1
Giải thích pháp luật ở Việt Nam
hiện nay
Phạm Thị Duyên Thảo
Khoa Luật
Luận án TS ngành: Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp
luật; Mã số: 62 38 01 01
Người hướng dẫn: GS.TS. Phạm Hồng Thái
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Tóm tắt tình hình nghiên cứu về giải thích
pháp luật ở nước ngoài và trong nước, xác định các vấn
đề cần nghiên cứu của Luận án. Trình bày những nội
dung cơ bản về lý luận giải thích pháp luật: khái niệm,
vai trò, mục đích, nguyên tắc, phương pháp, các mô hình
của giải thích pháp luật. Nghiên cứu thực tiễn giải thích
pháp luật ở Việt Nam (cơ sở pháp lý, thực tế hoạt động,
kết quả, những vấn đề đang đặt ra). Đề xuất mô hình và
giải pháp nâng cao chất lượng giải thích pháp luật ở Việt
Nam.
Keywords: Lịch sử nhà nước; Pháp luật Việt Nam; Giải
thích pháp luật
Content
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
1. Lý luận về giải thích pháp luật (gtpl) là một bộ phận
quan trọng của khoa học pháp lý, được tổng kết từ thực tiễn gtpl
2
ở nhiều nước, có tính phổ biến, có giá trị hướng dẫn và thúc đẩy
hoạt động gtpl ở mỗi quốc gia. Tuy nhiên, ở Việt Nam, lý
niệm, vai trò, mục đích, nguyên tắc, phương pháp, các mô hình
của gtpl.
- Nghiên cứu thực tiễn gtpl ở Việt Nam: cơ sở pháp lý, thực
tế hoạt động, kết quả, những vấn đề đang đặt ra.
- Đề xuất mô hình và giải pháp nâng cao chất lượng gtpl ở
Việt Nam
3. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu của luận án
- Lý luận về giải thích pháp luật chính thức
- Hoạt động giải thích pháp luật chính thức của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội
- Thành tựu, hạn chế của thực tiễn giải thích pháp luật ở
Việt Nam
- Giải pháp nâng cao chất lượng giải thích pháp luật ở Việt
Nam
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4
- Luận án sử dụng phương pháp luận Mác – Lênin, phương
pháp hệ thống, so sánh, phân tích, tổng hợp, văn bản học…
đồng thời vận dụng các quan điểm của Đảng về xây dựng pháp
luật và cải cách tư pháp trong nhà nước pháp quyền… để
nghiên cứu gtpl ở Việt Nam.
- Phương pháp cụ thể: tìm mối liên hệ logic của hoạt động
gtpl khi áp dụng (lý luận chung chương 2) và thực tiễn hoạt
động gtpl của UBTVQH (mô hình hiện tại, chương 3) và cơ sở
lý luận của hoạt động gtpl của tòa án (mô hình tương lai,
chương 4).
5. Đóng góp của luận án
- Đặt hai quá trình gtpl: giải thích khi xây dựng pháp luật
của chủ thể lập pháp và giải thích khi thực hiện, áp dụng pháp
Purpose in Legal Interpretation) của Stephen F Williams, Giải
thích luật: Những nguyên tắc cơ bản và các khuynh hướng hiện
nay, 2008 (Statutory interpretation: General principles and
recent trends) của Yule Kim, Mục đích của giải thích trong
luật, 2005 (Purposive Interpretation in law) của Aharon Barak,
Vấn đề của sự giải thích: Tòa án liên bang và pháp luật, 1998
(A matter of interpretation: Federal courts and the law) của
Antonin Scalia,…
6
Nhìn khái quát, các học giả đã tập trung nghiên cứu: gtpl là
một hoạt động khách quan; gtpl được tiếp cận chủ yếu tại khu
vực áp dụng pháp luật, với vai trò gtpl chủ đạo là tòa án; Các
biện pháp kỹ thuật giải thích ngôn ngữ văn bản; Lý thuyết giải
thích hiến pháp và luật, các nguyên tắc, phương pháp gtpl
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu về gtpl chưa nhiều. Hiện có một số
công trình tiêu biểu như: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của thẩm
quyền giải thích HiÕn pháp, luật, pháp lệnh của UBTVQH”,
Nguyễn Văn Thuận, Mã số 94-98-106/ĐT, Hà Nội, 1999, Thẩm
quyền của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc giải thích Hiến
pháp, luật, pháp lệnh”, của Hoàng Văn Tú (Tạp chí Nghiên cứu
Pháp luật số 5/2002), "Vai trò giải thích pháp luật của Toà án",
Võ Trí Hảo (Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3/2003), "Hoạt động
giải thích hiến pháp, luật, pháp lệnh trong giai đoạn xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay",
Luận văn thạc sỹ, tác giả Đỗ Tiến Dũng, Hà Nội, 2006, “Giải
thích pháp luật – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Văn
phòng Quốc hội Việt Nam, Hà Nội, 2009…
Các công trình kể trên ở Việt Nam là những nghiên cứu quan
8
độ như vấn đề chủ thể gtpl, hình thức gtpl chính thức, nội dung
trong văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành pháp luật,
giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng gtpl trong thời gian tới.
