Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức -
qua thực tiễn Viện Khoa học và Công nghệ
Việt nam
Vũ Đức Anh
Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: TS. Trần Nho Thìn
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Làm rõ một số vấn đề lý luận về công chức, viên chức và đào tạo, bồi
dưỡng công chức, viên chức. Đánh giá đúng thực trạng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
công chức, viên chức qua thực tiễn tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Đề
xuất một số giải pháp cơ bản nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Keywords: Công chức; Viên chức; Pháp luật Việt Nam
Content
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là một trong những nội dung
của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010. Tại thời điểm
cuối của giai đoạn nhìn về chặng đường đã qua, có thể nói, công tác đào tạo, bồi dưỡng đã có
những bước tiến rõ rệt, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Bên cạnh
đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng hiện nay vẫn còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém, chưa đáp
ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế.
Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức đóng góp vai trò quan trọng trong việc nâng
viết, công trình đó chỉ mới đề cập đến đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung, chưa
đi sâu nghiên cứu một cách chuyên biệt các vấn đề về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên
chức trong lĩnh vực khoa học, công nghệ.
Đề tài “Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức - qua thực tiễn Viện Khoa học và
Công nghệ Việt Nam” là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu một cách chuyên biệt về về
đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, về những bất
cập, hạn chế của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng từ thực tiễn tại Viện Khoa học và Công nghệ
Việt Nam từ đó đưa ra một số các biện pháp cụ thể nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt
động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích nghiên cứu:
Trên sở sở đánh giá thực trạng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức hiện
nay (qua thực tiễn ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), nhằm đề ra những giải pháp
đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức góp phần nâng
cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức ở nước ta nói chung và ở Viện Khoa học và
Công nghệ Việt Nam nói riêng.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Làm rõ một số vấn đề lý luận về công chức, viên chức và đào tạo, bồi dưỡng công chức,
viên chức;
+ Đánh giá đúng thực trạng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức qua thực
tiễn tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam nói riêng;
+ Đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cơ bản nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu
quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt
Nam.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức của cả nước
nói chung, nhưng chủ yếu qua thực tiễn ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Chủ yếu ở phạm vi Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, có
tham khảo kinh nghiệm của một số nước.
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VÀ ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN
CHỨC Ở VIỆT NAM
Trong chương này, tác giả trình bày các khái niệm về công chức, viên chức theo quy
định của Pháp luật Việt Nam, phân biệt công chức, viên chức qua một số tiêu chí cơ bản. Nêu
lên thực trạng về đội ngũ công chức, viên chức cũng như thực trạng hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng công chức, viên chức ở Việt Nam.
1.1. Khái niệm về công chức, viên chức và đào tạo, bồi dƣỡng công chức, viên chức
theo pháp luật Việt Nam
Ở mục này, tác giả đưa ra hai nội dung: khái niệm về công chức, viên chức và đào tạo,
bôi dưỡng công chức theo Pháp luật Việt Nam.
1.1.1. Khái niệm về công chức, viên chức
1.1.1.1. Khái niệm về công chức
Theo quy định tại Điều 4 - Khoản 2 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 “Công chức
là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ
quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp
tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan,
quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân
dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý
của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân
sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công
lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của
pháp luật”
1.1.1.2. Khái niệm về viên chức
Theo quy định tại Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 “viên chức là công dân Việt Nam
cán bộ.
1.2. Mục tiêu, nội dung đào tạo, bồi dƣỡng công chức, viên chức và những yếu tố
ảnh hƣởng đến hoạt động đào tạo, bồi dƣỡng công chức, viên chức
1.2.1. Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức
1.2.1.1. Trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ
Để thực hiện tốt nhiệm vụ, công vụ của mình, bên cạnh những kiến thức về chuyên
môn, công chức, viên chức cần phải có những kiến thức, kỹ năng và phương pháp thực hiện
nhiệm vụ công vụ.
