Phân tích proteomics mô ung thƣ của bệnh
nhân ung thƣ đại trực tràng Nguyễn Thị Ngọc Hà Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS. ngành: Sinh học thực nghiệm; Mã số: 60 42 30
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS. Trịnh Hồng Thái
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Phân tách hệ protein tách chiết từ mô đại trực tràng bình thƣờng và mô
ung thƣ đại trực tràng của bệnh nhân ung thƣ đại trực tràng. Phân tích và so sánh
sự biểu hiện khác biệt của các protein ở mô ung thƣ đại trực tràng so với mô đại
trực tràng bình thƣờng thông qua biểu hiện của các điểm protein trên bản gel điện
di hai chiều. Nhận dạng đƣợc một số protein biểu hiện khác biệt đặc trƣng giữa
mô ung thƣ đại trực tràng và mô đại trực tràng bình thƣờng.
Keywords. Sinh học thực nghiệm; Proteomics; Mô ung thƣ; Ung thƣ đại trực
tràng
Content
MỞ ĐẦU
Ung thƣ đại trực tràng là một trong những bệnh ung thƣ phổ biến nhất trên thế giới,
nó đứng thứ ba chỉ sau ung thƣ phổi và ung thƣ vú. Đây là căn bệnh có tỷ lệ tử vong cao và
tỷ lệ mắc bệnh có xu hƣớng ngày càng tăng. Theo thống kê, năm 2008 ƣớc tính có khoảng
Chƣơng 1 – TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN VỀ UNG THƢ ĐẠI TRỰC TRÀNG
1.1.1. Ung thƣ đại trực tràng là gì?
Ung thƣ đại trực tràng là loại ung thƣ phổ biến nhất trong các loại ung thƣ đƣờng
tiêu hóa, bao gồm ung thƣ đại tràng và ung thƣ trực tràng đƣợc gọi theo tên của mô, nơi
phát sinh ung thƣ.
Ung thƣ đại trực tràng xảy ra khi một số tế bào ở lớp lót trong (còn gọi là niêm mạc)
của đại tràng hay trực tràng trở nên bất thƣờng và phát triển một cách không kiểm soát
đƣợc, tạo thành khối u (còn gọi là polyp). Các khối u này có thể là u lành tính hay u ác
tính. U ác tính là chính là ung thƣ đại trực tràng. Khi di căn, các tế bào ung thƣ đại trực
tràng thƣờng di căn tới gan.
Ung thƣ đại trực tràng là ung thƣ phổ biến thứ ba trên thế giới chỉ sau ung thƣ phổi
và ung thƣ vú. Năm 2008 ƣớc tính có khoảng 1,24 triệu ngƣời trên thế giới đƣợc chẩn đoán
là mắc ung thƣ đại trực tràng, chiếm khoảng 10% trong số các loại ung thƣ. Số ca tử vong
do ung thƣ đại trực tràng trong năm 2008 là 610.000 ca trên toàn thế giới, chiếm khoảng
8% số lƣợng tử vong do ung thƣ [16, 45].
Tại Việt Nam, ung thƣ đại trực tràng là loại ung thƣ đứng thứ năm trong các loại ung
thƣ thƣờng gặp, sau ung thƣ dạ dày, phổi, vú, vòm họng và bệnh này có xu hƣớng ngày
càng tăng cao. Theo thống kê của Bệnh viện Ung Bƣớu TPHCM, năm 2007, bệnh viện có
218 ca bệnh ung thƣ đại trực tràng. Năm 2008 con số này là 306 ca và tính đến tháng 9
năm 2009, đã có đến trên 220 bệnh nhân mới đến điều trị ung thƣ đại trực tràng [54]. Theo
thống kê của Bệnh viện K, tỷ lệ mắc ung thƣ đại tràng là 9% tổng số bệnh nhân ung thƣ
[55].
1.1.2. Nguyên nhân dẫn đến ung thƣ đại trực tràng
Nguyên nhân chính xác dẫn đến ung thƣ đại trực tràng vẫn chƣa đƣợc chứng minh rõ
ràng. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng đã cho thấy một số yếu tố có khả năng làm tăng
nguy cơ mắc ung thƣ đại trực tràng, bao gồm yếu tố di truyền và yếu tố không di truyền.
và mức độ di căn. Ở nhiều loại ung thƣ, các cách phối hợp TNM này tƣơng ứng với một
trong 5 giai đoạn (hình 2).
