Nghiên cứu tận dụng phế thải bia sau quá trình lên men làm thức ăn chăn nuôi - Pdf 10

Nghiên cứu tận dụng phế thải bia sau quá trình
lên men làm thức ăn chăn nuôi Phạm Quỳnh Trang Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS. ngành: Khoa học môi trường; Mã số: 60 85 02
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Mạnh Khải
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Trình bày tổng quan về phế thải bia; nguyên liệu phục vụ cho ngành sản
xuất thức ăn chăn nuôi. Nghiên cứu tìm ra những điều kiện tối ưu trong quá trình
tách đắng trong bó nấm men bia để sản phẩm sau quá trình sấy đạt chất lượng tốt
phục vụ cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi. Tìm hiểu đặc điểm của bã nấn men
bia; tiển xử lý bã nấm men bia; nghiên cứu thay thế dinh dưỡng trong thức ăn chăn
nuôi.

Keywords. Khoa học môi trường; Bảo vệ môi trường; Tái chế; Phế thải bia; Thức
ăn chăn nuôi Content
MỞ ĐẦU
Nấm men là một nguồn thức ăn bổ sung có giá trị cao và không cholesterol. Hàm
lượng protein trong nấm men đạt từ 40 – 60%, với axit amin không thay thế gần giống
protein của động vật [5,10,15]. Hệ số hấp phụ của protein này cũng rất cao. Hàm lượng
vitamin trong nấm men với hoạt tính cao hơn gấp 2 – 3 lần so với vitamin tổng hợp [,15].
Nấm men còn cung cấp vitamin B tự nhiên phong phú, chứa nhiều enzym kích tố có ảnh

chất lượng bia thì bã malt, mầm malt và nấm men bia là nguồn phế liệu có ý nghĩa quan trọng
trong thực phẩm và thức ăn gia súc cả về số lượng và giá trị dinh dưỡng.
Bã nấm men bia là một phế phẩm của sản xuất, được nằm lại trong các thùng lên men
và các hầm chứa sau khi lên men chính và lên men phụ. Men bia có giá trị dinh dưỡng cao và
chữa bệnh tốt.
1.2. TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN LIỆU PHỤC VỤ CHO NGÀNH SẢN XUẤT THỨC
ĂN CHĂN NUÔI
Từ trước đến nay, chăn nuôi luôn có vai trò quan trọng đối với nền nông nghiệp nước
ta, giá trị chăn nuôi chiếm tỷ trọng khá, trên 27% cơ cấu của toàn ngành và tăng trưởng mỗi
năm (giai đoạn 2001 - 2009) đạt 7-8%. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2010, tổng số đầu lợn
đạt 27,3 triệu con, số lượng gia cầm hơn 300 triệu con, sản lượng thịt đạt 615 nghìn tấn. Đàn
bò trong cả nước đạt gần 6 triệu con, bò sữa 128 nghìn con và đàn trâu là 2,9 triệu con. Tổng
sản phẩm chăn nuôi trong nước đạt 4.006 nghìn tấn thịt, 306 nghìn tấn sữa tươi và 5,87 tỷ quả
trứng. Kết thúc năm 2011, sản lượng và giá trị ngành chăn nuôi đều tăng hơn so với năm
2010. Cụ thể, thịt hơi các loại đạt 4,3 triệu tấn, tăng 7,7%; trứng gia cầm đạt 6,5 tỷ quả, tăng
gần 11%; sữa tươi đạt 340 ngàn tấn, tăng 11%, đóng góp lớn vào việc ổn định giá thực phẩm
trong nước và cho xuất khẩu. Xu hướng chăn nuôi trang trại, quy mô công nghiệp, công nghệ
cao đang được quan tâm phát triển, trong khi đó chăn nuôi nông hộ giảm dần. Do vậy, nhu
cầu về thức ăn chăn nuôi sẽ còn tăng cao hơn nữa do sự chuyển đổi phương thức chăn nuôi
truyền thống sang phương thức công nghiệp. CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Bã nấm men bia S.cerevisiae là phần nấm men dư thừa lấy sau quá trình lên men
chính được thu nhận tại Công ty Cổ phần Liên hợp Thực phẩm, 267 Quang Trung, Hà Đông,
Hà Nội. Bã nấm men được sử dụng là đối tượng nghiên cứu tìm ra những điều kiện tối ưu
trong quá trình tách đắng trong bã nấm men bia để sản phẩm sau quá trình sấy đạt chất lượng

