đề tài nghiên cứu: ÁP DỤNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 12

1
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY MÃ SỐ: LH – 08 – 08/ĐHL
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS. NGUYỄN THỊ HỒI HÀ NỘI - 2009

2
NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

giới thiệu một cách khái quát trong giáo trình Lý luận chung về nhà nước và
pháp luật, các giáo trình của các môn khoa học pháp lý chuyên ngành và một số
công trình nghiên cứu chuyên biệt, vì vậy, một số vấn đề lý luận về áp dụng
pháp luật chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, thấu đáo và toàn diện.
Thứ hai, thực tiễn áp dụng pháp luật ở nước ta thời gian vừa qua cho thấy
hoạt động này đã đạt được khá nhiều thành tựu, song vẫn còn nhiều hạn chế cần
khắc phục. Nghiên cứu về thực tiễn áp dụng pháp luật trong một số lĩnh vực cụ
thể vừa góp phần làm sáng tỏ và hoàn thiện lý luận, vừa có thể chỉ ra được
những điểm bất cập trong các quy định của pháp luật, những hạn chế trong quá
trình tổ chức thực hiện các quy định đó, từ đó góp phần hoàn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả của nó.
Thứ ba, ở nước ta hiện nay, pháp luật đã trở thành một trong những công
cụ có hiệu quả nhất để Nhà nước quản lý xã hội. Song pháp luật chỉ thể hiện
được vai trò đó của mình khi nó được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và đặc
biệt là được áp dụng một cách đúng đắn, chính xác. Kết quả áp dụng pháp luật
để giải quyết các vụ việc xảy ra trong thực tế có đúng đắn, chính xác hay có
thấu tình đạt lý hay không chủ yếu phụ thuộc vào sự hiểu biết pháp luật và thái
độ tôn trọng, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền
áp dụng. Trong khi đó trường ta là một cơ sở đào tạo cán bộ pháp lý lớn nhất
của cả nước, sinh viên, học viên của trường ta sau khi tốt nghiệp phần lớn trở
thành người áp dụng pháp luật trong thực tế, chính vì vậy, việc cung cấp cho
người học những kiến thức cơ bản và cụ thể về áp dụng pháp luật là hoàn toàn
cần thiết. Để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường, việc tổng hợp,
trình bày một cách có hệ thống các kiến thức lý luận về áp dụng pháp luật và
thực tiễn áp dụng pháp luật trong một số lĩnh vực cụ thể trong một công trình
nghiên cứu để có thêm tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy và học tập ở
trường ta hiện nay là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa thiết thực.
Ý thức được tất cả những lý do trên nên chúng tôi đã chọn và nghiên cứu
đề tài Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu

như công trình này, tức là chưa có công trình nghiên cứu nào tiếp cận vấn đề áp
dụng pháp luật như cách tiếp cận của công trình này.
3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin về nhà nước và pháp luật mà chủ yếu là trên cơ sở quan điểm duy vật và
phép biện chứng. Đồng thời đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ
thể như: thu thập tài liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học, giải
thích pháp luật…
4. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm các mục đích sau:
- Làm sáng tỏ thêm và hoàn thiện thêm một số vấn đề lý luận chung về
áp dụng pháp luật.
.
- Làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến lý luận và thực tiễn áp dụng
pháp luật trong một số lĩnh vực cụ thể ở nước ta hiện nay, những thành tựu đạt
được, những hạn chế còn tồn tại, thông qua đó có thể giúp cho việc hiểu một
cách đầy đủ, toàn diện về áp dụng pháp luật, đồng thời chỉ ra những ưu điểm
của hoạt động này để phát huy và những điểm hạn chế, bất cập trong các quy
5
định của pháp luật cũng như thực tế thực hiện các quy định đó để khắc phục
nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật nước ta hiện nay.
- Cung cấp thêm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập của giáo
viên và sinh viên các trường luật cũng như cho các cơ quan, nhân viên nhà nước
có thẩm quyền trong quá trình giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực
tế.
5. Phạm vi nghiên cứu
Áp dụng pháp luật là vấn đề có nội dung khá rộng và phức tạp nên không
thể trình bày được tất cả các vấn đề về nó trong một công trình nghiên cứu, nhất
là một công trình nghiên cứu khoa học cấp trường. Vì vậy, đề tài chỉ tập trung
nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về áp dụng pháp luật, lý luận và thực