Để đáp ứng mục tiêu trên, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức phải trang bị
những kiến thức và kỹ năng cơ bản, bổ sung kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và quản lý
nhằm xây dụng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
trung thành với chế độ xã hội chủ nghĩa, tận tuỵ với công vụ; có trình độ, quản lý tốt, đáp ứng
yêu cầu của việc kiện toàn và nâng cao hiệu quả của bộ máy Nhà nước; thực hiện chương
trình cải cách nền hành chính Nhà nước
1.2.1.2. Xây dựng đội ngũ công chức, viên chức chuyên nghiệp có đủ năng lực xây dựng
nền hành chính tiên tiến, hiện đại
Công cuộc đổi mới đất nước cùng tiến trình hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu to lớn và
cấp bách về xây dựng đội ngũ công chức, viên chức có đủ phẩm chất và năng lực góp phần
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kỳ mới. Đội ngũ công
chức, viên chức nhà nước đóng vai trò trực tiếp và quan trọng tác động đến quá trình đổi mới.
Trong tiến trình hội nhập nền kinh tế, đòi hỏi đội ngũ công chức, viên chức nhà nước phải có
trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức vững vàng, sự tận tụy và khả năng giải quyết
công việc nhanh nhạy.
1.2.2. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức
Thứ nhất, đối với đào tạo, bồi dưỡng ở trong nước: nội dung đào tạo, bồi dưỡng bao
gồm: Đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị; Chuyên môn, nghiệp vụ; Kiến thức pháp luật;
kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành; Tin học, ngoại ngữ, tiếng dân
tộc.
Thứ hai, đối với bồi dưỡng ở ngoài nước: Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng quản lý hành
chính nhà nước và quản lý chuyên ngành và Kiến thức, kinh nghiệm hội nhập quốc tế.
học và công nghệ có những đặc điểm sau đây: Một là, lao động khoa học, công nghệ là lao
động trí óc; Hai là, lao động khoa học, công nghệ là lao động có tính sáng tạo; Ba là, lao
động khoa học, công nghệ là lao động mang tính mạo hiểm cao; Bốn là, lao động khoa học,
công nghệ là lao động mang tính độc lập cá thể cao; Năm là, lao động khoa học, công nghệ là
lao động mang tính kế thừa và tích luỹ; Sáu là, lao động khoa học, công nghệ luôn coi trọng
lý tưởng nghề nghiệp.
Phân tích, tìm hiểu về đặc thù của công chức, viên chức lao động trong lĩnh vực này là
nhiệm vụ quan trọng để từ đó có những kế hoạch đúng đắn về đổi mới công tác đào tạo, bồi
dưỡng.
1.3.3. Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Việt Nam
Theo thống kê, trong giai đoạn 2001-2010, khoảng 4,8 triệu lượt cán bộ, công chức,
viên chức đã được đào tạo, bồi dưỡng. Trong các năm 2006-2008 đã cử 42.800 lượt công
chức hành chính, lãnh đạo, quản lý và cử 27.180 chuyên gia đầu ngành, công chức nguồn đi
đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài.
Theo Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ, Nội dung
chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã bước đầu được đổi mới theo hướng phù
hợp với các đối tượng đào tạo, bồi dưỡng. Song song với quá trình này là sự đổi mới phương
thức đào tạo, bồi dưỡng. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tham gia đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức đã được chú trọng. Đã có sự phân cấp cụ thể giữa các cơ sở đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức.
Tuy nhiên, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng hiện nay vẫn còn nhiều bất cập. Nội dung đào
tạo bồi dưỡng vẫn nặng về hình thức tiêu chuẩn bằng cấp, chưa chú trọng đến bồi dưỡng nâng
cao thực hành và không gắn với chức trách, nhiệm vụ của từng loại công chức. Phương thức
đào tạo chưa chú trọng khuyến khích tính tích cực của người học. Năng lực, trình độ đội ngũ
giảng viên không đồng đều, còn thiếu kiến thức thực tiễn, kỹ năng sư phạm hạn chế. Cơ sở
vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu giảng dạy.
1.4. Kinh nghiệm đào tạo, bồi dƣỡng công chức, viên chức ở một số nƣớc trên thế
giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
7
8
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC Ở VIỆN
KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
Trong chương này, tác giả trình bày về thực trạng đội ngũ công chức, viên chức cũng
như hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Nêu
lên những kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế, tồn tại của hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng, nêu lên những nguyên nhân của những kết quả và hạn chế, tồn tại.