3. Ở Luận án này, qua việc nghiên cứu bản chất, hình
thức của gtpl sẽ tập trung nghiên cứu về hoạt động gtpl của
UBTVQH, lấy đó làm cơ sở để nghiên cứu sự “tham gia” gtpl
của Chính phủ, các Bộ, Tòa án các cấp,… và cuối cùng là đưa
ra các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động gtpl ở Việt
Nam.
Chƣơng 2. LÝ LUẬN VỀ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT
2.1. Khái niệm giải thích pháp luật
2.1.1. Định nghĩa giải thích pháp luật
Cho đến nay, gtpl đã không thể có một khái niệm tuyệt đối,
mỗi định nghĩa có cách diễn đạt và tiếp cận khác nhau. Bởi vì, dù
tiêu chí “làm cho hiểu rõ” pháp luật là tiêu chí chủ đạo thì bên
cạnh nó còn nhiều tiêu chí khác thuộc về phạm trù không gian và
thời gian, về các quy định pháp lý, thực tiễn của mỗi đời sống
pháp lý quy định. Tuy nhiên, nhận thấy, dù tiếp cận dưới góc độ
nào thì bản chất của gtpl luôn phải là nhận thức pháp luật, khu
biệt hẳn với xây dựng pháp luật. Nếu xây dựng pháp luật là xác
lập quy tắc xử sự, là đặt nghĩa cho những quy phạm pháp luật,
thì gtpl là xác định quy tắc xử sự, là đọc nghĩa của những quy
phạm pháp luật đó. Sự phân biệt này đặc biệt quan trọng, vì nó
9
tránh được nhầm lẫn giữa hoạt động gtpl - thuộc về một quá
trình nhận thức thành hoạt động xây dựng pháp luật - thuộc về
- Giải thích chính thức mang tính quy phạm:
Đặc điểm: Do chủ thể có thẩm quyền tiến hành theo một
quy trình luật định, sản phẩm giải thích thể hiện dưới dạng văn
bản quy phạm pháp luật, mang tính bắt buộc chung, hiệu lực
giống với hiệu lực của văn bản được giải thích. Gtpl mang tính
quy phạm trong thực tế thường là giải thích các văn bản luật,
các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan cấp trên, các
văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.
- Giải thích chính thức mang tính vụ việc:
11
Đặc điểm: là gtpl được tiến hành khi một sự việc nhất
định phát sinh nhu cầu gtpl có liên quan. Giá trị pháp lý của kết
quả giải thích thường chỉ có hiệu lực đối với một vụ việc pháp
lý cụ thể. Hình thức này thường xuất hiện trong khi áp dụng
pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền, mà chủ yếu là các tòa
án trong khi xét xử để đưa ra những phán quyết.