1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
1.1. KHÁI NIỆM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
Chúng ta đều biết áp dụng pháp luật là một trong các hình thức thực hiện
pháp luật, do vậy, việc xem xét khái niệm áp dụng pháp luật phải được bắt đầu
từ việc xem xét khái niệm thực hiện pháp luật. Trong thực tế cuộc sống hiện
đại, thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu và thậm chí là hoạt động
cực kỳ quan trọng vì nó có vai trò hiện thực hoá các quy định của pháp luật,
biến các quy định ấy từ trong văn bản thành cách xử sự thực tế hợp pháp của
các chủ thể khi tham gia vào những quan hệ pháp luật cụ thể. Thông qua hoạt
động thực hiện pháp luật, mục đích của nhà nước khi ban hành pháp luật được
hiện thực hoá, nhờ đó nhà nước có thể điều hành và quản lý xã hội, có thể thiết
lập và giữ gìn trật tự xã hội trong những lĩnh vực nhất định. Do tầm quan trọng
như vậy mà thực hiện pháp luật trở thành một trong những khái niệm cơ bản
của khoa học pháp lý, được đề cập đến trong các giáo trình Lý luận chung về
nhà nước và pháp luật của các cơ sở đào tạo luật học. Trong một số giáo trình,
cách diễn đạt về khái niệm này hoàn toàn trùng khớp với nhau. Ví dụ, cả Giáo
trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội lẫn Giáo
trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Khoa Luật, Đại học Quốc gia
Hà Nội đều cùng một quan niệm rằng: “Thực hiện pháp luật là một quá trình
hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống,
trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật”
1
. Quan
niệm này gần như đã được coi là “chân lý” vì nó đã tồn tại và được sử dụng
trong một thời gian khá dài. Tuy nhiên, chưa thể nói đây là một định nghĩa hoàn
thiện về thực hiện pháp luật bởi hai lý do.
Thứ nhất, không phải hành vi thực hiện pháp luật nào cũng phải là một
quá trình hoạt động. Theo tiếng Việt, quá trình có thể được hiểu là “Trình tự
phát triển, diễn biến của một sự việc nào đó”

biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc do sợ bị áp dụng những biện pháp đó”
4
.
Có thể thấy, trong các trường hợp được nêu trên thì chỉ hành vi hợp pháp
được thực hiện trên cơ sở nhận thức sâu sắc của chủ thể là cần thiết phải xử sự
như vậy mới có thể được coi là có mục đích làm cho những quy định của pháp
luật đi vào cuộc sống, còn những hành vi hợp pháp được thực hiện trong trường
hợp chủ thể chưa hoặc không nhận thức được tại sao phải làm như vậy hoặc do
kết quả của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc do sợ bị áp
dụng các biện pháp đó thì không thể được coi là có mục đích đưa các quy định
của pháp luật đi vào cuộc sống. Do vậy, định nghĩa thực hiện pháp luật nêu trên
chỉ phù hợp với hình thức áp dụng pháp luật mà chưa hoàn toàn phù hợp với
các hình thức thực hiện pháp luật khác. Vậy nên quan niệm về thực hiện pháp
luật như thế nào cho phù hợp?
Chúng tôi cho rằng có thể xây dựng khái niệm thực hiện pháp luật xuất
phát từ nghĩa của từ thực hiện trong tiếng Việt và theo cách xây dựng khái niệm
vi phạm pháp luật - một khái niệm hầu như không còn sự tranh cãi bởi vì nó đã
được thừa nhận bởi đa số các nhà nghiên cứu về vấn đề này. Ở Việt Nam, từ
thực hiện có thể được hiểu theo nghĩa là “Làm cho thành ra sự thực”
5
, hoặc
“Bằng hoạt động làm cho trở thành sự thật…”
6
. Trên cơ sở các quan niệm này
thì có thể hiểu thực hiện pháp luật là làm cho pháp luật trở thành sự thực hay
làm cho các quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống. Vì thế,
thực hiện pháp luật phải là hành vi hợp pháp, tức là hành vi hoàn toàn phù hợp
với các yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật. Tuỳ theo yêu cầu của mỗi quy định của
pháp luật mà việc thực hiện nó có thể là bằng hành động hoặc bằng không hành
động, cụ thể, việc thực hiện những quy phạm cấm đoán đương nhiên là bằng

không có giá trị gì.
Các hành vi hợp pháp được thực hiện bởi các chủ thể có khả năng nhận
thức có thể vì nhiều lý do, có thể là vì chủ thể ý thức được đó là yêu cầu của
pháp luật nên tự giác thực hiện, có thể là do bắt chước người khác, có thể là do
bị bắt buộc, có thể là do sợ bị trừng phạt… Các hành vi hợp pháp của các chủ
thể cũng có thể được thực hiện nhằm nhiều mục đích khác nhau, có thể nhằm
thoả mãn một nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của mình, có thể nhằm nâng cao
trình độ học vấn, có thể nhằm kiếm được việc làm tốt… Nhìn chung, trong quá
trình soạn thảo và ban hành các quy định của pháp luật, các nhà làm luật chủ
yếu quan tâm đến việc tìm kiếm những cách xử sự có lợi cho xã hội, cách xử sự
cần phải có nhằm thiết lập trật tự xã hội trong những lĩnh vực nhất định để yêu
cầu hoặc đòi hỏi các chủ thể trong xã hội phải xử sự theo; đồng thời tìm ra
những cách xử sự có hại cho xã hội để mà ngăn cấm thực hiện. Mục đích cuối
cùng của công cuộc tìm kiếm này là có thể điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm
thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội theo chiều hướng mà nhà nước mong muốn.
Còn lý do và mục đích thực hiện pháp luật của các chủ thể cụ thể có lẽ họ
không quan tâm nhiều. Vì vậy, có thể hiểu một cách ngắn gọn và đơn giản
rằng: thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) hợp
pháp của chủ thể có năng lực hành vi pháp luật.
Trên cơ sở quan niệm trên, ta thấy, thực hiện pháp luật có một số dấu
hiệu cơ bản sau đây:
Trước hết, thực hiện pháp luật phải là hành vi xác định hay xử sự
thực tế của con người.
Chúng ta đều biết nhà nước đặt ra pháp luật là để điều chỉnh các quan hệ
xã hội theo chiều hướng mà nó mong muốn. Tất cả các quan hệ xã hội đều
được thể hiện thông qua cách xử sự của người ta với nhau, vì thế, bằng cách
quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể tham gia vào một quan hệ
xã hội nhất định, nhà nước có thể tác động lên các quan hệ xã hội, điều chỉnh
chúng theo chiều hướng nhà nước mong muốn. Do đó, pháp luật chỉ điều chỉnh
hành vi hay xử sự của con người mà không thể điều chỉnh suy nghĩ hay tư