Hình 2. Các giai đoạn phát triển của ung thƣ đại trực tràng [50]
1.2. NGHIÊN CỨU CHỈ THỊ SINH HỌC ĐỐI VỚI UNG THƢ
Chỉ thị sinh học (Biomarker) đƣợc định nghĩa là các phần tử đƣợc tìm thấy trong
máu, trong các loại dịch của cơ thể hoặc trong mô, đặc trƣng cho một quá trình sinh lý hoặc
các giai đoạn bệnh lý.
1.2.1. Chỉ thị sinh học đối với ung thƣ
Chỉ thị sinh học ung thƣ là những phần tử có trong tế bào hoặc mô ung thƣ, trong
máu hay dịch cơ thể khác. Chỉ thị sinh học gồm 2 loại chính là chỉ thị tế bào và chỉ thị thể
dịch. Chỉ thị ung thƣ dạng tế bào bao gồm các kháng nguyên bề mặt các tế bào, các thụ thể
hormone và thụ thể yếu tố tăng trƣởng, những biến đổi ADN, mARN, yếu tố phiên mã của
tế bào. Chỉ thị ung thƣ dạng thể dịch bao gồm các chất đƣợc phát hiện ở nồng độ bất
thƣờng có mặt trong huyết thanh, nƣớc tiểu và các loại dịch khác của cơ thể [2]. Một chỉ
thị ung thƣ lý tƣởng là chỉ thị có thể dễ dàng xác định đƣợc, cho kết quả đáng tin cậy, các
xét nghiệm sử dụng loại chỉ thị này có độ đặc hiệu và độ nhạy cao, chi phí thấp.
1.2.2. Các kỹ thuật sinh học phân tử đƣợc ứng dụng để nghiên cứu chỉ thị sinh
học ung thƣ
Hiện nay, có 3 kỹ thuật sinh học phân tử chính đƣợc ứng dụng trong nghiên cứu chỉ
thị sinh học của ung thƣ bao gồm:
Sử dụng kỹ thuật genomics để xác định, nhận dạng những biến đổi gen liên quan
đến sự phát sinh ung thƣ.
Sử dụng kỹ thuật proteomics để xác định những biến đổi của các protein liên
quan đến quá trình phát sinh, hình thành ung thƣ. Ƣu điểm của kỹ thuật proteomics là có
khả năng nghiên cứu đƣợc mức độ biểu hiện của gen thông qua các phân tử protein tạo ra.
Sử dụng kỹ thuật metabolomics để nghiên cứu tất cả những chất chuyển hóa
đƣợc tạo ra trong tế bào, trong mô.
1.3. PROTEOMICS TRONG NGHIÊN CỨU UNG THƢ ĐẠI TRỰC TRÀNG
(Asia Oceania Human Proteome Organisation) thuộc châu Á-châu Đại Dƣơng.
Một trong những ứng dụng quan trọng đầu tiên của proteomics là trong lĩnh vực
nghiên cứu ung thƣ. Việc tìm ra những biến đổi trong hệ protein của bệnh nhân ung thƣ có
thể giúp các nhà khoa học tìm hiểu rõ hơn về cơ chế phát sinh bệnh ở mức độ phân tử. Các
protein biến đổi cũng có thể trở thành các chỉ thị sinh học mới góp phần sàng lọc, chẩn
đoán sớm và theo dõi tiến triển của bệnh.
Phân tích proteomics huyết tƣơng của bệnh nhân ung thƣ đại trực tràng
Huyết tƣơng tách từ máu ngƣời là một hệ protein tuyệt vời cho phân tích
proteomics. Nó tập hợp các protein từ các mô khác nhau trong cơ thể. Những hiểu biết về
hệ protein huyết tƣơng mang lại những thông tin quan trọng về nhiều quá trình sinh học
diễn ra trong cơ thể.
Chỉ thị sinh học đƣợc tìm thấy trong huyết tƣơng là chỉ thị lý tƣởng cho chẩn đoán
ung thƣ do rất dễ dàng thu thập mẫu huyết tƣơng của bệnh nhân và việc chẩn đoán sẽ dễ
dàng hơn. Hiện nay, chỉ thị CEA có mặt trong máu đang đƣợc ứng dụng rộng rãi để chẩn
đoán ung thƣ đại trực tràng. Tuy nhiên, nhƣ đã đề cập ở trên, sử dụng chỉ thị CEA chỉ có
khả năng phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn (giai đoạn III, IV). Hơn nữa, chi phí cho xét
nghiệm CEA tƣơng đối cao. Vì vậy, việc nghiên cứu để tìm thêm các chỉ thị sinh học trong
máu để ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị ung thƣ đại trực tràng là hết sức cần thiết.