Giải thích mang tính quy phạm và giải thích mang tính
vụ việc là hai hình thức khác nhau nhưng có mối quan hệ tương
ứng. Bởi vì gtpl mang tính vụ việc cũng vẫn là xem xét từ quy
phạm, bắt đầu từ quy phạm, chứ không phải từ vụ việc. Mối
liên hệ này còn thể hiện ở chỗ; đôi khi, kết quả của một “giải
thích mang tính vụ việc” lại dẫn đến việc chỉnh sửa một quy
phạm, và, cũng đôi khi một “giải thích mang tính quy phạm” lại
nhờ nó mà giải quyết được những tình huống rất cá biệt trong
một quan hệ pháp luật cụ thể nào đó.
2.3. Tính tất yếu khách quan của hoạt động giải thích
pháp luật
Giải thích pháp luật là tất yếu khách quan vì các nguyên
nhân cơ bản sau:
13
tôn trọng ý chí của cơ quan lập pháp, nguyên tắc tôn trọng mục đích
khách quan của văn bản pháp luật…
2.5.2. Phương pháp giải thích pháp luật
Các phương pháp cơ bản gồm: Phương pháp giải thích
ngôn ngữ, văn phạm, phương pháp giải thích chính trị - lịch sử,
phương pháp giải thích logic, phương pháp giải thích tiếp cận
mục đích, phương pháp giải thích mở rộng, phương pháp giải
thích rút gọn… Hiệu quả của phương pháp phụ thuộc vào thẩm
quyền và cách thức sử dụng.
2.6. Các mô hình giải thích pháp luật
2.6.1. Mô hình Tòa án giải thích pháp luật
Điển hình là các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ.
Đây cũng là mô hình khá phổ biến cho đến hiện nay. Theo mô
hình này, chủ thể gtpl thuộc về tòa án, đối tượng của gtpl nhìn
chung không bị hạn chế, hiệu lực sản phẩm gtpl của các tòa án
có giá trị đối với những vụ việc, tình huống cụ thể…
Yếu tố quyết định đặc trưng của mô hình này là nguyên
tắc phân chia quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước, truyền thống sử dụng án lệ, truyền thống xây
dựng pháp luật…
2.6.2. Mô hình cơ quan Lập pháp giải thích pháp luật
Điển hình ở một số nước Châu Âu (khoảng trước những
năm 80 thế kỷ trước), Liên Xô cũ, Canada, Cu Ba, Trung Quốc,
Myanma, Bắc Triều Tiên, Việt Nam… Theo mô hình này, chủ
14
thể gtpl là các cơ quan lập pháp như Nghị viện, Hội đồng nhà
nước, Ủy ban thường vụ quốc hội, và thường được ghi nhận
thông qua Dự thảo Nghị quyết giải thích – đăng Công báo Nghị
quyết giải thích.
Đây là mô hình được xây dựng cho chủ thể gtpl thuộc hệ
thống cơ quan lập pháp. Nhận thấy mô hình gtpl này chưa thích
hợp, khó thực hiện được thường xuyên vì UBTVQH gtpl trong
khuôn khổ lập pháp nên không đáp ứng được nhu cầu của gtpl,
nhất là trong bối cảnh đất nước đang xây dựng Nhà nước pháp
quyền với những tiêu chí hiện đại.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
1. Thuật ngữ gtpl nói đến trong Luận án này là chỉ hoạt
động gtpl do nhà nước tổ chức, thường được gọi là gtpl chính
thức (đối lập với gtpl không chính thức, không thuộc phạm vi
trình bày ở đây).
Gtpl theo nghĩa rộng nhất có thể xuất hiện ở hai khu vực,
một là trong quá trình xây dựng pháp luật, hai là trong quá trình
16
thực hiện, áp dụng pháp luật. Quy luật chung của hoạt động gtpl
chính thức là tất yếu tập trung vào quá trình thực hiện, áp dụng
pháp luật. Gtpl, vì thế chính là xác định đúng quy tắc xử sự
trong văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện, áp dụng đúng
đắn, thống nhất.
2. Gtpl là một đòi hỏi khách quan, nhưng lại do con
người tổ chức thực hiện nên phải có quy định pháp lý chặt chẽ
để đảm bảo giữ đúng mục đích và vai trò của gtpl. Những quy
định pháp lý quan trọng đó là nguyên tắc, phương pháp, quy
trình, đối tượng của gtpl. Cơ quan nào được quyền gtpl chính
thức là vấn đề đại sự quốc gia, phụ thuộc vào cách thức tổ chức
chỉ 2 lần Nghị quyết đề rõ là giải thích, còn lại là để quy định,
hướng dẫn giải quyết những tranh chấp có liên quan.
