1
Kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Private economy in Bac Ninh area
NXB H. : TTĐTBDGV, 2012 Số trang 107 tr. +
Bùi Thị Nhung Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Luận văn ThS ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Khắc Thanh
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến kinh tế tư nhân (KTTN),
thực tiễn về kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Phân tích thực trạng,
đánh giá quá trình phát triển kinh tế tư nhân tại Bắc Ninh trong thời gian qua. Đưa ra dự báo để
định hướng phát triển KTTN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới. Đề xuất và kiến
nghị các giải pháp để phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn Tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020.
Keywords: Kinh tế chính trị; Kinh tế tư nhân; Bắc Ninh
Content
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta kinh tế tư nhân đã có một lịch sử phát triển thăng trầm. Trước đổi mới, do quan
niệm sai lầm đồng nhất kinh tế quốc doanh với CNXH, nên chúng ta đã nóng vội xoá bỏ kinh tế tư
nhân. Sai lầm cực đoan đó đã dẫn tới lãng phí các nguồn lực, làm chậm tiến trình phát triển kinh tế
của đất nước.
Kể từ Đại hội VI của Đảng, nhất là từ khi có Nghị quyết 16 NQ/TW của Bộ Chính trị BCH-
TW khoá VI về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý kinh tế ngoài quốc doanh, kinh tế tư nhân ở
nước ta mới được phục hồi phát triển.
của mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011-2020” của TS. Vũ Hùng Cường, Viện kinh tế
Việt Nam, được thực hiện năm 2009-2010.
- Đề tài “Phát triển kinh tế tư nhân và vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của PGS.TS Vũ Văn Gàu, Đại học Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh, được thực hiện năm 2010.
Riêng đối với tỉnh Bắc Ninh, liên quan đến khu vực KTTN cũng có một số công trình:
- Luận án tiến sĩ: “Quá trình phát triển DN vừa và nhỏ ngoài quốc doanh ở tỉnh Bắc Ninh giai
đoạn từ 1997-2003 - Thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp” năm 2008 của tác giả Mẫn Bá Đạt - Đại
học KTQD.
- Luận án Tiến sĩ: “Quá trình hoàn thiện các chính sách thúc đẩy phát triển làng nghề ở tỉnh
Bắc Ninh giai đoạn từ 1997 đến 2003 - Thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp”, năm 2008 của tác
giả Nguyễn Như Chung - ĐHKTQD.
Và còn nhiều công trình nghiên cứu khác đã được tác giả tham khảo và phản ánh đầy đủ trong
phần Danh mục tài liệu tham khảo của Luận văn.
Tổng hợp các công trình đi trước, chúng tôi cho rằng, nghiên cứu về KTTN ở Bắc Ninh đã
được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đã phân tích, đánh giá ở nhiều khía cạnh.
Chúng tôi coi các kết quả nghiên cứu trong các công trình đi trước là những gợi ý và chỉ dẫn quý
báu cho Luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
- Làm rõ vị trí, vai trò của KTTN nói chung và đối với sự phát triển của Tỉnh Bắc Ninh nói riêng.
3
- Rút ra những nhận định tổng quan về tình hình phát triển KTTN, đề xuất phương hướng và
các giải pháp chủ yếu phát triển KTTN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng, đánh giá
quá trình phát triển KTTN tại Bắc Ninh trong thời gian qua.
- Dự báo để định hướng phát triển KTTN ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới. Đề xuất và kiến
nghị các giải pháp để phát triển KTTN ở tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020.
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ TƢ NHÂN
TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƢ NHÂN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI
1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về kinh tế tƣ nhân trong nền kinh tế nhiều
thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Ở tiết này, Luận văn tập trung làm rõ quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin
về thời kỳ quá độ và sự tồn tại tất yếu của KTTN trong thời kỳ quá độ.
Trên cơ sở lý luận đó, Đảng ta, nhất là từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đến nay, đã có
những vận dụng sáng tạo vào trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước để tạo ra những bước
phát triển vượt bậc về kinh tế, trong đó có vai trò của KTTN.
1.1.2. Các quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc ta về thành phần kinh tế tƣ nhân
* Trước năm 1986
Trước năm 1986, KTTN vẫn được coi là tồn tại tạm thời và giữ vai trò thứ yếu, bổ trợ cho kinh tế
quốc doanh.