chính mình xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình.
Như trên đã nói, pháp luật chỉ có thể điều chỉnh xử sự của các chủ thể có
khả năng nhận thức, với các chủ thể không có khả năng nhận thức thì các quy
định của pháp luật hoàn toàn vô tác dụng. Song không phải tất cả các chủ thể có
khả năng nhận thức đều có thể được coi là có năng lực hành vi pháp luật, một
chủ thể cụ thể chỉ có thể được coi là có năng lực hành vi pháp luật khi có đủ
những điều kiện nhất định. Điều kiện này là khác nhau đối với các loại chủ thể
khác nhau. Đối với chủ thể là tổ chức thì sẽ có năng lực hành vi pháp luật từ khi
nó được thành lập hoặc được công nhận. Còn đối với chủ thể là cá nhân thì điều
kiện đó là độ tuổi và khả năng nhận thức của chủ thể. Độ tuổi đó là khác nhau
trong mỗi trường hợp cụ thể tuỳ theo quy định của pháp luật. Trong nhiều quan
hệ pháp luật, cá nhân sẽ được coi là có năng lực hành vi pháp luật khi họ đủ 6
tuổi trở lên và trí tuệ phát triển bình thường. Bởi vì, những người này đã có khả
năng xác lập và thực hiện một số quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định. Ví dụ,
thực hiện quyền và nghĩa vụ của một học sinh lớp một, mua quà sáng… Song
có những quan hệ pháp luật, độ tuổi đó phải là cao hơn, ví dụ trong quan hệ bầu
cử, ứng cử, kết hôn…
Nhìn chung, yêu cầu của nhà nước đối với các chủ thể được thể hiện
trong các quy định của pháp luật là khá đa dạng nên cách thức thực hiện các

7
C. Mác – Ăngghen Tuyển tập, Tập 1. Nxb. Sự thật, Hà Nội – 1980, tr. 19.
11
quy định đó cũng khác nhau, có thể là bằng hành động tích cực của chủ thể,
song cũng có thể là bằng không hành động. Vì vậy, trong các giáo trình Lý luận
nhà nước và pháp luật, các tác giả đã căn cứ vào yêu cầu của các quy phạm
pháp luật mà chia thực hiện pháp luật thành bốn hình thức là tuân theo pháp
luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.
a. Tuân theo (tuân thủ) pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật
trong đó các chủ thể kiềm chế, giữ mình để không thực hiện những hành vi mà

1.2. KHÁI NIỆM ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
Trong bốn hình thức thực hiện pháp luật là tuân theo, thi hành, sử dụng
và áp dụng pháp luật thì áp dụng pháp luật là hình thức cơ bản, chủ yếu và quan
trọng nhất, phần lớn các quy định của pháp luật chỉ có thể được thực hiện trong
thực tế thông qua hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền. Vì vậy, hình thức
này cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện hơn và sâu sắc hơn các hình
thức khác. Phần sau đây sẽ đề cập đến khái niệm và các đặc điểm của nó.
12
Theo Từ điển Black
/
s Law, từ áp dụng (apply) có thể được hiểu theo
nghĩa đưa vào sử dụng với một vụ việc của một chủ thể riêng biệt (áp dụng
pháp luật trong thực tế)
8
. Trong tiếng Việt, từ áp dụng có thể được hiểu là
“Đem dùng trong thực tế điều đã nhận thức được”
9
. Từ các cách hiểu về từ áp
dụng trong hai từ điển trên, có thể hiểu một cách nôm na rằng áp dụng pháp luật
là đem pháp luật ra dùng trong thực tế. Nếu hiểu theo cách này thì áp dụng pháp
luật có thể dùng để chỉ tất cả các hình thức thực hiện pháp luật mà không phải là
một hình thức thực hiện pháp luật cụ thể. Trong thực tế đã có nhà nghiên cứu sử
dụng thuật ngữ áp dụng pháp luật theo nghĩa này.
Trong các sách báo pháp lý của Việt Nam, khái niệm áp dụng pháp luật
được đề cập đến trong nhiều tác phẩm với nội dung có những điểm khác nhau
nhất định. Đa số các nhà nghiên cứu coi áp dụng pháp luật chỉ là một trong các
hình thức thực hiện pháp luật, song có nhà nghiên cứu lại coi áp dụng pháp luật
đồng nghĩa với thực hiện pháp luật, tức là bao gồm tất cả cá hình thức thực hiện
pháp luật
10