Chính phủ, các bộ, TANDTC… trong khi ban hành văn
bản quy định chi tiết thi hành pháp luật (do yêu cầu tự nhiên, do
thông lệ) cũng tiến hành diễn giải, làm cho hiểu rõ nhiều nội
dung thuộc văn bản của cấp trên. “Yếu tố gtpl” này hiện đang
có nhiều ý kiến tranh cãi, nội dung giải thích nằm trong văn bản
18
quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện pháp luật rất khó đánh
giá và kiểm soát.
Tòa án (do yêu cầu nghiệp vụ, trong quá trình xét xử)
cũng gtpl để áp dụng vào những vụ việc cụ thể. Nội dung gtpl
của Tòa án chưa được thể hiện đầy đủ trong bản án, mà chỉ thấy
xuất hiện ở những tài liệu (như Báo cáo, Tờ trình…) ghi lại các
quan điểm khác nhau khi tranh luận về một vấn đề được áp
dụng.
Đứng ở góc độ khoa học pháp lý thì công việc giải thích
pháp luật như vừa khái quát là chưa quy củ, còn nhiều vấn đề
cần phải bàn, phải tìm cách khắc phục.
3.2. Hoạt động gtpl chính thức của Ủy ban Thƣờng
vụ Quốc hội.
3.2.1. Cơ sở pháp lý
Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992, Luật BHVBQPPL
năm 1996, 2008,…
Các nội dung cơ bản gồm: Chủ thể, hình thức sản phẩm,
chủ thể yêu cầu, đối tượng, quy trình, cơ quan giúp việc gtpl,
giải thích ĐƯQT…(như đã trình bày khái quát ở phần Mô hình
gtpl Việt Nam hiện nay).
3.2.2. Thực tế hoạt động giải thích pháp luật của
trường hợp gtpl điển hình, vừa có cơ sở pháp lý, vừa mang đến
nhiều ý nghĩa có giá trị lý luận cho hoạt động này.
Ba trường hợp còn lại, UBTVQH đã gtpl trên cơ sở cân
nhắc đến sự thay đổi của tình hình hiện tại so với các quy định pháp
luật được ban hành trước đó. Các giải thích này của UBTVQH tiến
hành mang nặng tính hướng dẫn, quy định chi tiết, có những nội
dung được quy định thêm, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực
tế. Như vậy là, UBTVQH đã giải thích theo phương pháp “lập pháp
bổ sung”, tức là giải thích nhưng gắn liền với việc quy định thêm,
loại giải thích này chỉ ở cơ quan có quyền xây dựng pháp luật mới
được làm. Xét thực tế, đó là xây dựng pháp luật chứ không phải
gtpl. Như vậy điều này có thể không đúng với tinh thần mà Hiến
pháp muốn đặt ra cho chủ thể gtpl ở nước ta. Quyền hạn và nhiệm
vụ gtpl chắc chắn phải khác quyền hạn và nhiệm vụ ban hành pháp
luật. Từ “giải thích” trong Hiến pháp, dù không được định nghĩa
nhưng chắc hẳn không thể bao hàm cả nghĩa làm luật, xây dựng
pháp luật. Gtpl không thể là xác lập quy phạm mới mà phải là xác
định nghĩa của quy phạm đã có rồi.
Tóm lại, Việt Nam đã tổ chức hoạt động gtpl theo mô hình
cơ quan Lập pháp gtpl. Chủ thể gtpl chính thức ở Việt Nam là
UBTVQH. UBTVQH đã thực hiện công việc giải thích pháp luật
“chưa được nhiều” – nội dung các lần giải thích (trong Luận án có
kể đến 6,7 lần) thì chủ yếu là quy định thêm, quy định bổ sung –
5/7 lần.