Năm 2004, Yu và cs đã tiến hành phân tích proteomics huyết tƣơng của 182 mẫu
khác nhau gồm 55 mẫu huyết tƣơng của bệnh nhân ung thƣ đại trực tràng, 35 mẫu huyết
tƣơng của bệnh nhân u tuyến đại trực tràng và 92 mẫu huyết tƣơng của ngƣời bình thƣờng.
Nghiên cứu đã chỉ ra 4 protein khác biệt giữa bệnh nhân ung thƣ đại trực tràng và ngƣời
bình thƣờng. Các protein có tiềm năng trở thành chỉ thị sinh học với độ đặc hiệu 92% và
độ nhạy là 89% [39].
Năm 2005, với kỹ thuật SELDI-TOF/MS, Albrethsen và cs đã so sánh các protein
có trong mẫu huyết tƣơng của bệnh nhân ung thƣ đại tràng với huyết tƣơng của ngƣời khỏe
mạnh và protein có trong mô ung thƣ đại tràng với mô đại tràng bình thƣờng. Nghiên cứu
này cho thấy hàm lƣợng các protein HNP- 1, HNP- 2 và HNP- 3, còn đƣợc gọi là α-
defensin-1, α-defensin-2, α-defensin-3 tăng lên trong huyết tƣơng của ngƣời bệnh và trong
mô tại vị trí khối u. Một phần của protein HNP 1-3 sẽ kết hợp với loại protein khối lƣợng
̣
ng kỹ thuật điện di 2 chiều kết hợp với khối phổ,
thƣ
̣
c hiê
̣
n trên mẫu mô tại vị trí khối u đại trực tràng và mẫu mô tại vị trí gần khối u trên
cùng một bệnh nhân. Mẫu mô đại trực tràng từ 12 bệnh nhân đã đƣợc sử dụng cho nghiên
cứu này. Kết quả điện di 2 chiều cho thấy có 60 protein biểu hiện khác biệt (hàm lƣợng
chênh lệch 1,5 lần) giữa mô ung thƣ và mô thƣờng. Tiếp tục tiến hành phân tích khối phổ
để nhận dạng các protein biểu hiện khác biệt, 10 protein đã đƣợc nhận dạng, bao gồm 2
protein biểu hiện giảm và 8 protein biểu hiện tăng ở mô ung thƣ. 2 protein biểu hiện giảm
ở mô ung thƣ bao gồm carbonic anhydrase II và protein disulfide isomerase. 8 protein biểu
hiện tăng ở mô ung thƣ bao gồm APC-stimulated guanine nucleotide exchange factor,
phosphoglycerate kinase 1, fumarate hydratase, aldolase A, activator protein 2B,
glutathione S-transferase A3, Arginase và zinc finger protein 64 homolog [8]. Chƣơng 2 - NGUYÊN LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. NGUYÊN LIỆU
2.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu là 10 mẫu mô của bệnh nhân ung thƣ đại trực tràng đƣợc lấy tại vị
trí khối u và vị trí lân cận khối u (cách khối u khoảng 5 – 10 cm).
Mẫu mô sử dụng trong nghiên cứu này do Khoa Tế bào – Giải phẫu bệnh, bệnh
viện K Tam Hiệp, Hà Nội và Khoa Giải phẫu bệnh, bệnh viện Việt Đức, Hà Nội cung cấp.
Mẫu mô đƣợc đựng trong ống đựng mẫu, đƣợc bảo quản trong nitơ lỏng để vận chuyển từ
bệnh viện về phòng thí nghiệm. Các mẫu mô sau đó đƣợc bảo quản trong tủ âm sâu (-
80C) cho tới khi tiến hành những nghiên cứu tiếp theo.
2.1.2. Hóa chất
Merk, Đức
Tất cả các hóa chất đƣợc sử dụng trong nghiên cứu đều đạt độ sạch phân tích.
2.1.3. Thiết bị
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu sử dụng các thiết bị, dụng cụ trong Phòng thí
nghiệm Proteomics và Sinh học cấu trúc thuộc Phòng thí nghiệm Trọng điểm Công nghệ
Enzyme và Protein.
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Xử lý mẫu mô đại trực tràng
Mẫu mô đại trực tràng bình thƣờng và mô ung thƣ đƣợc lấy ra từ tủ -80
o
C, rã đông.
