Nghiên cứu hiện trạng chất lượng nước sông công đoạn từ hạ lưu hồ núi cốc đến điểm hợp lưu sông cầu và đề xuất giải pháp bảo vệ - Pdf 10

Nghiên cứu hiện trạng chất lượng nước sông
Công đoạn từ hạ lưu hồ Núi Cốc đến điểm hợp
lưu sông Cầu và đề xuất giải pháp bảo vệ Phạm Thị Thanh Thúy Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS. ngành: Khoa học Môi trường; Mã số: 60 85 02
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Mạnh Khải
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Xác định được hiện trạng và diễn biến chất lượng nước Sông Công. Đánh
giá khả năng chịu tải của dòng sông và các sức ép của phát triển kinh tế - xã hội, của
các hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông, lâm ngư nghiệp lên môi
trường nước Sông Công. Từ đó đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường nước vùng
Sông Công.

Keywords. Khoa học môi trường; Chất lượng nước; Hạ lưu; Hợp lưu; Hồ Núi Cốc;
Sông Công Content
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước là một yếu tố sinh thái không thể thiếu đối với sự sống và là nguồn tự nhiên có
khả năng tái tạo vô cùng quý giá đối với con người. Nước được dùng trong các hoạt động
nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và tạo cảnh quan môi trường. Hầu hết các hoạt
động trên đều cần nước ngọt. Theo J.A. Jonnes, 97,41% thể tích nước Trái Đất nằm trong
biển và đại dương, 1,98% trong băng tuyết hai cực, núi cao, còn lại 0,61% nằm rải rác trong

chiều dài từ nguồn đến đập Núi Cốc là 54km và đến cửa ra nơi nhập lưu với sông Cầu là
95km, có tổng diện tích lưu vực sông Công là 951km
2
, tính đến đập Núi Cốc là 536km
2
.
Nước mặt trên sông Công có diễn biến ngày càng phức tạp hơn nên tác giả đã chọn đối tượng
nghiên cứu là nước mặt sông Công khu vực từ hạ lưu hồ Núi Cốc đến điểm hợp lưu với sông
Cầu.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Phƣơng pháp thu thập số liệu thứ cấp
Sử dụng các tài liệu đã có tại Khu công nghiệp sông Công, Phòng Tài nguyên và môi
trường của thị xã sông Công, huyện Phổ Yên, thành phố Thái Nguyên, Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Thái Nguyên.
2.2.2. Phƣơng điều tra, phỏng vấn ngoài thực địa
Áp dụng phương pháp điều tra, khảo sát, đo đạc, phỏng vấn người dân sinh sống tại
khu vực xung quanh khu công nghiệp và các cán bộ quản lý môi trường tại địa phương nhằm
xác định rõ hiện trạng và các tác động môi trường.
2.2.3. Phƣơng pháp thu mẫu và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm
Gồm các hoạt động khảo sát hiện trường, lấy mẫu thực tế. Qua khảo sát thực tế tại
các điểm dự kiến lấy mẫu, qua các yêu cầu về chất lượng mẫu và các chỉ tiêu cần phân tích.
2.3.4. Phƣơng pháp xử lý số liệu
- Xử lý số liệu, vẽ đồ thị và tính tương quan bằng sử dụng phần mềm excel.
- Phương pháp đánh giá chất lượng môi trường nước: giá trị của các thông số phân tích
được so sánh với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia như: QCVN 08:2008/BTNMT và WQI. Đối với
QCVN 08:2008/BTNMT có 4 mức quy định, học viên sẽ so sánh giá trị các thông số với một mức
gần nhất.
2.3.5. Tính toán WQI
Theo Quyết định số 879 /QĐ-TCMT ngày 01 tháng 7 năm 2011 của Tổng cục trưởng
Tổng cục Môi trường

sinh hoạt) + R
chăn nuôi
x (Q
pt
chăn nuôi) + R
nông nghiêp
x (Q
pt
nông
nghiệp) + +R
cơ sở
x (Q
pt
cơ sở)