- Nồi hấp Tomy SS325 (Nhật Bản).
- Máy đo pH Orion Model 410 A (Đức).
- Các thùng inox và các dụng cụ phòng thí nghiệm.
- Các bình tam giác, pipet, ống nghiệm…
- Bộ sàng rây Trung Quốc bao gồm bộ phần lắc và bộ rây sàng
Đường kính sàng rây: 200mm kích thước lỗ 45 µm
Đường kính sàng rây: 200mm kích thước lỗ 53 µm
Đường kính sàng rây: 200mm kích thước lỗ 63 µm
Đường kính sàng rây: 200mm kích thước lỗ 75 µm
Đường kính sàng rây: 200mm kích thước lỗ 90 µm
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu
Phòng thực tập Bộ môn Công nghệ Thực Phẩm – Viện công nghệ thực phẩm Hà Nội.
Phòng thu xử lý bã bia – Công ty cổ phần liên hiệp thực phẩm.
Nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi thuộc công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi Miền Bắc
2.2.3. Xử lý bã nấm men bia
Nguyên liệu nấm men đưa về được xác định hàm lượng ẩm rồi đem đi lọc bằng sàng
rây để loại bớt nước trước khi tách đắng. Nấm men thu được sau khi lọc được đem đi tách
đắng để được nấm men tinh khiết.
2.2.4. Phương pháp vi sinh
- Phương pháp xác định hình thái, kích thước tế bào và nảy chồi của nấm men trên kính hiển
vi.
- Phương pháp xác định số lượng tế bào chết: bằng phương pháp nhuộm xanh
methylen. Các tế bào nấm men chết bắt màu xanh và được phát hiện trong buồng đếm
Thoma.
2.2.5. Phương pháp lý học
- Xác định độ đục (OD – optical density) của nước rửa nấm men ở mật độ quang 275 nm theo
AOAC (1984).
- Phương pháp xác định độ đắng theo EBC (Bishop, 1967)
2.2.6. Phương pháp phân tích hóa lý
2.2.6.1. Xác định độ ẩm bã nấm men bằng máy đo độ ẩm bằng hồng ngoại

Mẫu
Kích thƣớc lỗ
sàng (µm)
Tính chất của sinh khối nấm men sau khi lọc, lắng
Tỷ lệ tế bào sống
(%)
Cảm quan
1
0
89,4
Sinh khối màu kem sữa, lẫn các chấm
đen là cặn, tế bào già chết.
2
45
(bí, không lọc được)

3
53
98,7
Sinh khối thuần nhất màu trắng sáng.
4
63
95,4
Sinh khối màu trắng sáng, điểm một
vài chấm đen
5
75
93,2
Sinh khối màu trắng sáng, lẫn 1 số
chấm đen

hiệu suất lọc cao, đồng thời tiết kiệm được lượng nước sử dụng, lựa chọn tỷ lệ nước bổ sung
làm loãng sinh khối nấm men là 1,5/1.
3.2.2. Nghiên cứu phương thức rửa sinh khối nấm men bia
Sau khi xác định được tỷ lệ nước/ sinh khối nấm men tối ưu là 1,5/1, để sinh khối nấm men
được sạch hoàn toàn khỏi dịch bia lon, tiếp tục rửa nấm men lần thứ hai, lần thứ ba và xác
định độ trong của nước rửa sau khi lắng. Kết quả được trình bày ở bảng 3.4
Bảng 3.4. Ảnh hƣởng số lần rửa men đến chất lƣợng của nấm men
Số lần rửa
Độ trong của nƣớc sau khi rửa (OD
275
)
1
0,19
2
0,075
3
0,054

Kết quả ở bảng 3.4 cho thấy độ đục của nước rửa đã giảm đáng kể sau khi được rửa. Tuy
nhiên, rửa 1 lần độ trong của nước sau khi rửa là cao nhất (OD
275
= 0,19), rửa lần thứ 2 cho
độ trong là (OD
275
= 0,075), rửa lần thứ 3 cho độ trong là (OD
275
= 0,054). Rửa lần thứ 3 cho