* Từ năm 1986 đến nay.
Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986) khu vực
KTTN được hồi sinh và phát triển trong một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng
XHCN có sự quản lý của nhà nước. Các Đại hội của Đảng sau đó đã khẳng định lại đường lối khởi
xướng tại Đại hội VI và đưa ra các định hướng lớn trong chính sách phát triển kinh tế Việt Nam.
Theo đó sự phát triển KTTN được khẳng định như sau: Kinh tế cá thể tiểu chủ ở cả nông thôn và
thành thị có vị trí quan trọng lâu dài. Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển; khuyến khích
các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn.
Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh
mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư
bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài.
Đường lối đổi mới cơ bản đó của Đảng đã được thể chế hóa trong các văn bản pháp lý, như Hiến
1.2.2.3. Đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng GDP của cả nước và tăng ngân sách nhà nước
Tính cả giai đoạn 2005-2010, theo đánh giá của Bộ kế hoạch và đầu tư về tình hình triển khai kế
hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, GDP của khu vực kinh tế tư nhân (trong đó chủ yếu là
doanh nghiệp nhỏ và vừa) từ chiếm 45,6% tổng GDP năm 2005 đã tăng lên khoảng 48% trong năm
2010. Tốc độ tăng trưởng bình quân khu vực này đạt trên 10%, cao hơn mức 8% của cả nền kinh tế
giai đoạn 2005-2010. (Tham khảo Bảng biểu 1.3)
Những số liệu minh họa trên cho thấy, nguồn thu ngân sách Nhà nước có sự đóng góp đáng kể
của khu vực KTTN để từ đó có nguồn vốn cho đầu tư, phát triển và xây dựng kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội đất nước phục vụ nhân dân. Do vậy việc cần phải làm trong giai đoạn hiện nay là cần
phải tạo nhiều điều kiện thuận lợi hơn nữa, tốt hơn nữa về chính sách, pháp lý… để kinh tế tư
nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước.
1.2.2.4. Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Căn cứ nội dung GDP theo giá so sánh 1994 chia theo khu vực kinh tế, cơ cấu kinh tế đang có
bước chuyển dịch tích cực trong thời gian vừa qua, tỷ trọng khu vực kinh tế nông, lâm, thủy sản từ
19,56% (năm 2005) giảm xuống còn 16,42% (năm 2010); tỷ trọng khu vực kinh tế công nghiệp và xây
dựng từ 40,17% (năm 2005) tăng lên 41,93% (năm 2010); tỷ trọng khu vực kinh tế dịch vụ từ 40,27%
6
(năm 2005) tăng lên 41,63% (năm 2010). (Tham khảo Bảng biểu 1.4)
Thực tế cũng đã cho thấy, kinh tế tư nhân có vai trò to lớn trong thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo số liệu của Tổng cục thông kê
năm 2011 về kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2011 cho thấy có sự chuyển dịch lao
động rõ nét giữa các ngành kinh tế trong 10 năm qua:
1.2.2.5. Góp phần xây dựng đội ngũ các doanh nhân Việt Nam tham gia sản xuất ngày càng
nhiều hàng hóa để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Trong thời gian qua, đội ngũ các nhà doanh nghiệp tư nhân, mặc dù được hình thành một cách tự
phát nhưng nhờ được đào luyện trong cơ chế thị trường, đã tỏ ra bản lĩnh, tài năng, thích ứng khá kịp
thời với sự chuyển đổi của nền kinh tế. Họ đã vươn lên tham gia vào hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề
sản xuất kinh doanh mà pháp luật không cấm - trong đó bao gồm cả những ngành kỹ thuật cao (điện
tử, phần mềm) và đã làm chủ nhiều lĩnh vực (nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản, công nghiệp chế
đạt 3.577 tỷ đồng, chiếm 36,7% giá trị tăng thêm trên địa bàn. Khu vực kinh tế tư nhân Vĩnh phúc đã
giải quyết việc làm cho 60.700 lao động, chiếm 10,16% số lao động đang làm việc trong các thành
phần kinh tế. Đạt được kết quả trên về phát triển Kinh tế tư nhân tỉnh Vĩnh phúc đã có những biện
pháp cụ thể sau:
Một là, đẩy mạnh cải cách hành chính
Hai là, giải quyết tốt việc tiếp cận đất đai
Ba là, cơ chế về tài chính, tín dụng đối với Kinh tế tư nhân
Bốn là, thực hiện các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, chương trình khuyến công,
chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư đối với đối tượng hộ kinh doanh cá thể.