2.1. Đội ngũ công chức, viên chức của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2.1.1. Khái quát chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học và Công
nghệ Việt Nam.
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính phủ; Tiền
thân là Viện Khoa học Việt Nam được thành lập theo Nghị định 118/CP ngày 20/5/1975 của
Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ).
Hiện tại, theo Nghị định số 62/2008/NĐ-CP ngày 12/5/2008 của Chính phủ quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học và Công nghệ Việt
Nam, chức năng chủ yếu của Viện là nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển
công nghệ theo các hướng trọng điểm của Nhà nước nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho
công tác quản lý khoa học, công nghệ và xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch phát triển kinh tế, xã hội và đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao cho
đất nước theo quy định của pháp luật.
Về cơ cấu tổ chức, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam có 24 Viện nghiên cứu khoa
học, 3 đơn vị sự nghiệp, 7 cơ quan giúp việc Chủ tịch Viện do Thủ tướng Chính phủ thành
lập, 5 Viện nghiên cứu cấp cơ sở và nhiều đơn vị ứng dụng, triển khai công nghệ tại các địa
phương, địa bàn kinh tế trọng điểm, cùng tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát
cứu chuyên ngành cả về hướng nghiên cứu và theo khu vực, lãnh thổ; Thứ ba, đội ngũ công
chức, viên chức của Viện còn thiếu sự gắn bó và hợp tác trong hoạt động khoa học; Thứ tư,
một sô cán bộ khoa học, công nghệ chưa thực sự yên tâm công tác, chưa toàn tâm, toàn ý
cống hiến cho sự nghiệp khoa học.
2.2. Hoạt động đào tạo, bồi dƣỡng công chức, viên chức ở Viện Khoa học và Công
nghệ Việt Nam
2.2.1. Nội dung đào tạo, công chức, viên chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt
Nam:
Thứ nhất, đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị: Chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý
luận chính trị gồm có: bồi dưỡng các Nghị quyết của Đảng, đào tạo sơ cấp, trung cấp, cao cấp,
cử nhân chính trị.
Thứ hai, đào tạo, bồi dưỡng về quản lý nhà nước: bồi dưỡng cập nhật kiến thức mới;
bồi dưỡng chương trình cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp; đào tạo
trung cấp, đại học, sau đại học.
Thứ ba, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề
nghiệp.
Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng về ngoại ngữ, tin học, hội nhập kinh tế quốc tế và các kiến
thức bổ trợ khác.
2.2.2. Hình thức đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Viện Khoa học và Công
nghệ Việt Nam:
Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
được thực hiện thông qua hai hình thức: Đào tạo trong nước và hợp tác quốc tế về đào tạo.
Đối với đào tạo trong nước: được thực hiện thông qua Ban Tổ chức – Cán bộ và Trung
tâm Đào tạo, Tư vấn và Chuyển giao công nghệ.
Đối với hoạt động hợp tác quốc tế: Hiện nay, Viện có quan hệ hợp tác nghiên cứu khoa
học với nhiều nước trên thế giới. Trong thời gian qua, Viện đã ký kết hàng trăm dự án, đề án
hợp tác nghiên cứu khoa học với các cơ quan khoa học ở nước ngoài và các tổ chức khoa học
quốc tế.
2.2.3. Quy trình thực hiện và cơ chế tài chính về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công
chức, viên chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
chức ở Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam
Thứ nhất, sự gắn kết giữa công tác đào tạo, bồi dưỡng với việc quy hoạch, bố trí, sử dụng
công chức, viên chức thiếu chặt chẽ; cử đối tượng đi đào tạo, bồi dưỡng chưa chuẩn xác.
Thứ hai, chưa xây dựng được hệ thống chương trình đào tạo bồi dưỡng toàn diện, phù
hợp với hệ thống tiêu chuẩn chức danh công chức, viên chức.
Thứ ba, phương thức, hình thức đào tạo, bồi dưỡng cũng như công tác quản lý đào tạo
bồi dưỡng và thực trạng đội ngũ, giảng viên, báo cáo viên chưa theo kịp quá trình đổi mới.