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Đánh giá hiện trạng chất lƣợng nƣớc sông Công và các phụ lƣu của sông Công
Diễn biến kết quả quan trắc hiện trạng chất lượng nước sông Công và phụ lưu Sông Công
đoạn từ hạ lưu hồ Núi Cốc từ năm 2005 đến năm 2011 cho thấy:
Sông Công đoạn từ hạ lưu hồ Núi Cốc đến điểm hợp lưu sông Cầu
Hầu hết các thông số quan trắc trong nước mặt sông Công không biến động lớn giữa
mùa khô và mùa mưa. Chất lượng nước giảm dần về phía hạ lưu. Giá trị BOD
5
của năm 2011
giảm so với các năm trước. Hàm lượng TSS trung bình năm 2009, 2010 và 2011 luôn cao tại
Cầu Đa Phúc, sông Công sau điểm hợp lưu với suối tiếp nhận nước thải bãi rác Nam Sơn và
vượt QCVN 08:2008/BTNMT mức B1. Hàm lượng TSS năm 2011 tăng lên so với năm 2010.
Nguyên nhân ô nhiễm TSS tại Cầu Đa Phúc, sông Công sau điểm hợp lưu với suối tiếp nhận
nước thải bãi rác Nam Sơn thường xuyên có hoạt động khai thác cát sỏi, giao thông thuỷ dẫn
đến hàm lượng TSS trong nước sông tăng cao.

3.2.2 So sánh chỉ số WQI trung bình qua các năm
Theo kết quả tính WQI năm 2010 tỉ lệ mẫu nước ô nhiễm không thể sử dụng cho mục
đích nào chiếm 14,29% thì đến năm 2011 tỉ lệ này là 0%, tỉ lệ mẫu có chất lượng nước dùng
cho mục đích sinh hoạt (76-92) đạt 42,86% vào năm 2010 thì đến năm 2011 tỉ lệ này là
57,14. Có được kết quả khả quan như vậy là do các cơ quan ban ngành đã chú trọng hơn vào
công tác bảo vệ môi trường, kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải.
WQI trung bình qua các năm của sông Công đoạn từ hạ lưu hồ Núi Cốc đến điểm hợp
lưu sông Cầu cho thấy chất lượng nước sông Công có dấu hiện ô nhiễm từ năm 2008-2010.
Đến năm 2011 chất lượng nước có tốt hơn nhưng càng về phía hạ lưu thì mức độ ô nhiễm
càng tăng. Nguyên nhân chủ yếu là do phần hạ lưu sông tập trung đông dân cư và dòng chảy
cũng không lớn. Chất lượng nước sông vào mùa khô và mùa mưa cũng không có nhiều khác
biệt lớn.
3.3. Đánh giá sức chịu tải và khả năng tiếp nhận nƣớc thải của sông Công
Khả năng tiếp nhận tại vị trí: NM-1: đập Hồ Núi Cốc; NM-6: cầu Bến Đẫm, Đắc Sơn,
Phổ Yên khả năng tiếp nhận chất thải ở mức trung bình.
Vị trí NM-2: trạm bơm nước của nhà máy nước Sông Công, NM-4: Sau điểm xả suối
tiếp nhận nước thải của thị xã Sông Công 200m; NM-5: Sau điểm xả suối chảy qua bãi rác
Nam Sơn 100m khả năng tiếp nhận chất thải ở mức kém.
Vị trí NM-3: sau điểm xả suối tiếp nhận nước rác Đá Mài 100; NM-7: cầu Đa Phúc có
khả năng tiếp nhận chất thải ở mức rất kém.
3.4. Tính toán thải lƣợng ô nhiễm thải ra lƣu vực sông Công
Với tổng thải lượng ô nhiễm năm 2010 là BOD
5
(8154,8416kg/ngày); TSS
(9359,906kg/ngày); N (15228,26kg/ngày); P (812,8525kg/ngày) cho chúng ta con số không
phải là nhỏ. Với mức độ tăng trưởng kinh tế, dân số ngày càng tăng thì áp lực đến chất lượng
nước sông là rất lớn. Để hạn chế thải lượng ô nhiễm ra sông Công ngày một nhiều thì các nhà
chức năng cần phải tích cực hơn nữa trong việc giải quyết các vấn đề về môi trường, kiểm soát
chặt chẽ các nguồn thải vào sông Công.
3.5. Đề xuất giải pháp bảo vệ chất lƣợng nƣớc sông Công