Các α-axit Phần các β còn lại Các β-axit Các chất nhựa mềm khác chưa xác định

Sơ đồ 3.1: Các thành phần nhựa chính của hoa huoblon
3.2.3.2. Kết quả nghiên cứu xác định phƣơng pháp tách đắng trong bã men bia
Để xác định phương pháp hiệu quả tách vị đắng, chúng tôi đã sử dụng các hóa chất khác nhau
để thử nghiệm. Sau đó xác định các thông số độ đục của nước rửa, tỷ lệ tế bào sống… Kết
quả được trình bày ở bảng sau:

Bảng 3.5. Các phƣơng pháp xử lý vị đắng của sinh khối nấm men bia
TT
Phƣơng pháp xử lý
Độ đục của
nƣớc xử lý
(OD
275
nm)
Độ màu
của nƣớc
xử lý
Tỷ lệ tế
bào sống
(%)
Độ đắng
(EBU)
1
Dung dịch H

5
Đối chứng (nước
RO)
0,068
Trắng
99,0
13,4
Ghi chú: Nhiệt độ của quá trình xử lý là điều kiện nhiệt độ 20
o
C, Nồng độ các dung dịch thí
nghiệm kế thừa từ các nghiên cứu của Bishop, L. R. (1967).
Kết quả ở bảng 3.4 cho thấy: Độ đục của dung dịch sau khi xử lý bằng NaOH 0,1N là
cao nhất (OD=0,415), màu của nước rửa có màu vàng, trong khi đó các phương pháp xử lý
còn lại đều cho giá trị OD thấp hơn nhiều và màu của nước rửa là màu trắng, thay đổi rất ít so
với đối chứng, xử lý bằng nước RO. Kết quả này có thể được giải thích là trong phương pháp
xử lý bằng dung dịch NaOH 0,1N, thành phần isohumulones gắn trên bề mặt tế bào nấm men
không bền trong dung dịch NaOH và do vậy bị tách khỏi tế bào nấm men và chuyển vào
trong dung dịch [21]. Chính vì vậy, nước xử lý nấm men có màu vàng và độ đục tăng lên
đáng kể. Kết quả về độ đắng của sản phẩm cuối cùng cũng cho thấy mẫu xử lý bằng NaOH
0,1N cho độ đắng thấp nhất với giá trị EBU là 4,9. Điều này càng chứng tỏ rằng dung dịch
NaOH 0,1N có thể loại bỏ được thành phần isohumulones ra khỏi bề mặt tế bào nấm men,
làm cho sinh khối nấm men trở nên không đắng. Hơn nữa, tỷ lệ tế bào nấm men sống sau khi
xử lý lên tới 98,8% cho thấy xử lý bằng NaOH 0,1N không làm chết nấm men bia.
3.2.3.3. Kết quả nghiên cứu xác định tỷ lệ dung dịch kiềm/ sinh khối nấm men và giá trị pH
thích hợp quá trình tách vị đắng.
Bã nấm men bia sau quá trình tiền xử lý, sau đó sẽ được tách đắng bằng dung dịch
NaOH 0,1N ở các tỷ lệ 1:1; 2:1; 3:1và 4:1 ở nhiệt độ 20ºC trong thời gian 60 phút. Khả năng
loại đắng trong quá trình xử lý được trình bày ở bảng 3.6.
Bảng 3.6. Ảnh hƣởng của tỷ lệ dung dịch NaOH 0,1N: sinh khối nấm men
TT