Cân 2 mẫu mô với lƣợng tƣơng đƣơng (khoảng 0,1g) cho vào hai cối sứ riêng biệt để trên
đá. Quy trình xử lý mẫu mô đại trực tràng đƣợc thực hiện nhƣ sau:
Bước 1. Thu các phân đoạn dịch chiết protein
Mẫu mô đƣợc cắt nát bằng kéo cho đến khi mẫu nát nhỏ. Bổ sung 100 µl đệm muối
phosphate (PBS) 0,05M, pH 7,4. Chuyển toàn bộ mẫu mô đã cắt và dịch đệm vào ống
eppendorft để trong 30 phút, ở 4
o
C. Ly tâm ống mẫu 15.000 vòng/phút trong 10 phút ở 4
o
C
để thu dịch nổi là phân đoạn PBS 1.
Cặn thu đƣợc sau ly tâm lần 1 đƣợc bổ sung 200µl đệm PBS 0,05M, pH 7,4 để ở
4
o
C trong 30 phút. Ly tâm ống mẫu 15.000 vòng/phút trong 10 phút ở 4
o
C để thu dịch nổi
là phân đoạn PBS 2.
Cặn thu đƣợc sau ly tâm lần 2 đƣợc hòa tan bằng 100 µl đệm lysis (Urea 7M, Tris
o
C, thu dịch nổi phía trên, loại bỏ cặn. Bƣớc này đƣợc lặp lại 2
lần để đảm bảo loại cặn tối đa.
Bước 4. Kiểm tra thành phần protein có trong các phân đoạn chiết và độ sạch
của mẫu
Dịch chiết protein thu đƣợc từ các phân đoạn sẽ đƣợc điện di trên gel
polyacrylamide 10% có SDS để kiểm tra thành phần protein có trong mẫu và độ sạch của
mẫu. Các mẫu chƣa đạt độ sạch sẽ đƣợc tủa bằng dung dịch acetone theo tỷ lệ 1 thể tích
mẫu và 4 thể tích dung dịch acetone 100%. Các dịch chiết của cùng một mẫu đƣợc trộn lại
để chuẩn bị cho điện di hai chiều.
2.2.2. Định lƣợng protein bằng phƣơng pháp Bradford
Để đảm bảo hàm lƣợng protein tổng số giữa các mẫu nghiên cứu là tƣơng đƣơng
nhau, trƣớc khi điện di hai chiều, chúng tôi tiến hành định lƣợng protein trong mẫu dịch
chiết protein từ mô ung thƣ và mô bình thƣờng bằng phƣơng pháp Bradford. Sau khi đã
xác định hàm lƣợng protein có trong mẫu, chúng tôi tiến hành tính toán sao cho hàm lƣợng
protein có trong dung dịch sử dụng cho điện di hai chiều của mẫu bệnh và mẫu đối chứng
là tƣơng đƣơng nhau.
2.2.3. Điện di hai chiều
Quá trình này đƣợc bắt đầu bằng việc làm trƣơng thanh strip có gradient pH cố
định bằng đệm trƣơng gel có chứa protein. Sau 1,5 giờ dung dịch sẽ ngấm vào thanh strip.
Lƣợng protein tối đa mà sợi gel IPG strip pH 3 - 10 dài 17cm có thể thấm đƣợc là 400µg.
Điện di đẳng điện đƣợc thực hiện trên hệ thống Protean IEF cell hoặc Ettan
IPGphor3 để tập trung các phân tử protein vào vị trí tƣơng ứng với pI của phân tử đó trên
thanh IPG strip. Quá trình chạy điện di đẳng điện diễn ra theo 5 bƣớc đƣợc trình bày trong
bảng 3.
Bảng 3. Các bƣớc chạy điện di đẳng điện trên thanh IPG strip dài 17cm
Bƣớc
Hiệu điện thế V
Thời gian (t)
≈ 60.000
Kết thúc điện di đẳng điện, các thanh strip đƣợc ngâm trong đệm cân bằng I (Tris
HCl 50mM, pH 8,8; Urea 6M; glycerol 30%; SDS 2%; DTT 0,1%) ở nhiệt độ phòng và
đệm cân bằng II (Tris HCl 50mM, pH 8,8; Urea 6M; glycerol 30%; SDS 2%; IAA 0,25%)
thực hiện trong bóng tối cũng ở nhiệt độ phòng. Mỗi bƣớc cân bằng đƣợc thực hiện 3 lần,
thời gian mỗi lần theo thứ tự là: 5 phút, 10 phút, 10 phút.
Điện di chiều hai đƣợc tiến hành trên gel polyacrylamide 10% có SDS. Kết thúc
điện di chiều hai, các protein đƣợc cố định 45 phút trong dung dịch chứa axít phosphoric
1,3%, methanol 20%, sau đó nhuộm bằng dung dịch Coomassie G250 qua đêm theo
phƣơng pháp nhuộm Colloidal Coomassie Brilliant Blue của Neuhoff (1988). Phƣơng pháp
nhuộm này đạt độ nhạy cao, có thể hiện lên các spot chỉ chứa 30ng protein [43].