1.3.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế tƣ nhân của tỉnh Bình Dƣơng
Những thành công của khu vực KTTN Bình Dương trên là nhờ các biện pháp:
Thứ nhất, cải cách hành chính nhằm giảm chi phí thời gian, chi phí gia nhập thị trường của doanh
nghiệp.
Thứ hai, đảm bảo khả năng tiếp cận đất đai và ổn định trong sử dụng đất của doanh nghiệp
Thứ ba, đảm bảo tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp.
Thứ tư, tỉnh thực thi chính sách phát triển KTTN hợp lý thông qua việc xã hội hóa xúc tiến đầu tư
và chiến lược phát triển các KCN phù hợp.
Thứ năm, chính sách đào tạo nghề, phát triển kỹ năng cho người lao động là vấn đề được tỉnh chú
trọng, quan tâm.
1.3.3. Những bài học kinh nghiệm rút ra cho phát triển kinh tế tƣ nhân ở tỉnh Bắc Ninh
Một là, sự phát triển mạnh mẽ của khu vực KTTN ở tỉnh Vĩnh Phúc và Bình Dương là kết quả của
việc thực hiện nhất quán các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với KTTN.
Hai là, thành công thu hút đầu tư và phát triển KTTN của Bình Dương và Vĩnh Phúc bắt nguồn từ
suy nghĩ và quyết tâm tạo môi trường kinh doanh minh bạch và thuận lợi cho nhà đầu tư. Do vậy, cải
cách hành chính được xem như một khâu then chốt để phát triển kinh tế.
Ba là, lãnh đạo và đội ngũ cán bộ chức năng của các địa phương đã đổi mới tư duy nâng cao năng
lực chỉ đạo thực tiễn, tính minh bạch và trách nhiệm: coi việc tạo cơ hội và thuận lợi trong kinh doanh
của khu vực KTTN là trách nhiệm của mỗi cán bộ và chính quyền.
Bốn là, chính quyền địa phương đã tích cực trong việc hỗ trợ khu vực KTTN về vốn, khoa học
tỉnh (GDP) Bắc Ninh bình quân hàng năm giai đoạn 2006 - 2010 đạt 15,27%. GDP bình quân đầu người
(giá thực tế) năm 2005 đạt 530 USD, cả nước 642 USD và năm 2010 GDP bình quân đầu người của Bắc
Ninh đạt 1.780 USD, tăng 3,38 lần so với năm 2005 và cao hơn so với GDP bình quân đầu người cả nước.
Năm 2010, GDP cả nước đạt 549.425 tỷ đồng, của Bắc Ninh là 9.697,3 tỷ đồng bằng 1,76% tổng GDP
cả nước 0,56% so với năm trưởng đó. Tăng trưởng giai đoạn 2006-2010, của Bắc Ninh là 15,27%. (Bảng
biểu 2.2)
2.2. CHÍNH SÁCH CỦA ĐỊA PHƢƠNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN
Từ khi tái lập tỉnh, Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Bắc Ninh đã có những chủ trương và biện
pháp, nhằm khôi phục và khuyến khích các DNVVN.
Nghị quyết 04/NQ-TU năm 1998 của tỉnh ủy Bắc Ninh về khôi phục, phát triển LN tiểu thủ công
nghiệp; Nghị quyết 12/NQ-TU năm 2000 của Ban thường vụ tỉnh ủy về phát triển KCN, CCN-Tiểu thủ
công nghiệp, đặc biệt là Nghị quyết 02/NQ-TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI về xây dựng
và phát triển các KCN, CCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh ngày 4/5/2001. Đây là Nghị quyết chuyên đề cụ
thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 16, quán triệt và vận dụng chủ trương của Đảng về
CNH, HĐH vào điều kiện cụ thể của địa phương, khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh phát huy
các nguồn lực, tăng năng lực sản xuất tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh tốc độ phát triển
kinh tế - xã hội.