của các chủ cơ sở:
- Nâng cao nhận thức BVMT của các chủ cơ sở sản xuất thông qua các chương trình
đào tạo, tập huấn tập trung về công tác BVMT cho các chủ cơ sở.
- Dùng các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, truyền thanh, báo chí,
tập san, sổ tay để phổ biến kiến thức và nâng cao nhận thức về BVMT cho chủ các cơ sở.
Đối với người dân khu vực:
- Lồng ghép các vấn đề môi trường vào các chương trình xã hội như: chương
trình tình nguyện mùa hè xanh, chương trình giáo dục cộng đồng… Tổ chức các chiến dịch
tổng vệ sinh BVMT quanh lưu vực sông thông qua các hoạt động tuần lễ sạch và xanh, ngày
chủ nhật xanh…
- Tại mỗi tổ dân phố cần thường xuyên tổ chức các buổi lao động tập thể vệ sinh
đường làng ngõ xóm.
- Thông tin thường xuyên và kịp thời các vấn đề môi trường trong khu vực và đưa ra
các vấn đề môi trường vào thảo luận trong các cuộc họp tổ dân phố, thiết lập các hộp thư thu
nhận phản ánh và các sáng kiến về môi trường của người dân.
- Xây dựng cuộc sống văn minh và vệ sinh trong dân chúng, giáo dục cho người dân
có ý thức BVMT.
- Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng như đài truyền hình, phát thanh, báo
chí kể cả các khẩu hiệu, biểu ngữ, áp phích để gia tăng hiệu quả của công tác giáo dục tuyên
truyền, vận động quần chúng tham gia BVMT.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường.
3.5.4. Giải pháp kỹ thuật
Nghiên cứu xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung cho khu công nghiệp sông Công
và khu thị xã sông Công, huyện Phổ Yên.
Yêu cầu ban quản lý bãi rác Đá Mài xử lý triệt để nước rỉ rác của bãi rác Đá Mài.
Thu gom và xử lý nước thải các khu công nghiệp đầu nguồn, nước thải sinh hoạt và
chăn nuôi.
Các trại chăn nuôi có quy mô lớn phải thực hiện xử lý nước thải chăn nuôi trước khi
thải ra sông Công.


hồ Núi Cốc đến điểm hợp lưu sông Cầu và kết quả cho thấy thải lượng ô nhiễm thải vào sông
Công tương đối lớn.
- Một số giải pháp cụ thể về mặt quản lý, quy hoạch, giáo dục cộng đồng và các biện
pháp kỹ thuật là thực sự cần thiết cho địa bàn nơi mà con sông Công chảy qua.
Kiến nghị
Như chúng ta đã biết thì tỉnh Thái Nguyên trong tương lai sẽ xây dựng thêm nhiều khu đô
thị và khu công nghiệp về phía thị xã sông Công và khu vực phía Tây huyện Phổ Yên. Áp lực phát
triển kinh tế xã hội đang đè nặng lên các dòng sông.
Đứng trước thực trạng nguồn nước sông Công đang có những diễn biến phức tạp chúng ta
cần phải đề ra một số biện pháp và phương hướng thích hợp nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm,
suy thoái và bảo vệ tốt lưu vực sông Công nói chung và khu vực từ đập Hồ Núi Cốc tới điểm hợp
lưu với sông Cầu nói riêng góp phần vào công cuộc phát triển bền vững. Từ những lý do đó tôi có
những kiến nghị sau:
- KCN sông Công và thị xã sông Công Cần có khu xử lý nước thải tập trung của khu công
nghiệp và khu đô thị đảm bảo yêu cầu trước khi thải ra ngoài môi trường.
- Đối với chất thải rắn: Cần có biện pháp thu gom tái chế, tuyên truyền người dân không
vứt rác thải sinh hoạt xuống sông suối.
- Tổng Cục môi trường cần tiếp tục nghiên cứu một số mô hình WQI cho các thông số ô
nhiễm khác như ô nhiễm kim loại nặng, dư lượng HCBVTV…
- Đối với cán bộ quản lý môi trường
+ Kiểm tra sát sao các hoạt động bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất gây ô
nhiễm môi trường.
+ Thực hiện thu phí nước thải đối với những đơn vị xả nước thải ra môi trường.
+ Đầu tư xây dựng sớm hệ thống dự báo ô nhiễm môi trường.
+ Tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân trong công tác bảo vệ môi trường,
bảo vệ nguồn nước.
+ Thường xuyên kiểm tra, thanh tra các cơ sở sản xuất có biện pháp xử lý và khắc
phục kịp thời. Sớm xây dựng hệ thống cho nước thải đi riêng đối với từng đối tượng cụ thể.
+ Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường tạo điều kiện giúp các cơ
sở sản xuất kinh doanh thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường, tư vấn giúp đỡ trong việc

