ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÙI THỊ NHUNG
KINH TẾ TƯ NHÂN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÙI THỊ NHUNG
KINH TẾ TƯ NHÂN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số:
60 31 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Khắc Thanh
HÀ NỘI - 2012
1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về kinh tế tư nhân
trong nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội
7
1.1.2. Các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về thành phần kinh
tế tư nhân
10
1.2. Các hình thức tổ chức sản xuất và vai trò của kinh tế tư nhân
ở Việt Nam
16
1.2.1. Các hình thức tổ chức sản xuất của kinh tế tư nhân ở Việt Nam
16
1.2.2. Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa
1.3. Kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân ở một số địa phương
19
28
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân của tỉnh Vĩnh Phúc
phát triển kinh tế tư nhân
48
2.2.3. Nhóm các chính sách về đất đai
48
2.2.4. Nhóm các chính sách hỗ trợ tín dụng cho thành phần kinh
tế tư nhân
49
2.2.5. Nhóm các chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
50
2.2.6. Các chính sách liên quan đến cải cách hành chính
51
2.2.7. Các chính sách khác
51
2.3. Tình hình phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Bắc Ninh
2.3.1. Về số lượng và quy mô các doanh nghiệp tư nhân
52
3.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội liên quan đến phát triển kinh tế tư
nhân ở Bắc Ninh
80
3.1.1. Cơ hội, thách thức đối với kinh tế tư nhân tỉnh Bắc Ninh
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
3.1.2. Mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Bắc Ninh
80
83
3.2. Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Bắc Ninh
trong thời gian tới
85
3.2.1. Nhóm giải pháp đối với chính quyền và các cơ quan ban
ngành của tỉnh Bắc Ninh
85
3.2.2. Nhóm các giải pháp trực tiếp đối với khu vực kinh tế tư
nhân của tỉnh Bắc Ninh
91
KẾT LUẬN
103
DNTN
: Doanh nghiệp tư nhân
DNVVN
: Doanh nghiệp vừa và nhỏ
ĐTNN
: Đầu tư nước ngoài
GDP
: Tổng sản phẩm trong nước
KCN, CCN
: Khu công nghiệp, cụm công nghiệp
KCX
: Khu chế xuất
KH & ĐT
: Kế hoạch và đầu tư
KTQT
: Ủy ban nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Trang
Bảng 1.1: Số lượng doanh nghiệp thực tế đang hoạt động sản xuất
kinh doanh trên cả nước tính đến 31/12 hàng năm
20
Bảng 1.2: Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước phân theo quy mô
nguồn vốn
21
Bảng 1.3: GDP theo giá so sánh 1994 chia theo thành phần kinh tế
23
Bảng 1.4: GDP theo giá so sánh 1994 chia theo khu vực kinh tế
25
Bảng 2.1: Tổng sản phẩm nội địa tỉnh Bắc Ninh theo giá thực tế
tỉnh Bắc Ninh
Bảng 2.10: Phân bố số hộ SXKDCT phi nông nghiệp theo huyện thị
58
59
Bảng 2.11: Một số chỉ tiêu về hộ SXKDCT phi nông nghiệp trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2000-2010
60
Bảng 2.12: Tăng trưởng số lượng trang trại giai đoạn 2005-2010
61
Bảng 2.13: Cơ cấu trang trại theo loại hình năm 2006 và 2010
63
Bảng 2.14: Vốn đầu tư toàn xã hội theo khu vực tại tỉnh Bắc Ninh
65
Bảng 2.15: Tỷ trọng đóng góp GDP của tỉnh Bắc Ninh theo thành
phần kinh tế
66
MỞ ĐẦU
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề kinh tế tư nhân ở nước ta nói chung và ở các tỉnh nói riêng đã
được quan tâm nghiên cứu, phân tích và đã trở thành chủ trương của Đảng trong
đường lối chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong công cuộc đổi mới.
- Nhóm tác giả cuốn sách: “Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản
tư nhân - Lý luận và chính sách” (2002, NXB CTQG) do PGS, TS Hà Huy
Thành chủ biên đã đi sâu phân tích thực trạng phát triển khu vực KTTN ở nước
ta trong thời kỳ đổi mới (theo ngành nghề và theo vùng lãnh thổ) nêu lên những
kết quả đạt được, những tồn tại, yếu kém, nguyên nhân chủ yếu và khuyến nghị
những chính sách, giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển khu vực KTTN.