giá trị pH của phản ứng là 10,8, thì hiệu quả của quá trình tách đắng cũng không tăng mà còn
giảm đi, do vậy tỷ lệ dung dịch kiềm: sinh khối là 3:1 (pH 10,2) là thích hợp nhất cho hiệu
quả tách đắng.
3.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độc khuấy đến hiệu quả tách đắng
Trong quá trình xử lý sinh khối nấm men bia bằng NaOH, khuấy đảo có tác dụng làm tăng
diện tích tiếp xúc giữa bề mặt tế bào nấm men và dung dịch NaOH 0,1N, nhờ vậy mà trong
cùng một điều kiện xử lý về tỷ lệ NaOH/sinh khối (3:1), nhiệt độ (4
o
C) thì hiệu quả tách đắng
cao hơn ở mẫu có khuấy, đặc biệt ở các mẫu có cường độ khuấy mạnh, thể hiện bằng thời
gian tách đắng giảm đi đáng kể, từ 60 phút (không khuấy) xuống còn 45 phút (khuấy 250
vòng/phút) (bảng 3.7).
Bảng 3.7. Ảnh hƣởng của cƣờng độ khuấy đến hiệu quả tách đắng trong quá trình xử lý
sinh khối nấm men bia bằng NaOH 0,1N
Tốc độ khuấy
(vòng phút)
Tỷ lệ dung dịch NaOH
0,1N:sinh khối nấm men
Nhiệt độ xử lý
(
o
C)
Thời gian để sản
phẩm hết đắng
(phút)
0
3:1
4
60
50

sống của nấm men bia
Nhiệt độ
(
o
C)
Thời gian
(phút)
Tỷ lệ tế bào
sống (%)
Độ đục
(OD
275nm
)
Tính chất của sản
phẩm cuối

4
15
99,5
0,345
Đắng
30
99,2
0,416
Hơi đắng
45
99,0
0,547
Không đắng


98,8
0,426
Hơi đắng
30
97,0
0,556
Không đắng
45
94,2
0,614
Không đắng

25
15
97,5
0,571
Không đắng
30
93,1
0,693
Không đắng
45
90,8
0,789
Không đắng

30
15
94,7
0,601

tỷ lệ dung dịch/nấm men là 5:1, nhiệt độ xử lý 25
o
C, tốc độ khuấy 250 vòng/phút, thời gian
xử lý: 15 phút.
Sơ đồ qui trình công nghệ tách đắng khỏi sinh khối nấm men bia được trình bày ở sơ đồ 3.2.

Sơ đồ 3.2. Qui trình công nghệ tách đắng
và thu nhận sinh khối nấm men bia
NẤM MEN BIA
RỬA MEN
(t=2-5C,t=4h)
NƯỚC NGƯNG
LẠNH
LY TÂM
ỔN ĐỊNH pH
NẤM MEN
TINH KHIẾT
KHIẾT
LỌC
NaOH
0,1N
XỬ LÝ ĐẮNG
(t=25C,t=15’)

3.2.6 Điều kiện nhiệt độ và thời gian cho quá trình rửa đắng và lắng sinh khối nấm men
bia
Xác định các điều kiện nhiệt độ và thời gian thích hợp cho quá trình rửa men, kết quả được
trình bày ở bảng 3.9.
Bảng 3.9. Ảnh hƣởng của nhiệt độ và thời gian đến
quá trình rửa và lắng men

10
3
0,48
Chưa lắng
4
0,36
Lắng ít
5
0,30
Lắng chưa hoàn toàn
15
3
0,54
Chưa lắng
4
0,47
Chưa lắng
5
0,39
Lắng ít

Kết quả ở bảng 3.9 cho thấy ở nhiệt độ càng thấp, thì sinh khối nấm men bia lắng càng
nhanh. Ở nhiệt độ từ 2-5ºC, chỉ sau khi rửa 3-4 h, nấm men đã lắng chặt xuống dưới thiết bị
rửa. Ở nhiệt độ cao hơn, từ 10-15ºC quá trình rửa không thuận lợi do nấm men còn lơ lửng
khá nhiều , thể hiện ở giá trị OD tương đối cao từ 0,30 (nhiệt độ 10ºC) đến 0,39 (nhiệt độ
15ºC). Chính vì vậy nhiệt độ thích hợp nhất cho quá trình rửa và lắng. Sinh khối nấm men bia
là từ 2-5ºC, thời gian là 4h.
3.2.7. Kết quả chất lượng bã nấm men sau quá trình tiền xử lý
Bã nấm men sau khi được thu nhận từ công ty bia được đem đi xác định độ ẩm,
protein rồi được xử lý, làm sạch nhằm thu được lượng sinh khối thuần khiết. Với sinh khối

Hàm lƣợng protein
tổng số (%)
pH
1
76,11
23,89
12,43
6,58
2
75,64
24,36
12,72
6,53
3
75,81
24,19
12,43
6,52
Trung
bình
75,85
24,15
12,53
6,54