9
2.2.1. Nhóm các chính sách khuyến khích đầu tƣ cho kinh tế tƣ nhân
Tỉnh ủy và UBND tỉnh Bắc Ninh đã đưa ra nhiều quyết sách nhằm thúc đẩy sự phát triển KTTN,
ví dụ như Quyết định 60/2001/QĐ-UB ngày 26/6/2001 của UBND tỉnh về việc ban hành qui định ưu
đãi khuyến khích đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh ở các lĩnh vực: Ưu đãi về giá thuê đất; Ưu đãi
miễn giảm, chậm nộp tiền thuê đất; Hỗ trợ một phần chi phí cho đầu tư cho các dự án mở rộng sản
xuất, đầu tư chiều sâu, áp dụng kỹ thuật, công nghệ mới của các cơ sở sản xuất công nghiệp; Hỗ trợ lãi
suất tiền vay thu mua nguyên liệu của các cơ sở sản xuất công nghiệp trong tỉnh sử dụng nguyên liệu là
nông sản, thực phẩm tại địa phương…
- Tỉnh Bắc Ninh cũng khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư khai thác, phát triển du lịch vào
các khu du lịch theo Quyết định 107/2002/QĐ-UB ngày 30/8/2002 của UBND tỉnh về việc ban hành
quy định về ưu đãi khuyến khích đầu tư vào các khu du lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vửa tỉnh Bắc Ninh. Đây là một tổ chức tài chính thực
hiện chính sách giúp phát triển DNVVN của Bắc Ninh thông qua việc bảo lãnh cho các DNVVN vay
vốn tại các tổ chức tín dụng khi không đủ tài sản bảo lãnh.
Quỹ hoạt động không với mục tiêu lợi nhuận, đảm bảo hoàn vốn và bù đắp chi phí, DN muốn được
bảo lãnh phải theo các quy định và phải có tài sản thế chấp trị giá 30% số tiền vay. Quỹ sẽ bảo lãnh
80% phần chênh lệch giữa số tiền DN vay và tài sản thế chấp. Mức bảo lãnh cho một DN tối đa là
4.500 triệu đồng.
2.2.5. Nhóm các chính sách hỗ trợ đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng
- Hỗ trợ xây dựng đường giao thông nông thôn theo Quyết định số 39/QĐ-UB ngày 21/4/2000;
Quyết định số 66/QĐ-UB ngày 18/7/2001; Quyết định 170/QĐ-UB ngày 22/12/2005. Theo đó Nhà
nước hỗ trợ 20% giá trị khối lượng hoàn thành, xã khó khăn là 40%; từ năm 2006 tỷ lệ hỗ trợ 40%
giá trị hoàn thành các dự án xây dựng đường giao thông nông thôn.
- Hỗ trợ đầu tư xây dựng kiên cố hoá kênh mương cấp 3 của các xã theo Quyết định số 902/QĐ-
CT ngày 13/10/1999, Nghị định số 11/2000/NQ-HĐND, ngày 26/4/2000. Theo đó, Nhà nước hỗ trợ
50% giá trị tổng mức đầu tư, riêng đối với các xã khó khăn là 70% giá trị tổng mức đầu tư.
- Hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở vật chất các trường mầm non dân lập, các trường tiểu học, trung
học cơ sở công lập theo Quyết định số 110/2002/QĐ-UB ngày 6/9/2002.