s Law Dictionary. Seventh Edition. Bryan A. Garner, Editor in chief. West group. ST. Paul, Minn.,
1999, tr. 96
9
Từ điển tiếng Việt. Viện ngôn ngữ học, sđd, tr. 9.
10
Xem Chuyên đề 2 của Đề tài này.
13
dân mới có quyền xem xét để cấp giấy khai sinh cho trẻ em, cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng; chỉ có các cơ sở đào tạo mới có
quyền tổ chức tuyển sinh, đào tạo và cấp bằng cho người học… Chủ thể tiến
hành áp dụng pháp luật chủ yếu là các cơ quan, tổ chức nhà nước, song cũng có
thể là chủ thể được Nhà nước trao quyền hoặc cho phép. Ví dụ, các trường dân
lập cũng được Nhà nước cho phép áp dụng pháp luật trong việc tổ chức tuyển
sinh, đào tạo và cấp Bằng tốt nghiệp cho người học, trong trường hợp này, có
thể hiểu các trường dân lập cũng là những chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp
luật bởi vì họ đã được Nhà nước trao quyền hoặc cho phép áp dụng pháp luật.
+ Trong quá trình áp dụng pháp luật, chủ thể có thẩm quyền áp dụng có
thể nhân danh quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để ban hành ra
những mệnh lệnh, quyết định có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện
đối với các tổ chức và cá nhân có liên quan. Các mệnh lệnh, quyết định này
luôn thể hiện ý chí đơn phương của chủ thể có thẩm quyền áp dụng mà không
phụ thuộc vào ý chí của chủ thể là đối tượng áp dụng. Tuy nhiên, cần lưu ý
rằng, ý chí đơn phương của chủ thể có thẩm quyền không thể là ý chí cá nhân,
tuỳ tiện của người áp dụng mà phải là ý chí được xây dựng trên cơ sở pháp luật,
căn cứ vào pháp luật và phù hợp với pháp luật. Ví dụ, các thí sinh tham dự kỳ
thi tuyển sinh ai cũng muốn trúng tuyển và được gọi nhập học, song cơ sở đào
tạo lại phải căn cứ vào quy định của pháp luật để quyết định những người trúng
tuyển và được gọi nhập học; hoặc

sau khi nhận được hồ sơ của người sử dụng

vậy, để đảm bảo tính đúng đắn, chính xác của quá trình áp dụng pháp luật, hoạt
động này không thể được tiến hành một cách tuỳ tiện mà phải theo những trình
tự, thủ tục và trên cơ sở những điều kiện rất chặt chẽ do pháp luật quy định.
Đương nhiên, trình tự, thủ tục đó không thể như nhau trong tất cả các vụ việc
mà nó sẽ khác nhau từ vụ việc này sang vụ việc khác tuỳ theo tính chất của vụ
việc. Ví dụ, trình tự, thủ tục xem xét để cấp Đăng ký kết hôn sẽ khác với trình
tự, thủ tục công nhận tốt nghiệp cho người học, càng khác với trình tự, thủ tục
xử phạt vi phạm hành chính…
Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối
với các quan hệ xã hội hay là hoạt động nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp
luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.
Các quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự chung nên không chỉ rõ
chủ thể cụ thể và trường hợp cụ thể cần áp dụng. Khi một quy phạm nào đó
được áp dụng vào việc giải quyết một vụ việc thực tế của một chủ thể cụ thể thì
có nghĩa là quy phạm đó đã được cá biệt hoá vào trường hợp của chủ thể đó. Ví
dụ, quyết định tuyển dụng một người nào đó làm giáo viên của Trường Đại học
Luật Hà Nội là sự cá biệt hoá quy phạm về quyền và nghĩa vụ lao động của
công dân vào trường hợp của người được tuyển dụng. Tuy nhiên, cần lưu ý
rằng, các quy phạm được áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc thực tế, cụ thể
hay được cá biệt hoá phải là các quy phạm pháp luật hiện hành hay các quy
phạm đang còn hiệu lực pháp lý. Vì vậy, khi tiến hành áp dụng pháp luật, chủ
thể có thẩm quyền không thể lựa chọn và áp dụng các quy phạm pháp luật đã
hết hiệu lực
.
Các đặc điểm trên làm cho áp dụng pháp luật khác hoàn toàn với các hình
thức thực hiện pháp luật khác, bởi lẽ, chủ thể của các hình thức tuân theo, thi
hành, sử dụng pháp luật có thể là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào trong xã hội; trong
khi đó, chủ thể tiến hành áp dụng pháp luật chỉ có thể là chủ thể có thẩm quyền
theo quy đinh của pháp luật. Khi tuân theo, thi hành hoặc sử dụng pháp luật, chủ
thể có thể không cần dưa ra một quyết định pháp lý nào và cũng có thể không bị