Nội.
13. Phạm Mai Duy Thông (2010), Đánh giá ô nhiễm do nước thải và đề xuất biện pháp hạn
chế ảnh hưởng tới chất lượng nước đoạn sông Vàm Cỏ Đông chảy qua địa phận tỉnh Tây
Ninh, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia, Tp.HCM.
14. Phòng thống kê huyện Phổ Yên (2011), Niên giám thống kê huyện Phổ Yên năm 2010.
15. Phòng thống kê thành phố Thái Nguyên (2011), Niên giám thống kê thành phố Thái
Nguyên năm 2010.
16. Phòng thống kê thị xã Sông Công (2011), Niên giám thống kê Thị xã Sông Công.
17. Lê Trình và cộng sự (2008), Báo cáo Nghiên cứu phân vùng chất lượng nước theo chỉ số
chất lượng nước (WQI) và đánh giá khả năng sử dụng các nguồn nước sông, kênh rạch ở
vùng Tp.HCM, Tp.HCM.
18. Lâm Minh Triết (2006), Kỹ thuật môi trường, Nhà xuất bản ĐH QG thành phố Hồ Chí
Minh.
19. Tổng cục môi trường (6.2011), Phương pháp tính toán chỉ số chất lượng nước (WQI) áp
dụng cho các lưu vực sông Việt Nam, Hà Nội.
20. Trường Đại học Thủy lợi (2006), Thuyết minh tính toán thủy văn và điều tiết dòng chảy,
Hà Nội.
21. Tổng cục môi trường (2010),Phương pháp tính toán chỉ số chất lượng nước WQI.
22. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2007), Báo cáo tổng hợp dự án di dời các hộ dân
vùng bán ngập nước tại cao trình 48,25M Hồ Núi Cốc-Tỉnh Thái Nguyên.
23. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên năm (2005-2011), Báo cáo kết quả quan
trắc hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên.
24. Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam (2009), Nghiên cứu xây dựng chỉ số chất lượng nước
(WQI) phục vụ cho công tác quy hoạch tài nguyên nước, Thiết kế quy hoạch, Tp. Hồ Chí
Minh.
25. www.nea.gov.vn (Website Tổng Cục Môi trường Việt Nam)
Tài liệu tham khảo tiếng anh
26. Alexander S. Kolosovich, Urbanization and Water Quality on the Yamuna River, NRES
400.
27. APHA (2005), Standard methods for the examination of water and waste water, 21st

42. Tyson. J. M. and House M.A. (1989), The application of a water quality Index to
river management. Water Science & Technology 21: 1149-1159.
43. Smith, G. D., (2000), A beter water quality indexing system for rivers and streams. Water
resource, 24 (10), 1337


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status