- Trong cuốn: “KTTN và quản lý nhà nước đối với KTTN ở nước ta
hiện nay” (2003, NXB CTQG) do GS,TS Hồ Văn Vĩnh chủ biên, không chỉ
phân tích thực trạng hoạt hoạt động của khu vực KTTN, mà còn phân tích
thực trạng quản lý nhà nước đối với khu vực KTTN. Trên cơ sở đó, nhóm
tác giả đưa ra khuyến nghị phương hướng và tiếp tục đổi mới quản lý nhà
nước đối với KTTN ở nước ta.
- Cuốn sách: “KTTN Việt Nam sau hai thập kỷ đổi mới thực trạng và
những vấn đề đặt ra” (2005, NXB Khoa học xã hội) của tác giả Đinh Thị Thơm.
Đây là tác phẩm thu thập và hệ thống các bài viết phân tích, đánh giá, kiến giải
và những giải pháp đúc kết trong những công trình, bài viết của 9 nhà nghiên
cứu về những vấn đề lý luận, thực tiễn phát triển và hạn chế cũng như triển vọng
phát triển của khu vực KTTN.
- Trong cuốn: “Phát triển KTTN ở Việt Nam hiện nay” (2006, NXB
CTQG) của tác giả Vũ Quốc Tuấn đã đi sâu phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn
trình bày quá trình tìm tòi, thử nghiệm, đột phá, đấu tranh tư tưởng và tổng kết
sự phát triển của kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta hiện nay, trong đó
KTTN là bộ phận quan trọng. Đồng thời phân tích, nhận dạng và dự báo xu
2
Riêng đối với tỉnh Bắc Ninh, liên quan đến khu vực KTTN cũng có
một số công trình:
- Luận án tiến sĩ: “Quá trình phát triển DN vừa và nhỏ ngoài quốc
doanh ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997-2003 - Thực trạng, kinh nghiệm và
giải pháp” năm 2008 của tác giả Mẫn Bá Đạt - Đại học KTQD. Tác giả đã
nghiên cứu sự phát triển của các DNVVN ngoài quốc doanh ở tỉnh Bắc Ninh
để thấy được thực trạng của khu vực này và những chính sách của nhà nước
và địa phương tác động đến sự phát triển của DNVVN ngoài quốc doanh,
hoạt động của DNVVN ngoài quốc doanh và những đóng góp của nó đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
- Luận án Tiến sĩ: “Quá trình hoàn thiện các chính sách thúc đẩy phát
triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997 đến 2003 - Thực trạng,
kinh nghiệm và giải pháp”, năm 2008 của tác giả Nguyễn Như Chung ĐHKTQD. Luận án này làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của các
chính sách đối với sự phát triển các làng nghề trong quá trình CNH, HĐH
nông nghiệp nông thôn và phát triển kinh tế thị trường; đồng thời phân tích
tác động của chính sách (của Nhà nước và địa phương) đến sự phát triển các
làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh, rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất các
quan điểm, các giải pháp chủ yếu và các kiến nghị nhằm hoàn thiện chính
sách thúc đẩy phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh.
Như vậy, nghiên cứu KTTN ở Bắc Ninh đã được một số tác giả chú ý
nhưng chỉ đề cập ở một vài khía cạnh. Việc nghiên cứu KTTN với tư cách là
một khu vực kinh tế năng động với những đóng góp quan trọng trong sự phát
triển kinh tế của Bắc Ninh với những thành tựu đạt được và những khó khăn
gây cản trở sự phát triển của nó để đưa ra các giải pháp phát triển KTTN ở
tỉnh Bắc Ninh trong điều kiện hội nhập KTQT thì chưa có một công trình nào
nghiên cứu một cách thấu đáo.
4
5
điểm Luât Doanh nghiệp có hiệu lực và Bắc Ninh cũng mới được tái lập từ
năm 1997 nên số liệu thống kê thời điểm này mới đầy đủ và đồng bộ.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và những quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nước Việt Nam để áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể tại tỉnh Bắc Ninh.