Nếu xem xét một cách chi tiết, cụ thể trong thực tế cuộc sống thì sẽ có vô
vàn trường hợp cần áp dụng pháp luật, bởi lẽ, pháp luật được ban hành để điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong nhiều lĩnh vực của đời sống, từ dân sự,
hình sự đến hôn nhân và gia đình, tài chính, đất đai… Song nếu khái quát lại để
xem xét về mặt lý luận thì có thể thấy, hoạt động áp dụng pháp luật được tiến
hành trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, khi quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt.
Xem xét nội dung các quy định cụ thể của pháp luật, ta thấy, mặc dù
trong nhiều quy phạm pháp luật đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý cho
các chủ thể, song các chủ thể không thể tự mình thực hiện được các quyền và
nghĩa vụ đó mà cần phải có sự can thiệp của nhà nước thông qua hoạt động của
các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền. Ví dụ, trong Hiến pháp và
luật đã thừa nhận quyền và nghĩa vụ học tập cho công dân, song công dân chỉ
có thể thực hiện dược quyền và nghĩa vụ ấy khi được gọi nhập học và theo học
trong một cơ sở đào tạo nào đó. Chính hoạt động chiêu sinh và tổ chức đào tạo
của các cơ sở đào tạo đã giúp cho công dân thực hiện được quyền và nghĩa vụ
học tập của mình. Tương tự như vậy, nếu một người nào đó không được bổ
nhiệm vào một chức vụ cao hơn trong cơ quan thì quan hệ pháp luật giữa người
đó với cơ quan không hề thay đổi. Kể từ thời điểm có quyết định bổ nhiệm của
người có thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ pháp lý của người được bổ nhiệm với
cơ quan đã có sự thay đổi so với trước. Nếu không có quyết định cho nghỉ hưu
của cơ quan thì quan hệ pháp luật lao động giữa một người nào đó với cơ quan
vẫn chưa chấm dứt. Như vậy, có thể thấy, nếu không có sự can thiệp của một cơ
quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thì nhiều
16
quan hệ pháp luật cụ thể không thể phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt. Chính
hoạt động áp dụng pháp luật của chủ thể có thẩm quyền đó sẽ làm phát sinh,
thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật.
Thứ hai, khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các

Trong đời sống xã hội, mỗi người đều có và đều quan tâm đến lợi ích
riêng của mình và những lợi ích chính đáng sẽ được nhà nước bảo hộ. Tuy
nhiên, có những trường hợp đặc biệt, để bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội,
của cả cộng đồng, nhà nước buộc phải xâm hại đến lợi ích riêng của những chủ
thể nhất định. Để bảo đảm tính đúng đắn, hợp tình, hợp lý của sự “xâm hại” đó,
nhà nước phải quy định cụ thể trong pháp luật các biện pháp “xâm hại”, chủ thể,
điều kiện, trình tự, thủ tục để áp dụng các biện pháp đó. Khi một chủ thể cụ thể
nào đó bị áp dụng một trong các biện pháp đó có nghĩa là họ đã phải gánh chịu
sự cưỡng chế của nhà nước, họ đã phải chịu những sự thiệt hại nhất định mặc
dù họ không vi phạm pháp luật mà hoàn toàn chỉ vì lợi ích chung của xã hội,
của cộng đồng. Ví dụ, để phục vụ cho việc xây dựng các công trình công cộng,
cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã phải ra quyết định thu hồi đất của các chủ
17
thể đang có quyền sử dụng hợp pháp trên diện tích đất đó, và đương nhiên, các
chủ thể đang sử dụng phải giao lại đất đó cho nhà nước và nhận sự đền bù của
nhà nước.
Thứ năm, khi cần áp dụng các hình thức khen thưởng đối với các chủ
thể có thành tích theo quy định của pháp luật.
Pháp luật của các nhà nước đương đại không chỉ quy định các biện pháp
trừng phạt đối với các chủ thể vi phạm pháp luật mà còn quy định nhiều hình
thức khen thưởng đối với các chủ thể có thành tích trong những hoạt động nhất
định hoặc trong việc thực hiện pháp luật. Mục đích của việc quy định các biện
pháp đó là nhằm đền đáp công ơn của những người có công với đất nước, với
xã hội; để khuyến khích, động viên các chủ thể nhiệt tình công tác, phấn đấu đạt
được thành tích tốt nhất trong hoạt động của mình cũng như để khuyến khích
các chủ thể tự giác thực hiện tốt pháp luật, làm cho pháp luật được thực hiện
một cách nghiêm chỉnh, tự giác hơn. Vì thế, ở Việt Nam, bên cạnh Bộ luật hình
sự và Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính còn có Luật thi đua, khen thưởng, và
trong đa số các văn bản quy phạm pháp luật đều có quy định việc khen thưởng
những người thực hiện tốt những quy định trong văn bản trước khi quy định