Thứ tư, cơ chế tài chính phục vụ công tác đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức còn
những bất cập; việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, cung cấp trang thiết bị phục vụ dạy và
học còn thiếu đồng bộ.
Thứ năm, công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá thi đua, thực hiện chế độ báo cáo còn nhiều
yếu kém
2.3.3. Nguyên nhân của những kết quả đã đạt được và những hạn chế, yếu kém
trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Viện khoa học và Công nghệ
Việt Nam
Nguyên nhân của những thành tựu:
- Sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, chặt chẽ của Ban lãnh đạo Viện Khoa học
và Công nghệ Việt Nam cũng như sự phối hợp giữa các đơn vị trong hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng.
- Công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức được
quan tâm.
- Ý thức, trách nhiệm cao của phần lớn công chức, viên chức phấn đấu học tập nâng cao
trình độ, năng lực công tác.
- Công sức đóng góp của đội ngũ giảng viên và báo cáo viên.
Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại:
- Một số đơn vị và cá nhân chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc đào tạo, bồi
dưỡng.
- Thiếu cơ chế, chính sách đồng bộ gắn kết chặt chẽ trong đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng,
đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật công chức;
nhà nước. Đây là nhân tố quan trọng góp phần vào sự phát triển của nền hành chính nhà nước.
Công cuộc đổi mới đất nước cùng tiến trình hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu to lớn và cấp bách
về xây dựng đội ngũ công chức, viên chức có đủ phẩm chất và năng lực góp phần đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kỳ mới.
3.1.2. Nhu cầu tăng cường kỹ năng, nâng cao năng lực làm việc và tính chuyên
nghiệp của công chức, viên chức trong công cuộc cải cách nền hành chính
Nước ta đang trong thời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa còn nhiều điều kiện mà nước ta chưa đáp ứng được như: Trình độ phát triển nền
kinh tế thị trường thấp; hệ thống pháp luật và thủ tục còn nhiều cái chưa phù hợp với thông lệ
chung của quốc tế, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ hội nhập, đội ngũ
công chức còn có nhiều bất cập cả về số lượng và chất lượng, cơ cấu cũng như sự phân bổ
theo ngành và theo lãnh thổ, vừa quá lớn về quy mô, vừa yếu kém về chất lượng, vừa bất hợp
lý trong việc bố trí sử dụng, tạo nên sự trì trệ của nền hành chính. Sự thành thục trong kỹ năng
là tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp, tính chuyên môn hoá của các cán bộ, công chức, viên
chức.
3.1.3. Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức cho
phù hợp với xu thế phát triển của đất nước
- Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức của nước ta hiện nay
đang ở trong tình trạng lạc hậu, chậm tiến, chưa hiện đại hoá cho phù hợp với tình hình mới.
- Đội ngũ giảng viên cho công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức của chúng
ta hiện nay chưa được chú trọng phát triển cả về số lượng và chất lượng.
- Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên
chức của chúng ta hiện nay chưa được đầu tư xây dựng một cách đồng bộ.
3.2. Những yêu cầu đặt ra đối với đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dƣỡng công chức,
viên chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
13
Một là: đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức theo nhu
cầu công việc.
Hai là, đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phải đảm bảo tính khoa học và tính thực
3.3.4. Xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên và hiện đại hoá cơ sở vật chất, trang
thiết bị đào tạo, bồi dưỡng
- Đội ngũ giảng viên phải có khả năng truyền thụ và tạo lập cho học viên có niềm đam
mê nghiên cứu khoa học, tư duy khoa học và năng lực sáng tạo.
- Tăng cường trang bị thiết bị và cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng.
- Cần phải xây dựng, nâng cấp Trung tâm đào tạo, Tư vấn và Chuyển giao công nghệ
thành một đơn vị chuyên trách hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức giống như
các Trường, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức của các Bộ, cơ quan ngang
Bộ.
3.3.5. Xây dựng hệ thống đánh giá, báo cáo công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức,
viên chức
14
Giám sát, đánh giá hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức có thể xem là
hoạt động thu thập thông tin một cách có hệ thống liên quan đến việc triển khai hoạt động đào
tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức.