2.2.6. Các chính sách liên quan đến cải cách hành chính
Nhằm thuận tiện cho các DNVVN NQD đầu tư phát triển như: Quyết định số 117/2000/QĐ-UB ngày
20/11/2000 quy định thủ tục hồ sơ, quy chế phối hợp cấp giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đầu tư,
Quyết định 13/2004/QĐ-UB ngày 16/2/2004 phê duyệt chương trình cải cách hành chính tỉnh Bắc
Ninh và một loạt các Quyết định của UBND về ban hành quy trình, thủ tục, trình tự, thời gian giải
quyết các lĩnh vực công việc áp dụng thực hiện cơ chế một cửa tại các cơ quan như Sở Kế hoạch đầu
tư, Sở Tài nguyên môi trường, Sở Xây dựng, Ban Quản lý các KCN…
2.2.7. Các chính sách khác về phân cấp quản lý ngân sách, định mức phân bổ ngân sách năm
đầu thời kỳ ổn định đều xác định hệ số phân bổ riêng cho các làng nghề đối với một số định chi về
sự nghiệp kinh tế, bảo vệ môi trường…
2.3. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN Ở TỈNH BẮC NINH
2.3.1. Về số lƣợng và quy mô các doanh nghiệp tƣ nhân
* Số doanh nghiệp đăng kí mới hàng năm
288 DN (chiếm 14,3% tổng số DNTN của Tỉnh)
* Quy mô lao động trong các DNTN ở Bắc Ninh
Theo số liệu của Cục thống kê Bắc Ninh, trong giai đoạn 2006 - 2010, trung bình hàng năm có
10.000 người được bổ sung vào lực lượng lao động (người từ 15 tuổi trở lên) có việc làm.
Khu vực kinh tế nhà nước tại Tỉnh có số lao động tăng thêm hàng năm không đáng kể; khu vực
kinh tế tập thể đang trong giai đoạn phát triển hết sức khó khăn nên cũng không thu hút được
nhiều lao động và có xu thế giảm dần qua các năm; số lao động mới của Tỉnh (trên 90%) thuộc về
kinh tế tư nhân , cụ thể các tỷ lệ như sau: năm 2005 chiếm 93,42%, năm 2006: 92,37%, năm 2007:
91,60%, năm 2008: 90,81%, năm 2009: 89,95%, năm 2010: 88,09%.
Đại đa số DNTN ở Bắc Ninh sử dụng từ 50 lao động trở xuống, có đến 1427 DN (năm 2009: dưới
10 lao động là 490 DN và từ 10-49 lao động là 937 DN) chiếm 85,45%. Tại Bắc Ninh hiện chỉ có 2
DN sử dụng trên 1000 lao động đó là Công ty may Đáp Cầu và công ty Kính Đáp Cầu, đây là các
DNNN thực hiện cổ phần hóa (hiện nhà nước chiếm giữ 20% vốn chủ sở hữu tại 2 công ty này.
12
2.3.2. Tình hình phát triển kinh tế tƣ nhân trong các ngành ở Bắc Ninh
2.3.2.1. Kinh tế tư nhân trong các ngành phi nông nghiệp
Với chính sách khôi phục và phát triển của các làng nghề truyền thống, các hộ sản xuất kinh doanh
cá thể phi nông nghiệp của Bắc Ninh cũng phát triển mạnh mẽ và đóng góp không nhỏ vào sự phát
triển kinh tế xã hội của tỉnh. Tính đến thời điểm cuối năm 2010 tổng số hộ sản xuất kinh doanh cá thể
ở Bắc Ninh là 77.057 hộ tăng hơn năm 2000 là 52.678 hộ và gấp 3,16 lần, tính bình quân trong giai
đoạn 2000-2010 tốc độ tăng 23,8%/năm.
Tuy nhiên các hộ sản xuất kinh doanh cá thể ở Bắc Ninh tập trung chủ yếu trong các lĩnh vực công
nghiệp chế biến với 28.351 hộ năm 2010, chiếm 38,02% tổng số hộ (năm 2000 là 10.240 hộ tương ứng
42%); thương nghiệp và sửa chữa xe máy có động cơ, đồ dùng cá nhân với 29.966 tăng 24.178 hộ so
với năm 2000 (gấp 5,17 lần) và chiếm 38,88% tổng số hộ.; lĩnh vực nhà hàng, khách sạn và vận tải
kho bãi, thông tin liên lạc có số lượng trên 5000 hộ. Như vậy có thể thấy số hộ SXKDCT trong ngành
thương nghiệp và sửa chữa xe có động cơ, đồ dùng cá nhân ỏ Bắc Ninh trong giai đoạn 2000-2010 có
tốc độ tăng trưởng nhanh nhất cả về tuyệt đối và cơ cấu, điều này minh chứng cho quá trình chuyển
trong đó loại hình chuyên về trang trại chăn nuôi tập trung chiếm tỷ trọng cao nhất: Năm 2010 loại
hình trang trại này chiếm 49,98 % tổng số trang trại với 1.339 trang trại (năm 2006 là 76,28% với
1.364 trang trại).