Như trên đã nói, hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành dựa trên
những qui định của pháp luật và trải qua các giai đoạn có nội dung cụ thể và
trình tự thủ tục khác nhau. Các giai đoạn hay trình tự, thủ tục đó được khoa học
và thực tiễn pháp lý gọi là qui trình áp dụng pháp luật.
1.3.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại qui trình áp dụng pháp luật
Trong tiếng Hán thì “qui” cũng có nghĩa là trù tính, dự liệu, còn “trình”
có nghĩa là đường đi, cách thức; nghĩa là thứ tự các bước tiến hành trong một
hoạt động nào đó. Theo từ điển tiếng Việt, quy trình là các bước, trình tự phải
tuân theo khi tiến hành công việc nào đó
11
.
Áp dụng pháp luật là một qui trình
bao gồm nhiều hoạt động có mối liên hệ hữu cơ với nhau, do các chủ thể có
thẩm quyền tiến hành theo qui định của pháp luật nhằm cá biệt hoá chế tài pháp
luật hoặc cá thể hoá quyền nghĩa vụ pháp lý đối với chủ thể. Do pháp luật điều
chỉnh đa dạng các lĩnh vực nên việc áp dụng pháp luật cũng rất đa dạng. Trên
thực tế, sự khác biệt về nội dung, yêu cầu ở các lĩnh vực điều chỉnh của pháp
luật đã đem lại sự khác biệt nhất định về quá trình thực thi và áp dụng pháp luật.
Không thể có qui trình áp dụng pháp luật chung cho mọi lĩnh vực, mọi quan hệ
xã hội.
Tóm lại, qui trình áp dụng pháp luật là trình tự, thủ tục tiến hành các
hoạt động có mối liên hệ hữu cơ, thống nhất với nhau do các chủ thể có thẩm
quyền thực hiện nhằm hiện thực hoá nội dung các qui định pháp luật trong đời
sống khi giải quyết các vụ việc pháp lý cụ thể.
Qui trình áp dụng pháp luật có các đặc điểm cơ bản sau:
- Qui trình áp dụng pháp luật do pháp luật qui định
Áp dụng pháp luật là một hoạt động đặc thù của nhà nước trong quản lý
xã hội. Áp dụng pháp luật mang tính quyền lực nhà nước. Toàn bộ các hoạt
động, các bước (hay giai đoạn) của qui trình áp dụng pháp luật do pháp luật qui
định. Các hoạt động trong quá trình áp dụng pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ,

nước hoặc được phép sử dụng quyền lực nhà nước, chủ thể này trực tiếp tiến
hành hoạt động áp dụng pháp luật, có vai trò quyết định trong quá trình áp dụng
pháp luật và là chủ thể có quyền đưa ra quyết định áp dụng pháp luật để giải
quyết vụ việc. Chủ thể đó chủ yếu là các cơ quan, tổ chức nhà nước hoặc các cá
nhân đảm trách nhiệm vụ trong các cơ quan, tổ chức đó tiến hành, song cũng có
thể do các cơ quan, tổ chức được nhà nước cho phép hoặc trao quyền tiến hành.
Ví dụ, các cơ sở đào tạo do Nhà nước thành lập hoặc cho phép thành lập đều có
thể áp dụng pháp luật trong việc tổ chức tuyển sinh, đào tạo, công nhận tốt
nghiệp và cấp bằng cho người học.
Các hoạt động áp dụng pháp luật đa dạng và cần được đảm bảo bởi sức
mạnh quyền lực nhà nước thì các chủ thể có liên quan mới tôn trọng thực thi
một cách hợp pháp.
Qui trình áp dụng pháp luật có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí
khác nhau.
- Dựa trên nội dung thực tế của hoạt động áp dụng pháp luật có thể phân
thành qui trình truy cứu trách nhiệm pháp lý và qui trình cá thể hoá quyền,
nghĩa vụ pháp lý. Qui trình truy cứu trách nhiệm pháp lý là các bước tiến hành
tố tụng bao gồm nhiều hoạt động do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành nhằm
cá biệt hoá chế tài pháp luật, áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với chủ thể
vi phạm pháp luật. Truy cứu trách nhiệm pháp lý là hoạt động được thực hiện
bởi nhiều chủ thể khác nhau do đó, mỗi chủ thể tham gia vào một khâu nhất
định trong các giai đoạn của qui trình đó. Chẳng hạn, để truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người phạm tội cần trải qua các giai đoạn như khởi tố, điều tra,
truy tố và xét xử. Các giai đoạn đó được quyết định bởi các chủ thể có thẩm
quyền tiến hành tố tụng hình sự như công an, viện kiểm sát, tòa án và có nhiều
cơ quan, cá nhân khác tham gia tố tụng. Qui trình cá thể hóa quyền, nghĩa vụ
pháp lý có sự khác biệt với qui trình truy cứu trách nhiệm pháp lý là nó không
liên quan đến vi phạm pháp luật mà đơn thuần chỉ xác định nội dung, phạm vi
quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật mà thôi.
- Dựa trên trình tự, thủ tục tiến hành hoạt động cụ thể trên thực tế có thể