Biểu đồ 3.1. Biểu đồ thành phần hóa học của bã nấm men sau khi lọc
Kết quả bảng trên cho thấy: nấm men nguyên liệu ban đầu có hàm lượng ẩm trung bình là
83,43%. Sau khi lọc hàm lượng ẩm giảm xuống còn 75,85%, hàm lượng chất xơ thô trung
bình là 23,15%, hàm lượng protein tổng số chiếm khoảng 12,53% , pH của nấm men sau khi
lọc cũng khá trung tính (6,10). Như vậy, nguyên liệu nấm men sau khi xử lý có chất lượng

12,08
5,1
48,84
Nhận xét: Nhờ có quá trình rửa và tách đắng trong nấm men bia mà sản phẩm thu được là Bột
nấm men sấy hầm có độ ẩm 12,08%, hàm lượng protein tổng số chiếm 46,84% và hàm lượng
xơ thô là 5,1 %.
Hàm lượng ẩm đã giảm tới mức an toàn, có thể bảo quản bột nấm men trong một thời gian
dài.
Màu sắc: sau khi sấy bột nấm men có màu trắng vàng.
Mùi: bột nấm men có mùi thơm ngọt đặc trưng.
Vị: có vị ngọt lợ của axit amin, giống vị ngọt của mì chính.
Bột sau khi nghiền rất mịn. Sản phẩm dùng làm nguyên liệu sản xuất các loại thức ăn cho
chăn nuôi như: Cá, lợn, gia cầm
Trong khi đó cũng với chế độ sấy và bã nấm men bia sử dụng như nhau thì kết quả phân tích
của sản phẩm bã nấm men bia sau khi sấy cho kết quả như sau:
75%
13%
12%
Hàm lượng ẩm
Hàm lượng protein
Các chất khác
Bảng 3.13. Kết quả phân tích thành phần hóa học của bột bã nấm men bia không đƣợc
tách đắng của công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi miền Bắc
STT
Chỉ tiêu phân tích
Phƣơng pháp
Đơn vị tính
Kết quả
1
Protein (Nx6,25)

1
Protein
(Nx6,25)
%
48,84
48,1

Xơ thô
%
5,1
6,3
3
Màu sắc
-
Nâu vàng
nâu
4
Mùi
-
Thơm
Ngai ngái

Vị
-
Ngọt lợ
Hơi đắng

Từ bảng 3.14 cho thấy: Cùng một loại bã nấm men bia, đối với bã men bia của công
ty cổ phần thức ăn chăn nuôi miền Bắc có hàm lượng protein thấp hơn so với bột bã nấm men
bia có qua quá trình rửa và tách đắng là 0,74%. Hàm lượng chất xơ thô trong thức ăn của


0,3 kg

0,86 kg

1,36 kg
Gà cho ăn thức ăn đã được thay đậu tương
bằng bã men bia sấy khô
( ký hiệu G2)

0,3 kg

0,91kg

1,45 kg

Kết quả sau hai tháng cho gà ăn hai loại thức ăn khác nhau được đánh giá qua đồ thị sau:

Biểu đồ 3.2 : Biểu đồ tốc độ tăng trƣởng của gà ăn hai loại thức ăn
khác nhau
Nhận xét: Từ đồ thị cho thấy về tốc độ tăng trưởng của 2 loại gà được ăn hai loại thức ăn
khác nhau là gần tương đương nhau. Tuy nhiên, gà được cho ăn thức ăn có phối trộn bột bã
men bia sấy khô có số cân nặng cao hơn so với gà cho ăn thức ăn phối trộn bằng đậu tương.
Cụ thể trong tháng thứ nhất gà được cho ăn thức ăn có trộn với bột bã nấm men bia có trọng
lượng cao hơn gà ăn thức ăn trộn bột đậu tương xay là 0,05kg và trong tháng thứ hai là
0,09kg. Điều này chứng tỏ khả năng thích ứng của gà với loại thức ăn có trộn với bột bã men
bia sấy khô là rất tốt và bột bã men bia hoàn toàn có thể bán ra thị trường để thay thế cho bột
đậu tương.
thể bảo quản tốt trong một thời gian dài , độ xơ thô trung bình là 5,1%, hàm lượng Protein
trung bình là 48,58%, đặc biệt là không còn vị đắng trong sản phẩm sau khi sấy. Do đó, bã
nấm men bia hoàn toàn có thể sử dụng tốt để sản xuất thức ăn cho chăn nuôi.
 Kết quả đánh giá về dinh dưỡng trên gà nuôi: sau 2 tháng nuôi thử nghiệm gà được
cho ăn bằng thức ăn chế biến từ sản phẩm bã nấm men bia sấy khô cho thấy bã nấm
men bia hoàn toàn có thể thay thế được bột đậu tương trong thành phần thức ăn cho
gà.