2.2.4. Phân tích hình ảnh bản gel điện di hai chiều
Đầu tiên bản gel điện di hai chiều đƣợc quét vào máy tính có phần mềm phân tích
chuyên dụng Phoretix (Shimadzu, Nhật Bản). Bƣớc đầu phân tích hình ảnh bản gel điện di
hai chiều, phần mềm sẽ xác định tất cả các spot protein có trên mỗi bản gel và đánh số thứ
tự cho các spot. Tiếp đó, phần mềm Phoretix sẽ xác định vị trí, thể tích của từng spot và giá
trị cƣờng độ khối trung bình của mỗi spot trên bản gel từ đó giúp chỉ ra các spot tƣơng ứng
trên từng bản gel và các spot có biểu hiện khác biệt giữa bản gel mẫu bệnh so với bản gel
mẫu đối chứng.
2.2.5. Cắt và thủy phân spot
Các spot protein biểu hiện khác biệt trên bản gel điện di hai chiều đƣợc cắt ra khỏi
bản gel. Trƣớc tiên cần phải loại bỏ chất màu Coomassie từ các spot protein. Protein trong
các spot đƣợc thủy phân thành các peptide để chuẩn bị cho phân tích khối phổ. Loại
enzyme đƣợc sử dụng để thủy phân protein là trypsin. Khi đó, phân tử protein đƣợc cắt
thành các mảnh peptide có kích thƣớc từ 6 – 20 acid amin, thích hợp cho phân tích khối
phổ về sau [1].
2.2.6. Phân tích khối phổ và nhận dạng protein
Tiến hành phân tích khối phổ MALDI – TOF MS để xác định khối lƣợng của tập
chứng tỏ các phân đoạn này là tƣơng đối sạch, ít bị lẫn các thành phần phi protein. Bên
cạnh đó, các phân đoạn PBS 1 và lysis 1 (giếng số 1, 3 và 6, 8) của các mẫu có các băng
protein hiện lên chƣa rõ ràng và xuất hiện hiện tƣợng kéo vệt dọc theo chiều dài giếng.
Điều này chứng tỏ các phân đoạn này có thể lẫn các thành phần phi protein trong mẫu. Do
đó, chúng tôi tiến hành tủa mẫu của các phân đoạn PBS 1 và lysis 1 bằng dung dịch
acetone theo tỷ lệ 1 thể tích mẫu và 4 thể tích dung dịch acetone 100% ở -20
o
C. Protein
sau khi tủa đƣợc hòa tan lại bằng chính đệm lysis và đƣợc điện đi kiểm tra trên gel
polyacrylamide 10% có SDS. Kết quả điện di kiểm tra mẫu tủa đƣợc cho trong hình 5.
1 2 3 4
Hình 5. Điện di kiểm tra mẫu tủa của phân đoạn dịch chiết protein PBS 1 và lysis 1 từ
mô đại trực tràng bình thƣờng và mô ung thƣ đại trực tràng trên bản gel
polyacrylamide 10% có SDS
Giếng 1, 2,: Lần lượt là mẫu tủa của các phân đoạn dịch chiết PBS 1, lysis 1 thu
được từ mô đại trực tràng bình thường.
Giếng 3, 4: Lần lượt là mẫu tủa của các phân đoạn dịch chiết PBS 1, lysis 1 thu
được từ mô ung thư đại trực tràng.
Kết quả điện di kiểm tra cho thấy các mẫu dịch chiết phân đoạn PBS 1 và lysis 1
sau khi tủa bằng acetone đã xuất hiện những băng vạch rõ nét, không còn các vệt dọc kéo
dài trên bản gel. Điều này chứng tỏ mẫu sau khi tủa đã loại đƣợc đáng kể các thành phần
phi protein trong mẫu dịch chiết thô ban đầu. Mẫu sau khi tủa có thể sử dụng cho các phân
tích tiếp theo.
Các phân đoạn khác nhau của mô đại trực tràng bình thƣờng và mô ung thƣ đƣợc
trộn lại với nhau tạo thành dịch chiết protein đầy đủ của mô đại trực tràng dùng để tiến
hành bƣớc thí nghiệm tiếp theo.
