghiệp, đóng và sửa chữa phương tiện
vận tải đường biển, đường sắt; Cung cấp hạ tầng mạng viễn thông; Sản
xuất kim loại đen (gang, thép) trên 100.000 tấn/năm; Sản xuất xi măng
công nghệ hiện đại, chất lượng cao, có công suất thiết kế trên 1,5 triệu
tấn/năm; Sản xuất phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật; Sản xuất một số
mặt hàng tiêu dùng, thực phẩm: muối ăn, sữa, bia trên 50 triệu lít/năm, cồn
và rượu trên 10 triệu lít/năm; Khai thác, lọc và cung cấp nước sạch ở các
thành phố lớn; Vận tải đường biển; Kinh doanh tiền tệ, bảo hiểm; Sản xuất

chủ sở hữu, tức là nhân dân, thông qua đại diện của mình là Nhà nước.
Chính vì thế, đối với loại hình doanh nghiệp này, hiệu quả kinh tế xã hội
phải được đặt lên hàng đầu.
3.2. DNNN là một nhân tố quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng chung
của nền kinh tế
Điều này thể hiện rõ nét ở việc DNNN thường được trao nhiệm vụ đầu
tư vào những công trình kết cấu hạ tầng có quy mô tương đối lớn so với
năng lực của khu vực tư nhân và các loại hàng hoá công cộng khác mà tỷ
suất lợi nhuận không hấp dẫn DNTN. Đặc điểm chung của các công trình
kết cấu hạ tầng là quy mô vốn đòi hỏi tương đối lớn, thời gian thu hồi vốn
lại lâu, kèm theo nhiều rủi ro trong quá trình đầu tư mà bản thân DNTN
không thể kiểm soát nổi. Chính những đặc điểm này đã làm cho việc đầu tư
vào nhiều loại kết cấu hạ tầng không hấp dẫn DNTN. Bên cạnh đó, nhiều
loại hàng hoá công cộng còn có thuộc tính chung là rất khó loại trừ việc
tiêu dùng của những cá nhân “không sẵn sàng trả tiền” cho nó. Vì thế, nếu
DNTN đầu tư và thu hồi vốn thông qua việc thu phí sử dụng thì sẽ rất khó
khăn. Trái lại, một DNNN đầu tư với sự hỗ trợ vốn của Chính phủ lại có
thể giải quyết tốt vấn đề này.
Nếu coi hàng hoá công cộng do DNNN cung cấp là tiền đề cho sự phát
triển kinh tế thì tính chất tiền đề đó càng thể hiện rõ và phát huy tác dụng
trực tiếp nếu DNNN thiết lập mối quan hệ trực tiếp với các doanh nghiệp
thuộc các khu vực cần hỗ trợ. Bằng cách đó, DNNN sẽ góp phần tạo các
mối quan hệ xuôi chiều, ngược chiều, quan hệ mạng lưới với DNTN, trở
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 20
Bùi Thị Thu Hương - Kế hoạch 44 - KTQD Luận văn tốt nghiệp
thành đối tác và là lực lượng hậu thuẫn cho sự phát triển của khu vực kinh
tế tư nhân. Thông qua mối quan hợp tác này mà nền kinh tế sẽ đạt tốc độ
tăng trưởng vững mạnh hơn nhiều.
3.3. DNNN là một công cụ để góp phần khắc phục các khuyết tật của thị
trường

Nhà nước có vai trò tích cực nhằm giúp cắt giảm chi tiêu chính phủ và hạn
chế tăng thuế cá nhân. Tác dụng tạo công ăn việc làm và thu nhập của
DNNN cũng là một đóng góp có ý nghĩa, đặc biệt là ở những vùng sâu
vùng xa, vùng có điều kiện khó khăn mà đầu tư tư nhân chưa vươn tới.
Tóm lại, những phân tích trên nói lên “vai trò tiềm năng” mà DNNN
có thể đảm nhiệm. Nhưng để biến vai trò đó thành hiện thực thì đòi hỏi bản
thân các DNNN phải tự phấn đấu vươn lên, đổi mới công tác quản lý, thực
hiện chuyển đổi sở hữu, kết hợp nhiều loại hình sở hữu khác nhau tạo điều
kiện kinh doanh có hiệu quả. Có như vậy doanh nghiệp mới thích nghi với
điều kiện cạnh tranh thị trường, thực sự giữ những vị trí then chốt trong nền
kinh tế, đi đầu ứng dụng khoa học công nghệ, nêu gương về năng suất, chất
lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội.
4. Thực trạng hoạt động kinh doanh của những doanh nghiệp nhà
nước chưa chuyển đổi và những yêu cầu mới đặt ra
4.1. Thực trạng kém hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước
4.1.1. Hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh thấp
Theo đánh giá chung của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh
nghiệp Trung ương, số DNNN thực sự kinh doanh có hiệu quả chỉ chiếm
40%, số doanh nghiệp chưa có hiệu quả, hoạt động sản xuất khi lỗ khi lãi
chiếm 31% và còn lại 29% số DNNN hoạt động không có hiệu quả, lỗ liên
tục trong nhiều năm liền. Cũng trong năm 2000, DNNN chỉ đóng góp cho
Ngân sách Nhà nước 39,2% tổng thu Ngân sách nhưng trong đó phần thuế
thu nhập doanh nghiệp chỉ có 13,4%. Một đồng vốn Nhà nước của doanh
nghiệp chỉ làm ra 0,095 đồng lợi nhuận trước thuế. Trong khi đó đối với
DNNN sau chuyển đổi thì tỷ lệ vốn/lợi nhuận trước thuế bằng 0,19 đồng.
Điều này đặt ra yêu cầu phải thực hiện chuyển đổi sở hữu DNNN nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Đến năm 2002, tỷ lệ lợi
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 22
Bùi Thị Thu Hương - Kế hoạch 44 - KTQD Luận văn tốt nghiệp