Giám sát, đánh giá nhằm giúp đơn vị quản lý, giảng viên, người thiết kế chương trình
đào tạo và các đối tượng liên quan đến đào tạo xác định được chất lượng, hiệu quả đào tạo,
bồi dưỡng, khả năng truyền thụ kiến thức của giảng viên, khả năng tiếp thu của học viên, qua
đó nắm bắt được những điểm mạnh, yếu để xây dựng và triển khai kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng, phân công phân cấp đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu.
3.3.6. Tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức.
Mục tiêu phát triển hợp tác quốc tế trong đào tạo là nhằm: Tiếp cận chuẩn mực giáo dục
đại học tiên tiến của thế giới; Đưa hợp tác quốc tế góp phần tích cực thực hiện mục tiêu đào
tạo,nghiên cứu khoa học chất lượng cao;Hợp tác quốc tế bình đẳng trong các hoạt động đào
tạo, nghiên cứu khoa học.
3.3.7. Thay đổi nhận thức của học viên trong hoạt động trong đào tạo, bồi dưỡng
công chức, viên chức
và Công nghệ Việt Nam, nêu lên những kết quả đã đạt được, chỉ ra những hạn chế, yếu kém
trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chưc; rút ra nguyên nhân của những kết
qua đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế;
- Trên cơ sở vận dụng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về yêu cầu đổi mới hoạt
động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức, luận văn đã đề xuất 7 giải pháp cơ bản nhằm
đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo,bồi dưỡng công chức, viên chức của Viện Khoa
học và Công nghệ Việt Nam:
Thứ nhất, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy định về hoạt động đào tạo,
bồi dưỡng công chức, viên chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Thứ hai, xây dựng kế hoạch hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức trên cơ
sở quy hoạch cán bộ của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Thứ ba, đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với công việc của đội ngũ
công chức, viên chức của Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam.
Thứ tư, xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên và hiện đại hoá cơ sở vật chất, trang
thiết bị đào tạo, bồi dưỡng.
Thứ năm, xây dựng hệ thống đánh giá, báo cáo công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức,
viên chức.
Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức.
Thứ bảy, thay đổi nhận thức của học viên trong hoạt động trong đào tạo, bồi dưỡng công
chức, viên chức.
Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức là công việc phức tạp liên quan đến nhiều
người, nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều vấn đề, nên đòi hỏi sự thống nhất cao trong nhận thức
và hành động của các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền, các ngành và các cá nhân. Đồng
thời, cần có cơ chế, chính sách, cơ sở vật chất, tài chính và đặc biệt là đội ngũ giảng viên
ngang tầm để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức trong tình hình mới./.
16
References
1. Ban Chấp hành Trung ương (1999), Quy định số 54/QĐ-TW ngày 12/5/1999 về chế độ
15. Đảng Công sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm BCH TW (khoá X),
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Bùi Xuân Đức (chủ biên) (1999), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia, Hà Nội.
18. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. Hội đồng Bộ trưởng (1991), Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991 quy định về Công
chức nhà nước, Hà Nội.
20. Hoàng Thị Kim Quế (Chủ biên) (2005), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và
pháp luật, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội.
21. Quốc hội (2008), Luật Cán bộ, công chức, Hà Nội.
22. Quốc hội (2010), Luật viên chức, Hà Nội.
23. Phạm Hồng Thái, Đinh Văn Mậu (2007), Luật hành chính Việt Nam, trang 181- 203 ,
Nhà xuất bản Giao thông vận tải, Hà Nội.
24. Thái Vĩnh Thắng (1997), Lịch sử lập hiến Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
17
25. Thủ tướng Chính phủ (1996), Quyết định số 874/TTg ngày 20/11/1996 về công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức nhà nước, Hà Nội.
26. Thủ tướng Chính phủ (2001), Quyết định số 74/2001/QĐ-TTg ngày 7/5/2001 về việc
phê duyệt Kế hoạch và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2001 – 2005,
Hà Nội.
27. Thủ tướng Chính phủ (2001), Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm
2001 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 –
2010, Hà Nội.
28. Thủ tướng Chính phủ (2003), Quyết định số 137/2003/QĐ-TTg ngày 11/7/2003 phê
duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác hội nhập kinh tế
quốc tế giai đoạn 2003 – 2010, Hà Nội.