Các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị được coi trọng sử dụng
trong luận văn là phương pháp khảo sát thực tiễn, phân tích và tổng hợp, phương
pháp trừu tượng hoá khoa học, phương pháp thống kê, phân tích kinh tế…
6. Đóng góp chủ yếu về khoa học của luận văn
Trên cơ sở phân tích đúng tình hình kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh, luận văn làm rõ những thành công, hạn chế trong lĩnh vực này, đề
xuất những giải pháp khả thi cho việc phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn
Tỉnh, phát huy động lực mạnh mẽ của khu vực kinh tế năng động này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 9 tiết.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN
TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG THỜI KỲ QUÁ
ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Nga sau năm 1917. Theo ông, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế
độ tư hữu về tư liệu sản xuất; còn quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên
chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nên chủ nghĩa xã hội không thể ra đời
trong lòng xã hội tư bản. Hơn nữa, để xây dựng chế độ công hữu xã hội chủ
nghĩa về tư liệu sản xuất, xây dựng xã hội mới, cần phải có thời gian, nghĩa là
tất yếu phải có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Từ sự phân tích như vậy, Lê nin cho rằng cách mạng vô sản giành được
chính quyền mới chỉ là sự khởi đầu cho thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trong thời kỳ quá độ như vậy, nền kinh tế có tính chất quá độ: nó không còn
là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng cũng chưa hoàn toàn là nền kinh tế xã
hội chủ nghĩa.
Phân tích thực trạng nền kinh tế của nước Nga lúc đó, ông cho rằng ở
nước Nga có 5 thành phần kinh tế: Một là, kinh tế nông dân gia trưởng;
Hai là, kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ của nông dân, tiểu thủ công cá thể và
tiểu thương; Ba là, kinh tế tư bản tư nhân; Bốn là, kinh tế tư bản nhà nước;
Năm là, kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, không bao lâu sau cách mạng tháng Mười năm 1917, nước
Nga lâm vào nội chiến 1918-1920. Trong thời kỳ này, Lênin đã áp dụng chính
sách Cộng sản Thời chiến. Đó là chính sách trưng thu lương thực thừa của
nông dân sau khi dành lại cho họ mức ăn tối thiểu, đồng thời xóa bỏ quan hệ
hàng hóa - tiền tệ, thực hiện chế độ cung cấp hiện vật cho quân đội và bộ máy
nhà nước. Chính sách cộng sản thời chiến đã chiến thắng được kẻ thù, bảo vệ
nhà nước Xô Viết non trẻ.
8
Nhưng khi hòa bình lập lại, chính sách này lại không còn thích hợp, nó
kìm hãm sự phát triển sản xuất.
Trong bối cảnh đó, chính sách Kinh tế mới ra đời (NEP). Nội dung và
* Trước năm 1986
Cuối những năm 1970, trước tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội của
đất nước, hội nghị lần thứ 6 của BCH Trung ương Khóa IV (tháng 9/1979) chủ
trương “làm cho sản xuất bung ra” và sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế,
Hội nghị khẳng định sự cần thiết kết hợp kế hoạch với thị trường, kết hợp thị
trường có kế hoạch với thị trường tự do...Tiếp đến Ban Bí thư ra chỉ thị 100 về
khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp,
Chính phủ ra Nghị định 25/CP, 26/CP xác định việc sử dụng các quan hệ thị
trường,...Chính trên cơ sở những quyết sách đúng đắn đó, mà nhiều địa phương
đã có những tìm tòi sáng tạo về phát triển kinh tế hộ tiểu chủ công nghiệp, sửa
đổi giá, lương, tiền. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng
(1982) khẳng định chủ trương đó và thừa nhận ở miền nam vẫn còn năm thành
phần kinh tế. Tuy vậy đến năm 1986, KTTN vẫn được coi là tồn tại tạm thời và
giữ vai trò thứ yếu, bổ trợ cho kinh tế quốc doanh.
* Từ năm 1986 đến nay.
Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt
Nam (12/1986) - thời điểm được đánh dấu là cột mốc quan trọng trong công
cuộc đổi mới đất nước, trước hết là đổi mới kinh tế. Thông qua các chính sách
kinh tế mới của Đảng và nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân được hồi sinh và
phát triển trong một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước. Các Đại hội của Đảng sau đó đã
khẳng định lại đường lối khởi xướng tại Đại hội VI và đưa ra các định hướng
lớn trong chính sách phát triển kinh tế Việt Nam.