3.2. PHÂN TÁCH PROTEIN MÔ ĐẠI TRỰC TRÀNG TRÊN BẢN GEL ĐIỆN
DI HAI CHIỀU
Protein trong dịch chiết mô đại trực tràng bình thƣờng và mô ung thƣ của bệnh nhân
Mô ung thƣ
1
11781
188 spot
239 spot
2
10608
139 spot
86 spot
3
10483
106 spot
162 spot
4
10597
130 spot
130 spot
5
11812
120 spot
166 spot
Phần mềm Phoretix còn đƣa ra hình ảnh ba chiều (3-D) của các spot protein, trong đó
độ lớn của spot đƣợc thể hiện bằng bề rộng đáy spot trên hình ảnh 3-D. Đây là cơ sở để so
sánh sự biểu hiện khác biệt của các spot protein tƣơng ứng giữa các cặp bản gel điện di mẫu
protein mô đại trực tràng.
A - Mô bình thƣờng
B - Mô ung thƣ
điện di hai chiều của 5 bệnh nhân
Biểu hiện
Mã bệnh nhân
11781
10608
10483
10597
11812
Tăng ở mô ung thƣ (↑)
17
6
10
12
15
Giảm ở mô ung thƣ (↓)
5
22
1
9
19
Chỉ xuất hiện ở mô ung thƣ (+)
11
0
0
1
5
Chỉ xuất hiện ở mô thƣờng (-)
0
8
Bảng 6. Danh sách các protein đƣợc xác định bằng MALDI TOF-MS từ bản gel mô ung thƣ so sánh với bản gel
mô đại trực tràng bình thƣờng của bệnh nhân ung thƣ đại trực tràng
STT
Spot
Ký hiệu trong
NCBI
Tên protein
KLPT
(Da)
Pi
Điểm theo
hệ thống
MASCOT
Tỷ lệ
% phù
hợp
Biểu
hiện
1.
T17B5
Q8NBP6
Hypothetical protein NT2RP2000636
84.002
9,10
68
9
↑
2.
T17B25
gi|29292410
Q15374
GARS protein
46.585
6,34
69
17
↑
6.
T17B108
gi|340764274
Immunoglobulin heavy chain variable
region
14.793
8,56
86
39
↑
7.
T17B162
YD49_HUMAN
Hypothetical zinc finger protein KIAA1349
88.217
9,29
63
10
↑
8.
T17T100
Q9NXL8
Hypothetical protein ELJ20171
27
↓
12.
T17T178
S53351
Malate dehydrogenase (oxaloacetate –
decarboxylating) (NADP) (EC 1.1.1.40)
precursor, mitochondrial
67.639
7,92
65
13
↓
13.
TTB87A
K2C1_HUMAN
Keratin, type II cytoskeletal 1 (Cytokeratin
1) (K1) (CK 1) (67 kDa cytokeratin)
66.170
8,16
65
19
↑
14.
TTB87B
ATHUC
Actin, cardiac muscle
42.334
5,23
83
18.
TTT84
G01523
Heat shock protein 27 – human
27.094
8,24
67
26
↓ STT
Spot
Ký hiệu trong
NCBI
Tên protein
KLPT
(Da)
Pi
Điểm theo
hệ thống
MASCOT
Tỷ lệ
% phù
hợp
Biểu
hiện
19.
TTT97
Q86YT1
5,62
77
29
↓
23.
CT22
S55041
Proteasome endopeptidase complex (EC
3.4.25.1) beta chain C10-II-human
23.201
6,14
65
22
↓
24.
CT27
B38431
Myc- binding factor Max, short form
17.191
6,07
63
26
↓
25.
CT38
Q8NHR9
Similar to data source: SPTR, source key:
P39825, evidence: ISS putative related to
PROFILIN
14.481
↓
29.
CT67
gi|4501889
Actin, gamma-enteric smooth muscle
isoform 1 precursor
42.249
5,31
82
29
↓
30.
CT74
gi|82408340
Chain A, Crystal Structure Of Diras2 In
Complex With Gdp And Inorganic
Phosphate
19.588
6,81
80
21
-
31.
CT79
gi|154959417
Suppressor of tumorigenicity 20 protein
9.189
8,52
68
CT96
gi|28175105
ZFYVE26 protein, partial
55.592
8,90
81
25
-
36.
CT104
gi|40807213
FAM179B protein
88.718
8,94
67
15
-
37.
CT113
gi|25140644
Tyrosine hydroxylase isoform 1
14.144
9,52
70
27
-
38.
CT120
gi|7447027
Glutamate/aspartate transporter II
Biểu
hiện
40.
CT127
gi|25901054
SE2-5LT1 protein
89.926
6,31
81
11
-
41.