ra cản trở quá trình áp dụng pháp luật trên thực tế. Nhìn chung, việc áp dụng
pháp luật phải hướng tới một sự thuận lợi, tiết kiệm về chi phí thời gian, sức
lực, vật chất và đạt hiệu quả cao nhất cho các bên có liên quan. Do đó, giai
đoạn đầu trong áp dụng pháp luật bao giờ cũng đòi hỏi cần phải chuẩn bị một
phương án chi tiết, tỷ mỷ cả về nội dung, hình thức cũng như phương thức,
lịch trình tiến hành. Về nguyên tắc, chỉ có khẳng định được là hoàn toàn có cơ
sở và đủ điều kiện để tiếp tục áp dụng pháp luật trên thực tế mới cho phép
chuyển sang giai đoạn sau. Nếu thấy chưa đủ điều kiện hoặc không cần thiết
phải tiếp tục áp dụng pháp luật thì các chủ thể có thẩm quyền ra quyết định
tạm đình chỉ hoặc chấm dứt việc áp dụng pháp luật.
b. Lựa chọn qui phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc đưa ra các
quyết định áp dụng pháp luật.
Đây là giai đoạn quan trọng trong qui trình áp dụng pháp luật vì nếu
không đưa ra cơ sở pháp lý có sức thuyết phục, phù hợp sẽ ảnh hưởng trực tiếp
đến các giai đoạn sau và đến kết quả của quá trình áp dụng. Ở đây cần phải
hiểu, có hai loại qui phạm pháp luật cùng có liên quan đến việc đưa ra quyết
định áp dụng pháp luật, đó là qui phạm nội dung và qui phạm hình thức hay qui
21
phạm thủ tục. Các qui phạm nội dung xác định nội dung cần áp dụng, điều
chỉnh pháp luật. Về nguyên tắc, cần phải chọn qui phạm pháp luật còn hiệu lực
và sát thực với nội dung sự kiện, quan hệ cụ thể đó. Cần làm rõ qui phạm pháp
luật đó thuộc ngành luật nào sau đó phân tích, làm sáng tỏ nội dung của qui
phạm đã lựa chọn để có thể hiểu được một cách đầy đủ các khía cạnh nhận thức
về nội dung của qui phạm đó đối với quá trình áp dụng pháp luật trên thực tế.
Các qui phạm hình thức hay qui phạm thủ tục có nhiệm vụ qui định trình tự, thủ
tục của qui trình áp dụng pháp luật.
Tuy nhiên, trên thực tế việc lựa chọn qui phạm pháp luật có thể xảy ra
các khả năng như:
- Có một qui phạm pháp luật đáp ứng đủ yêu cầu để làm cơ sở pháp lý
cho việc áp dụng. Đây là điều rất thuận lợi cho các chủ thể có thẩm quyền, giúp

ngoại là sự khác biệt khi có các qui định pháp luật của hai hoặc nhiều hệ thống
pháp luật có liên quan đưa ra cách thức giải quyết khác nhau về cùng một sự
22
việc, một quan hệ. Tính phức tạp ở đây còn cao hơn bởi sự khác biệt có yếu tố
nước ngoài và rộng hơn là giữa cả các nền văn hoá pháp lý. Đối với trường hợp
này, cách thức xử lý trước hết dựa vào sự thoả thuận về khả năng lựa chọn qui
định của một hệ thống pháp luật nằm trong các nước có xung đột. Nếu không
được cần sử dụng các thoả thuận trong các hiệp định về tư pháp song phương
hoặc đa phương (nếu đã ký kết) giữa các quốc gia có xung đột đó. Một số
trường hợp cần đi đến giải pháp cuối cùng để có thể đưa ra quyết định áp dụng
pháp luật được là phải nhờ đến phán quyết của trọng tài quốc tế hoặc toà án
quốc tế.
- Không có qui phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng pháp
luật đối với sự kiện, quan hệ đó. Đây là thực trạng pháp lý có thể xảy ra ở bất cứ
quốc gia nào ngay cả đối với những quốc gia có hệ thống pháp luật hoàn thiện ở
mức độ cao. Thực tiễn pháp lý nước ta có cách giải quyết đối với tình huống
này bằng việc áp dụng pháp luật tương tự.
c. Ra quyết định áp dụng pháp luật để giải quyết vụ việc.