KIẾN NGHỊ
- Tiếp tục nghiên cứu sản xuất bột nấm men với các công nghệ sấy khác nhau để
thu được bột bã nấm men bia có thể phục vụ cho người.
- Xác định hàm lượng vitamin và khoáng còn lại sau quá trình sấy.
- Tiến hành xây dựng quy trình sản xuất bột nấm men từ nấm men bánh mì và nấm
men rượu.
References
Tiếng việt
1. Bộ công nghiệp, tổng công ty rượu bia nước giải khát (1999). Quy hoạch tổng thể phát
triển ngành rượu bia nước giải khát đến năm 2020.
2. Hoàng Đình Hòa (2002). Công nghệ sản xuất malt và bia. Nhà xuất bản Khoa Học và
Kĩ Thuật, Hà Nội.
3. Hoàng Kim Anh (2006). Hoá học thực phẩm. Nhà xuất bản Khoa Học và Kĩ Thuật, Hà
Nội.
4. Hồ Xưởng (1996). Công nghệ sản xuất bia. Nhà xuất bản Khoa Học và Kĩ Thuật, Hà
Nội.
5. Lương Đức Phẩm (2009). Nấm men công nghiệp. Nhà xuất bản Khoa Học và Kĩ Thuật,
Hà Nội.
6. Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đình Quyến, Phạm Văn Ty (2002). Vi sinh vật học. Nhà

http://dvt.vn/20100812052350317p0c35/chau-a-dung-dau-the-gioi-ve-san-xuat-bia-nam-
2009.htm. Truy cập thứ 2, 25/4/2011.
19. Lạm phát cao, sản xuất bia vẫn tăng trưởng mạnh. Cập nhật
19/09/2008.http://www.ktdt.com.vn/newsdetail.asp?CatId=15&NewsId=95981. Truy
cập thứ 2, 25/4/2011.

Tiếng Anh
20. AOAC officical method of analysis (1984).
21. Bishop, L. R. (1967). "European Brewery Convention. The E.B.C. scale of
bitterness". J. Inst. Brew. 73: 525.
22. John Conway, Hélène Gaudreau và Claude P. Champagne (2001). “The effect of the
adition of proteases and glucanases during yeast autolysis on the production and
properties of yeast extracts”. Can. J. Microbiol. 47: 18 – 24.
23. Jurgens M. H., Rikabi R. A., Zimmerman D. R. (1997). The effect of dietary dry yeast
supplement on performance of sows during gestation- lactation and their pigs. J ANIS
SCI, 75, p. 593-597.
24. Kogan G., Kocher A. (2007). Role of yeast cell wall polysaccharides in pig nutrition
and health protection. Livestock Science, 109, p.161-165.
25. Le Mieux F., Naranijo, T.D. Bidner, and L.K. Southern, PAS (2010). Effect of dried
brewers yeast on growth performance of nursing and weanling pigs. The professional
Animal Scientist, 26, p. 70 – 75.
26. Nand, K. (1987). Debittering of spent brewer’s yeast for food purpose. Die Nahrung,
31, p.127.
27. Nagodawithana, T. (1992). “Yeast – deriver flavors and flavor enhancers and their
probable mode of action”. Food technol. 46 (11): 138 – 143.
28. Novo enzym process divion. Yeast extracts. Application sheet.
29. Paul Buttrick (2006) Recovery of beer from tank bottoms– a review. The BREWER
& DISTILLER • Volume 2 • Issue 4 • April
30. Steward, G. G. (1981). “The genetic manipulation of industrial yeast strains”. Can. J.
Microbiol. 27: 973 – 990.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status