Theo đó sự phát triển kinh tế tư nhân được khẳng định như sau: Kinh tế
cá thể tiểu chủ ở cả nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài. Nhà
nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển; khuyến khích các hình thức tổ
10
Trở lại giai đoạn lịch sử về phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta để thấy
rằng quan điểm của Đảng ta đối với thành phần kinh tế này đã dần có sự thay
đổi theo chiều hướng tích cực, nghĩa là, có tư duy đúng, có quan điểm đổi mới
đối với thành phần kinh tế tư nhân, tạo nhiều thuận lợi để khuyến khích thành
phần kinh tế này phát triển đúng định hướng.
Mặt mạnh của khu vực kinh tế tư nhân là có động lực cá nhân mạnh
mẽ, nó sẽ giúp hoạt động kinh doanh diễn ra năng động, nhanh chóng đổi
mới, hệ thống điều hành và quan lý gọn nhẹ, có hiệu quả và chi phí thấp. Lợi
ích cá nhân là một động lực mạnh mẽ của con người, tồn tại lâu dài. Việc sử
dụng động lực đó phục vụ cho lợi ích chung của xã hội là rất cần thiết trong
giai đoạn hiện nay ở nước ta.
Do vậy, trong nội dung này, có 02 vấn đề cần thiết phải làm rõ:
Thứ nhất, kinh tế tư nhân và vấn đề bóc lột giá trị thặng dư.
Xuất phát từ quan niệm cho rằng kinh tế tư nhân gắn liền với bóc lột,
quy mô kinh tế nhỏ thì bóc lột ít, quy mô kinh tế lớn thì bóc lột nhiều nên
một thời kinh tế tư nhân không được khuyến khích phát triển, là đối tượng
cải tạo xã hội chủ nghĩa để từng bước thu hẹp và xóa bỏ khu vực kinh tế
này. Cùng với quá trình đổi mới các chính sách đối với kinh tế tư nhân đã
thay đổi khá căn bản: Kinh tế hộ gia đình và kinh tế cá thể được khuyến
khích phát triển; kinh tế tư bản tư nhân mặc dù đã tuyên bố được phát triển
bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, song trong nhận thức lý luận
của các cấp hoạch định chính sách trên thực tế còn nhiều quan điểm chưa
nhất quán.
Ít nhất có 4 quan điểm khác nhau về vị trí của kinh tế tư nhân trong
nền kinh tế và thái độ ứng xử với kinh tế tư nhân như sau: Một là, coi
kinh tế tư nhân gắn liền với bóc lột, vì vậy phải cải tạo, thu hẹp và từng
bước xóa bỏ. Đây là quan điểm đã từng chiếm địa vị thống trị trong nhiều
năm trước đây. Hai là, coi kinh tế cá thể và tiểu chủ là không có bóc lột
trong kinh doanh như ảnh hưởng của yếu tố tự nhiên (đối với sản xuất
nông, ngư nghiệp), của cung cầu và giá cả trong từng thời điểm cụ thể, của
13
tài năng trong quản lý,... Do vậy, vấn đề là ở chỗ phải xem người chủ thuê
mướn lao động có chiếm đoạt được giá trị thặng dư hay không và chiếm
đoạt được nhiều hay ít. Về vấn đề này, Các Mác đã lý giải rất kỹ cách thức
phân phối và phân phối lại giá trị thặng dư sau khi nó được sản xuất ra và
cho thấy, trong xã hội tư bản chủ nghĩa có rất nhiều nhân vật tham gia việc
phân chia giá trị thặng dư, đó là nhà tư bản ngân hàng và những người cho
vay vốn hưởng lãi suất, là chủ đất hưởng địa tô chênh lệch II, nhà nước
hưởng phần thu thuế.
Trong khi phải chấp nhận sự tồn tại của các hình thức kinh tế khác
nhau đại diện cho những phương thức sản xuất khác nhau và vì vậy có những
quan hệ sản xuất khác nhau, trong đó có quan hệ thuê mướn lao động và
chiếm đoạt giá trị thặng dư trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thì
nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa là điều tiết quá trình phân phối và
phân phối lại sao cho mức độ chiếm đoạt giá trị thăng dư của những người
thuê mướn lao động sống có thể chấp nhận được, không gây nên những mâu
thuẫn xã hội gay gắt và cản trở quá trình phát triển kinh tế, thực hiện từng
bước sự công bằng xã hội.
Thứ hai, kinh tế tư nhân và định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước, các chính sách và biện pháp kinh tế
- xã hội của Đảng và nhà nước phải nhằm tạo lập môi trường kinh tế mới,
thích hợp trong đó mọi cá nhân có thể phát huy tài năng của mình làm giàu
cho bản thân và cho đất nước.