Số trang trại SXKD tổng hợp chiếm 31,05% năm 2010 với 832 trang trại (năm 2006 là 13,75% với
246 trang trại).
Số trang trại thủy sản năm 2010 chiếm 18,81% với 504 trang trại (năm 2006 là 8,89% với 159
trang trại).
Tuy nhiên, mô hình KTTT ở Bắc Ninh chưa phát triển đồng đều mà tập trung ở một số huyện, còn
mang tính tự phát, quy mô trang trại nhỏ (bình quân diện tích đất sử dụng năm 2010 chỉ còn 0,6ha), số
lao động hạn chế, chủ yếu là lao động trong gia đình, mức đầu tư thấp (trên dưới 100 triệu đồng) nên
giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ chưa cao, mức lợi nhuận thấp (gần 24 triệu đồng/trang trại/năm).
2.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN Ở TỈNH
BẮC NINH
2.4.1. Những kết quả đạt đƣợc
Một là, từ sau khi tái lập tỉnh Bắc Ninh khu vực KTTN tăng nhanh cả về số lượng và vốn đăng ký.
Hai là, các đơn vị KTTN Bắc Ninh được phân bổ phù hợp với lợi thế và điều kiện tự nhiên ở các
địa phương trong Tỉnh.
Ba là, KTTN Bắc Ninh đã khẳng định được vị trí và vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế
của tỉnh, thông qua sự đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết lao
động việc làm, đặc biệt là khơi dậy tiềm năng của các làng nghề, phát huy được lợi thế so sánh, lợi thế
nhờ quy mô ở từng vùng, từng địa phương.
* Thu hút vốn đầu tư xã hội đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế
* Tạo nguồn vốn bổ sung cho ngân sách nhà nước
* Giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của các tầng lớp dân cư
* Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH -HĐH
Bốn là, một số dơn vị KTTN đã chú ý tới xây dựng thương hiệu.
2.4.2. Những hạn chế của kinh tế tƣ nhân Bắc Ninh
Thứ nhất, năng lực cạnh tranh còn thấp, mang nặng tính tự phát, manh mún, chưa có chiến lược
kinh doanh dài hạn, dễ tổn thương trước các biến động kinh tế.
Thứ hai, trình độ quản lý yếu kém và trang thiết bị công nghệ lạc hậu, sử dụng mặt bằng sản xuất lớn.
3.1.1.1. Cơ hội
Gia nhập WTO, các doanh nghiệp Bắc Ninh có điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá và
dịch vụ trên qui mô toàn cầu, tiếp cận với các thị trường tiềm năng lớn như: Châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật
Bản với chính sách thuế và hàng rào phi thuế giảm.
3.1.1.2. Thách thức
Tuy nhiên, bên cạnh các cơ hội, kinh tế tư nhân Bắc Ninh phải đương đầu với những thách thức do
quá trình hội nhập WTO.
Thứ nhất, gia nhập WTO, thị trường của nước ta sẽ phải mở cửa, Việt Nam phải hạ thấp hoặc cắt
giảm hàng rào bảo hộ thuế quan và phi thuế quan cho 149 nước thành viên của WTO.
Thứ hai, các đối thủ chính của DN Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp dân doanh Bắc Ninh
nói riêng là các nước ASEAN và Trung Quốc.
15
Thứ ba, bên cạnh việc các doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế quan từ các quốc gia thành viên,
Việt Nam cũng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ cắt giảm mức thuế quan của mình theo một lộ trình
vạch sẵn, việc này sẽ làm cho lượng hàng hóa nhập khẩu tràn vào Việt Nam.
Thứ tư, các nước thành viên WTO đều áp dụng những quy định chặt chẽ hơn về trợ cấp xuất
khẩu và tín dụng xuất khẩu với hàng nông sản.
Thứ năm, các doanh nghiệp chủ yếu là nhập khẩu nguyên vật liệu để sản xuất hàng hóa trong nước
và xuất khẩu.
3.1.2. Mục tiêu phát triển kinh tế tƣ nhân ở tỉnh Bắc Ninh
Thứ nhất, xây dựng Quy hoạch tổng thể khu vực KTTN trên nguyên tắc phù hợp với chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội, khai thác tốt các tiềm năng, lợi thế của tỉnh.