Cộng các Bộ, ngành 553 16 95 71 371
Tỷ lệ (%) 100 2,88 17,15 12,82 55,97
4
Tổng số 5610 1314 2352 765 1773
Tỷ lệ (%) 100 23,43 42,02 13,64 20,89
Nguồn: Kinh tế Nhà nước và quá trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước
Nxb Chính trị quốc gia, 2001
Qua bảng ta thấy, có tới 75,72% DNNN có quy mô vốn dưới 5 tỷ
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 23
Bùi Thị Thu Hương - Kế hoạch 44 - KTQD Luận văn tốt nghiệp
đồng, còn tỷ trọng DNNN có quy mô vốn trên 5 tỷ vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ.
Để thành phần kinh tế Nhà nước phát huy được vai trò chủ đạo của mình
trong nền kinh tế thì phải giảm dần số lượng các DNNN có quy mô vốn
dưới 5 tỷ đồng và tăng dần tỷ trọng DNNN có quy mô vốn trên 5 tỷ đồng.
Điều này đặt ra yêu cầu phải nỗ lực hơn nữa trong việc sắp xếp và đổi mới
DNNN đặc biệt là chuyển đổi sở hữu. Bởi thông qua việc nhiều loại hình
sở hữu cùng tồn tại trong một doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện tăng quy mô
vốn của doanh nghiệp.
4.1.3. Công nợ của các DNNN ngày càng tăng, lao động thiếu việc làm và
dôi dư còn lớn, trình độ quản lý còn yếu kém
Nợ của các DNNN đang là một gánh nặng khó khắc phục, nợ quá hạn
và nợ khó đòi ngày càng tăng. Tổng số nợ phải trả của DNNN tính đến
tháng 12 năm 2003 theo Bộ Tài chính lên đến 207,8 nghìn tỷ đồng, trong
đó 76% là vay nợ ngân hàng, còn lại là do chiếm dụng các khoản phải nộp
ngân sách hoặc chiếm dụng vốn của các doanh nghiệp khác. Tình hình tài
chính không lành mạnh một phần là do lịch sử để lại, mặt khác là do lúng
túng, chưa có giải pháp khả thi xử lý dứt điểm. Điều này làm cho hạch toán
kế toán của doanh nghiệp bị méo mó, không minh bạch và DNNN luôn ở
trong tình trạng bị động đối với các khoản nợ khó đòi.
Lao động thiếu việc làm và dôi dư cũng là khó khăn lớn, ảnh hưởng

4.2. Những yêu cầu mới đặt ra
4.2.1. Gắn kết lợi ích của người lao động, lợi ích của người quản lý với lợi
ích của Nhà nước
Trong các DNNN chưa có sự xác định thực sự mối quan hệ giữa chủ
sở hữu và người điều hành. Do đó không xác định rõ trách nhiệm trong
quyền điều hành hoạt động của DNNN. Bản thân yếu tố sở hữu được quan
niệm là Nhà nước nhưng tồn tại một cách chung chung, thiếu cụ thể về
người đại diện. Điều hành các DNNN là ban giám đốc, ban quản lý nhưng
thiếu những yếu tố ràng buộc trách nhiệm và hạn chế cả về quyền hạn nên
thiếu sự kiểm soát chặt chẽ từ phía chủ sở hữu và thiếu tính tích cực chủ
động sáng tạo trong điều hành của bộ máy quản lý. Vì vậy, các doanh
nghiệp này thường chậm đổi mới về mọi mặt, kém năng động trên thị
trường, né tránh thách thức và ít mạnh dạn trong hoạt động kinh doanh, bỏ
lỡ nhiều cơ hội kinh doanh và phát triển.
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 25

Trích đoạn Kết luận và phân tích những nguyên nhân không hoàn thành kế Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2006 – Tăng cường tổ chức quản lý Nhà nước tạo điều kiện tốt cho thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước Những giải pháp có liên quan đến tổ chức quá trình thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước Đẩy mạnh hoạt động của doanh nghiệp sau chuyển đổi sở hữu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status