Việc chấp nhận quan hệ trao đổi hàng hóa sức lao động và chấp nhận
không thỏa đáng nếu cứ xem thành phần kinh tế tư nhân hàng ngày, hàng
giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản và do đó là đối tượng cải tạo của chủ nghĩa xã
hội. Ngược lại, các hình thức kinh tế tư bản tư nhân sẽ có đóng góp quan
trọng, lâu dài vào sự nghiệp phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
15
Từ những vấn đề lý luận chung về các thành phần kinh tế, có thể hiểu:
Kinh tế tư nhân được dùng để chỉ thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản
tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình
doanh nghiệp khác.
Xét về mặt quan hệ sở hữu, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư
nhân đều thuộc loại hình sở hữu tư nhân, khác với sở hữu toàn dân, sở hữu tập
thể. Nhưng nếu xét về phương diện thành phần kinh tế thì kinh tế cá thể, tiểu
chủ và kinh tế tư bản tư nhân có thời kỳ chúng ta quan niệm là hai thành phần
kinh tế khác nhau, khác về trình độ phát triển lực lượng sản xuất và về bản
chất quan hệ sản xuất. Mặc dù vậy, do điều kiện của thời kỳ quá độ lên
CNXH ở Việt Nam, tại Đại hội X, Đảng ta đã ghép hai bộ phận này thành một
thành phần là thành phần kinh tế tư nhân.
Hiện nay, kinh tế tư nhân ở nước ta được khuyến khích phát triển dưới
sự lãnh đạo của Đảng và pháp luật của Nhà nước nên đã có thể kinh doanh
trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, ngoại trừ một số ít lĩnh vực mà
Nhà nước giữ độc quyền nhằm đảm bảo an ninh và quốc phòng.
1.2. CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC SẢN XUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA KINH TẾ
TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM
1.2.1. Các hình thức tổ chức sản xuất của kinh tế tư nhân ở Việt Nam
họ hàng, vì vậy mục tiêu lợi nhuận chỉ là thứ yếu. Thực tế cho thấy, nhiều hộ
kinh doanh vẫn hoạt động kể cả trong những trường hợp sau khi hạch toán
kinh doanh không có lãi hoặc lãi ít để đảm bảo việc làm cho các thành viên
trong gia đình. Khi mới chuyển sang cơ chế thị trường, hệ thống kinh doanh
của các hộ cá thể phát triển một cách nhanh chóng, len lỏi vào mọi ngõ ngách,
phục vụ mọi nhu cầu đời sống của người dân, đặc biệt đối với các tầng lớp
dân cư có thu nhập thấp.
Tuy nhiên, tính tự phát trong kinh doanh có thể tác động xấu tới thị
trường, đồng thời, những hạn chế về quy mô, vốn, chất lượng nguồn nhân lực,
phương thức tổ chức kinh doanh, trình độ công nghệ, khả năng tiếp cận thị
17
trường sẽ gây cản trở cho sự phát triển của hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ, đặc
biệt trong tiến trình hội nhập sâu về kinh tế quốc tế. Vì vậy, sự phát triển của
các hộ cá thể tiểu chủ, rất cần tới sự giúp đỡ và định hướng của Nhà nước.
- Các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân: dựa trên sở hữu tư nhân lớn
về vốn và các điều kiện kinh doanh. Hình thức kinh doanh là doanh nghiệp tư
nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh với
quy mô vốn và số lượng lao động nhỏ, thích hợp với khả năng tài chính, năng
lực quản lý của doanh nghiệp tư nhân, đồng thời cũng có thể thành lập những
tập đoàn kinh tế lớn hoạt động xuyên quốc gia.
Các loại hình kinh tế tư bản tư nhân được thành lập theo Luật Doanh
nghiệp, Luật Công ty tập trung vào các hoạt động dễ sinh lợi và thường tập
trung kinh doanh trên các địa bàn, các trung tâm kinh tế lớn, nơi tập trung khu
công nghiệp, đầu mối giao thông và khu đông dân cư nên có tác động tích cực
đến sự phát triển của các vùng kinh tế trọng điểm. Loại hình doanh nghiệp
này thích ứng với mọi ngành nghề, mọi trình độ từ thủ công đến tự động hóa,
tin học hóa, với quy mô từ nhỏ đến lớn, phù hợp với mọi địa bàn từ thành thị