CT134
gi|4139750
Chain A, Crystal Structure Of The Nfkb
P50P65 HETERODIMER COMPLEXED
To The Immunoglobulin Kb Dna
31.377
7,76
70
26
-
3.5. ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA CÁC PROTEIN BIỂU HIỆN KHÁC BIỆT
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã nhận dạng đƣợc 41 spot protein tƣơng ứng với 29
protein đã đƣợc định danh và 12 protein giả thiết. Căn cứ vào chức năng của protein cũng
trình hình thành mạch [56]. Nhiều nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ giữa việc thay đổi mức độ
biểu hiện của Cytokeratin-1 với sự phát sinh ung thƣ. Cytokeratin-1 có thể ảnh hƣởng đến
quá trình phát sinh ung thƣ thông qua một vài đƣờng truyền tín hiệu nhƣ PI3K/Akt, Wnt và
đƣờng truyền tín hiệu ERK MAPK. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy lƣợng
cytokeratin-1 tăng lên ở mô ung thƣ đại trực tràng so với mô bình thƣờng. Kết quả này hoàn
toàn phù hợp với các kết quả nghiên cứu trên thế giới. Nghiên cứu của Kim và cộng sự cũng
cho thấy sự biểu hiện tăng lên của cytokeratin 17 ở ung thƣ đại trực tràng.
3.5.4. Protein tham gia các quá trình trao đổi chất
Các protein tham gia quá trình trao đổi chất chiếm số lƣợng nhiều nhất trong số các
protein đƣợc nhận dạng, trong đó, nổi bật là protein creatine kinase. Creatine kinase là một
enzyme đƣợc biểu hiện ở rất nhiều loại tế bào và mô khác nhau. Protein này biểu hiện giảm ở
mô ung thƣ đại trực tràng so với mô bình thƣờng theo nghiên cứu này. Chức năng của
creatine kinase là xúc tác thuận nghịch quá trình chuyển đổi gốc phosphate giữa ATP và
nhiều hợp chất phosphogen nhƣ creatine phosphate. Theo một nghiên cứu của
Balasubramami và cộng sự, creatine kinase B có liên quan đến ung thƣ đại trực tràng. Trong
nghiên cứu của họ, protein creatine kinase B biểu hiện giảm ở mô ung thƣ đại trực tràng [9]. Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả của nhóm nghiên cứu này về mối liên quan
giữa creatine kinase B với ung thƣ đại trực tràng và mức độ biểu hiện của protein này.
3.5.5. Protein liên quan đến quá trình phiên mã, dịch mã, cải biến sau phiên mã,
dịch mã
Đối với các protein thuộc nhóm tham gia vào quá trình phiên mã, dịch mã và cải biến
sau phiên mã, dịch mã, chúng tôi xác định đƣợc 5 protein có biểu hiện khác biệt giữa mô ung
thƣ và mô đại trực tràng bình thƣờng. Các protein này bao gồm: TAF2 RNA polymerase II,
Zinc finger protein 658, Transcription factor IIIA, Myc- binding factor Max và Translational
activator GCN1. KẾT LUẬN
References
Tiếng Việt
1. Phan Văn Chi (2006), Proteomics – Khoa học về hệ protein, Viện Khoa học và Công nghệ
Việt Nam, Hà Nội.
2. Đỗ Ngọc Liên (2004), Miễn dịch học cơ sở, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Huỳnh Quyết Thắng (2009), ”Điều trị ung thƣ đại trực tràng gia đoạn II-III tại Bệnh viện Ung
bƣớu Cần Thơ”, Y Học TP. Hồ Chí Minh, 13(1), pp. 177 – 186.
Tiếng Anh
4. Albrethsen J., Bøgebo R., Gammeltoft S., Olsen J., Winther B., Raskov H. (2005),
“Upregulated expression of human neutrophil peptides 1, 2 and 3 (HNP 1-3) in
colon cancer serum and tumours: a biomarker study”, BMC Cancer, 5(1).
5. Albrethsen J., Moller C. H., Olsen J., Raskov H., Gammeltoft S. (2006), “Human
neutrophil peptides 1, 2 and 3 are biochemical markers for metastatic colorectal
cancer”, Eur J Cancer, 42(17), pp. 3057 – 64.
6. Alfonso P., Núñez A., Lombardia L., and Sánchez L. (2005), “Proteomic expression
analysis of colorectal cancer by two-dimensional differential gel electrophoresis”,
PROTEOMICS, 5(10), pp. 2602-2611.
7. Allal A.S., Kähne T., Reverdin A. K., Lippert H., Schlegel W., Reymond M. A. (2004),
“Radioresistance-related proteins in rectal cancer”, PROTEOMICS, 4(8), pp. 2261-
2269.