Thứ hai, phải tạo được môi trường bình đẳng cho sự phát triển của tất cả các thành phần kinh tế.
Có chính sách hỗ trợ thành phần KTTN, được ưu tiên phát triển một số ngành có lựa chọn, trong một
số ngành mà DN lớn không có lợi thế, ưu tiên phát triển DNVVN ở nông thôn.
Thứ ba, thành lập một số KCN, CCN dành riêng cho các doanh nghiệp tư nhân.
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN Ở TỈNH BẮC NINH
TRONG THỜI GIAN TỚI
3.2.1. Nhóm giải pháp đối với chính quyền và các cơ quan ban ngành của tỉnh Bắc Ninh
nghiên cứu và khảo sát động thái phát trển kinh tế tư nhân ở Bắc Ninh từ năm 2000 đến nay để làm rõ
những thành tựu và những đóng góp của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đồng
thời luận văn đã chỉ ra những hạn chế và những nguyên nhân của hạn chế đã ảnh hưởng đến sự phát
triển kinh tế tư nhân trong thời gian qua. Xuất phát từ thực trạng kinh tế - hội và những mục tiêu phát
triển của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn mới, trong đó có những yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển
kinh tế tư nhân, luận văn đã chỉ ra những cơ hội và thách thức với nó trong phát triển kinh tế thị trường
và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Từ thực tế ấy, luận văn đã chỉ ra mục tiêu và những giải pháp
nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Các giải pháp tập trung vào: xây
dựng lộ trình phát triển KTTN; đẩy mạnh cải cách hành chính; tạo điều kiện về vốn, khoa học-công
nghệ, thong tin nhằm hỗ trợ phát triển KTTN, tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước với KTTN, giữa
các cơ sở KTTN, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói
chung, KTTN nói riêng, để các lực lượng trong nền kinh tế hoạt động có hiệu quả và đúng hướng.
Thực tế phát triển kinh tế tư nhân là sự nghiệp lâu dài đòi hỏi sự nỗ lực của chính khu vực kinh tế
tư nhân và sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiều mặt của nhà nước. Những giải pháp nêu trên là cơ sở để tiếp tục
nghiên cứu, để hoàn thiện hệ thống các chính sách góp phần làm cho kinh tế tư nhân ngày càng phát
triển trong sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
References
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
2. Vũ Hùng Cường (2009), Một số vấn đề cơ bản về phát triển khu vực tư nhân với tư cách là động
lực cơ bản của mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011-2020, Viện Kinh tế Việt Nam.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị
17
20. Tỉnh Ủy Bắc Ninh (2005), Các văn bản chỉ đạo của tỉnh ủy Bắc Ninh từ 2001-2005, Bắc Ninh,
tháng 5/2005
21. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc 92009), Báo cáo tình hình thực hiện nghị quyết 14-NQ/TW (khóa 9) về tiếp
tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN, Vĩnh Yên
22. Viện Thông tin khoa học xã hội (2003), KTTN trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội.
23. UBND tỉnh Bắc Ninh (2005), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh đến
năm 2010 và một số định hướng chiến lược đến năm 2020, Bắc Ninh
18
24. UBND tỉnh Bắc Ninh (2010), Báo cáo kết quả thực hiện phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 -
2010; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 (Tài liệu báo cáo HĐND tỉnh
khóa XVI kỳ họp thứ 22), Bắc Ninh.
25. Tổng cục Thống kê (2010), Niên giám thống kê (tóm tắt) năm 2010, Nxb Thống kê, Hà Nội.
26. Tổng cục Thống kê (2009), Niên giám thống kê năm 2009, Nxb Thống kê, Hà Nội.
27. Hà Huy Thành (2002), Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân, lý luận và chính
sách, Nxb CTQG, Hà Nội
28. Nguyễn Thanh Tuyền (2002), Thành phần kinh tế Tư bản tư nhân trong quá trình CNH,HĐH,
Nxb CTQG
29. Nguyễn Thanh Tuyền (2006), Sở hữu tư nhân và KTTN trong nền Kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội.
30. Website: Tổng cục Thống kê.