21
3.3. Vấn đề giải thích pháp luật của Tòa án
3.3.1. Thực tế “giải thích pháp luật” của Tòa án
- Tòa án đã “giải thích pháp luật” qua việc ban hành
Trong loại văn bản áp dụng pháp luật này, có thể thấy
TANDTC đã tiến hành gtpl qua việc nhận định, lập luận về các
quy phạm pháp luật liên quan để phục vụ cho việc ra phán
quyết của tòa án.
+ “Giải thích pháp luật” của Tòa án còn thể hiện trong
các Báo cáo tổng kết công tác xét xử hằng năm của Tòa án
nhân dân Tối cao
Báo cáo của các Tòa thuộc TANDTC là những đúc kết
việc xét xử, giải quyết các vụ việc trong quá trình hoạt động
hằng năm của Tòa. Trong Báo cáo còn là các vụ việc chưa giải
quyết hoặc các vấn đề còn chưa thống nhất trong quá trình xét
xử, những lập luận, diễn giải nhằm xác định chính xác các quy
phạm pháp luật, hoặc đưa ra phương thức xử lý vấn đề đang
chờ sự quyết định từ phía TANDTC chính là những biểu hiện
rõ nét của việc gtpl trong năm đó của các Tòa trong quá trình
hoạt động.
23
Mảng gtpl này của tòa án, về lý thuyết, không phải là
gtpl chính thức, nhưng trong thực tế nó đã có ảnh hưởng mạnh
đến việc thực thi và áp dụng pháp luật của các chủ thể liên
quan, nhất là các tòa án cấp dưới, đồng thời, phần nào có tác
động mang tính định hướng cho TANDTC khi ban hành các
văn bản hướng dẫn theo thẩm quyền hoặc khi trả lời bằng công
văn khi các Tòa chuyên trách thuộc TANDTC xin ý kiến.
- Tòa án đã gtpl trong quá trình xét xử: Gtpl thực tế là
không tránh khỏi trong quá trình xét xử của các tòa án nhân
dân, đặc biệt là Tòa án TANDTC, Hội đồng thẩm phán
TANDTC. Những gtpl này đã giải quyết và tìm được giải pháp
cho nhiều vấn đề mà trước đó chưa có hướng dẫn, thống nhất.
của án lệ. Nhiều Quyết định giám đốc thẩm, so với các án lệ ở
các nước trên thế giới, rõ ràng có sự giống nhau, tức là đều tạo
ra tiền lệ về cách giải quyết những vụ việc tương tự về sau. Các
dấu hiệu khá rõ ràng của án lệ biểu hiện qua những phân tích ở
phần trên, cộng với quy định về nhiệm vụ “phát triển án lệ” của
TANDTC được ghi nhận tại Nghị quyết số 49/NQ/TW của Bộ
Chính trị năm 2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 có thể kết luận rằng, chắc chắn, trong tương lai, án lệ sẽ
25
có vị trí và vai trò chính thức trong hoạt động xét xử của Tòa án
Việt Nam.
Tuy nhiên, vì không có thẩm quyền chính thức trong
việc gtpl, nên việc gtpl của Tòa án vừa không có điều kiện để
phát triển, vừa không được kiểm soát. Việc đáp ứng nhu cầu
gtpl một cách tự nhiên, “tự nguyện” của Tòa án đặt ra những
vấn đề lớn cho lý thuyết giải thích pháp luật ở Việt Nam.
3.4. Vấn đề “giải thích pháp luật” của Chính phủ, các
bộ,…
Chính phủ, các bộ, cũng không có thẩm quyền gtpl, tuy
nhiên, theo dõi trong các văn bản quy định chi tiết thi hành luật,
pháp lệnh được ban hành theo thẩm quyền của các chủ thể này
thấy có khá nhiều nội dung diễn giải, nhằm làm cho pháp luật
được hiểu rõ hơn. Thực tế này đã tác động lên nhiều mặt của
đời sống pháp lý.
3.4.1. Thực tế “giải thích pháp luật” của Chính phủ,
các Bộ,
- “Giải thích pháp luật” của Chính phủ: Phổ biến nhất
là hình thức diễn giải tại các Nghị định của Chính phủ để quy
định chi tiết Luật, Pháp lệnh. Trong Nghị định của Chính phủ