8. Bai X., Li S. Y., Yu B., An P., Cai H. Y., Du J. F. (2010), “Proteome analysis of human
colorectal cancer tissue using 2-D DIGE and tandem mass spectrometry for
identification of disease-related proteins”, African Journal of Biotechnology, (41),
pp. 6840-6847.
9. Balasubramani M., Day B. W., Schoen R. E., Getzenberg R. H. (2006), “Altered
expression and localization of creatine kinase B, heterogeneous nuclear
20. Habermann J. K., Bader F. G., Franke C., Zimmermann K., Gemoll T., Fritzsche B., Ried
T., Auer G., Bruch H. P., Roblick U. J. (2008), “From the genome to the proteome -
biomarkers in colorectal cancer”, Langenbeck's Archives of Surgery, 393(1), pp. 93-
104.
21. Labianca R., Beretta G. D., Kildani B., Milesi L., Merlin F., Mosconi S., Pessi M. A.,
Prochilo T., Quadri A., Gatta G., Braud de F., Wils J. (2010), “Colon cancer”,
Critical Reviews in Oncology/Hematology, 74(2010), 106–133.
22. Lee I. M., Shiroma E. J., Lobelo F., Puska P., Blair S. N., Katzmarzyk P. T. (2012),
“Effect of physical inactivity on major non-communicable diseases worldwide: an
analysis of burden of disease and life expectancy”, Lancet.
23. Li C., Tan Y. X., Zhou H., Ding S. J., Li S. J., Ma D. J., Man X. B., Hong Y., Zhang
L., Li L., Xia Q. C., Wu J. R., Wang H. Y., Zeng R. (2005), “Proteomic analysis of
hepatitis B virus-associated hepatocellular carcinoma: Identification of potential
tumor markers”, Proteomics, 5(4), pp. 1125-1139.
24. Liebler D. C. (2002), Introduction to Proteomics, Humana Press, Totowa, NJ, USA.
25. Lucas S. D., Ek B., Rask L., Rastad J., Akerström G., Juhlin C. (1997), “Aberrantly
expressed cytokeratin 1, a tumor-associated autoantigen in papillary thyroid
carcinoma”, Int J Cancer., 73(2), pp. 171-177.
26. Marion M. B. (1976), “A Rapid and Sensitive Method for the Quantitation of Microgram
Quantities of Protein Utilizing the Principle of Protein – Dye Binding”, Analytical
Biochemistry, 72, pp. 248 – 254.
27. Maximilian L. W., Maike A. L., Markus R. (2012), “The central role of initiator caspase-
9 in apoptosis signal transduction and the regulation of its activation and activity on
the apoptosome”, Experimental Cell Research, 318(11), pp. 1213–1220.
28. National Commission of Digestive Disease (2008), “Cancers of the Digestive System”,
Nature, 445, pp. 111-115.
29. Newton K. F., Newman W., Hill J. (2010), “Review of biomarkers in colorectal cancer”,
Colorectal Disease, 14(1), pp. 3-17.
10, pp. 3127-3131.
40. Ward D. G., Nyangoma S., Joy H., Hamilton E., Wei W., Tselepis C., Steven N.,
Wakelam M. J. O. , Johnson P. J. , Ismail T., Martin A. (2008), “Proteomic
profiling of urine for the detection of colon cancer”, Proteome Science, 2008, pp. 6-
19.
41. Watson A. J., Collins P. D. (2011), “Colon cancer: acivilixation disorder”, Digestive diseases,
29(2):, pp. 222-228.
42. Weng Y. R., Cui Y., Fang J. Y. (2012), “Biological functions of cytokeratin 18 in
cancer”, Mol Cancer Res., 10(4), pp. 485-493.
43. Westermeier R., Naven T. (2002), Proteomics in practice, Wiley-VCH Verlag-GmbH,
Freiburg.
44. Wittenmayer N., Jandrig B., Rothkegel M., Schlüter K., Arnold W., Haensch W.,
Scherneck S., Jockusch B. M. (2004), “Tumor Suppressor Activity of Profilin
Requires a Functional Actin Binding Site”, Mol Biol Cell., 15(4), pp. 1600-1608.
45. World Health Organisation (2008), Global Cancer Facts & Figures, 2rd Edition,
American Cancer Society Inc.
Công cụ World Wide Web
46. (6/12/2012).
47. (20/12/2012).
48. (20/12/2012).
49. (15/12/2012).
50.
(10/12/2012).
51. (12/12/2012).
52. (02/12/2012).
53. (10/12/2012).
54. />tr%E1%BB%B1c-trang-co-di-truy%E1%BB%81n/ (15/12/2012).
55. (20/12/2012).
56. (25/12/2012).