Đây là giai đoạn quan trọng bởi nó phản ánh kết quả thực tế của quá trình
áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền. Về bản chất, đây là giai đoạn
chuyển hóa những qui định chung được nêu ra trong các qui phạm pháp luật
thành những qui định cụ thể, cá biệt. Vì thế, có thể hiểu: Quyết định áp dụng
pháp luật được hiểu là loại quyết định do cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có
thẩm quyền áp dụng pháp luật ban hành theo hình thức, thủ tục do pháp luật
quy định, nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật thành mệnh lệnh pháp luật
áp dụng đối với đối tượng xác định trong trường hợp cụ thể và được nhà nước
bảo đảm thực hiện.
Quyết định áp dụng pháp luật có các đặc điểm sau đây:
* Quyết định áp dụng pháp luật được ban hành bởi cơ quan, tổ chức

khách quan, hợp pháp cũng như sự phù hợp cả về nội dung và hình thức. Sự phù
hợp của quyết định áp dụng pháp luật được đưa ra cần phải xem xét ở cả hai
khía cạnh là pháp lý và thực tế. Theo đó, mức độ cá thể hóa càng chi tiết, sát
thực về nội dung, yêu cầu và đảm bảo khách quan thì quyết định áp dụng pháp
luật càng chính xác, hiệu quả.
Quyết định áp dụng pháp luật có thể được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng
văn bản. Việc các quyết định áp dụng pháp luật được thể hiện bằng lời nói trên
thực tế không phổ biến mà chỉ được dùng

trong một số trường hợp do điều kiện
thực tế không cho phép hoặc không cần ban hành quyết định bằng

văn bản.
Chẳng hạn, người chỉ huy các tàu chiến hoặc máy bay chiến đấu đưa ra quyết
định trong trường hợp khẩn cấp.
Ở nước ta hiện nay, quyết định áp dụng pháp luật chủ yếu được thể hiện
bằng văn bản và nó được gọi là văn bản áp dụng pháp luật. Có thể hiểu, văn bản
áp dụng pháp luật là văn bản do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm
quyền áp dụng pháp luật ban hành theo trình tự, thủ tục, tên gọi luật định,
trong đó có chứa đựng các mệnh lệnh pháp lý cá biệt hoặc xác định rõ quyền và
nghĩa vụ pháp lý cụ thể hoặc các hình thức khen thưởng cụ thể hoặc các biện
pháp cưỡng chế nhà nước cụ thể đối với các chủ thể cụ thể và được Nhà nước
đảm bảo thực hiện.
* Quyết định áp dụng pháp luật được ban hành theo hình thức, thủ tục
pháp luật quy định
Quyết định áp dụng pháp luật thường trực tiếp làm phát sinh những
quyền và nghĩa vụ của các đối tượng có liên quan. Vì vậy, quyết định áp dụng
pháp luật nếu được ban hành kịp thời, đúng đắn thì sẽ bảo vệ kịp thời các quyền
và lợi ích chính đáng đã, đang bị xâm hại hoặc đang bị đe dọa xâm hại, hay tạo
điều kiện đầy đủ cho các đối tượng tác động của quyết định thực hiện các

hoàn toàn phù hợp với những đặc điểm, điều kiện cụ thể của nó trong giới hạn
chung mà pháp luật quy định. Hoạt động áp dụng pháp luật mang tính sáng tạo
rõ rệt, nhưng là sự sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật. Nội dung quyết định áp
dụng pháp luật không được vượt quá phạm vi các quy phạm pháp luật được
chọn để áp dụng. Vì vậy, một vụ việc xảy ra ở những thời điểm khác nhau, đối
với các đối tượng khác nhau thì nội dung quyết định áp dụng có thể khác nhau.
Chẳng hạn, hai người đều thực hiện hành vi vi phạm hành chính cùng loại
nhưng một người thực hiện hành vi với một số tình tiết tăng nặng và một người
thực hiện hành vi không có tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ thì mức phạt tiền
dành cho hai người sẽ khác nhau. Do nội dung quyết định phải phù hợp với
những tình tiết cụ thể của vụ việc được áp dụng nên mỗi quyết định chỉ được áp
dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng nhất định trong một trường
hợp nhất định mà thôi.
* Quyết định áp dụng pháp luật là cơ sở pháp lí để tổ chức thực hiện
pháp luật, là căn cứ để đánh giá năng lực của cơ quan, tổ chức, cá nhân ban
hành quyết định, để kiểm tra, giám sát sự tuân thủ pháp luật của các đối tượng
có liên quan
Đối với các cá nhân, tổ chức không sử dụng quyền lực nhà nước, mặc dù
có tới ba hình thức thực hiện pháp luật (chỉ trừ hình thức áp dụng pháp luật)
như đã nói ở trên nhưng trong nhiều trường hợp các cá nhân, tổ chức không thể
trực tiếp thực hiện pháp luật được mà cần đến sự can thiệp của các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này, các cơ quan, người có thẩm quyền
áp dụng pháp luật đóng vai trò người tổ chức cho các cá nhân, tổ chức đó thực
hiện pháp luật. Trong một số trường hợp khác, cơ quan, người có thẩm quyền
25
phải áp dụng pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp hay giải quyết
các tranh chấp giữa các cá nhân, tổ chức, cơ quan. Bằng việc ban hành quyết
định áp dụng pháp luật, cơ quan, người áp dụng pháp luật quy định các cá nhân,
tổ chức có liên quan có những quyền và nghĩa vụ gì, thời hạn và cách thức thực
hiện các quyền và nghĩa vụ đó, hậu quả của việc không thực hiện các nghĩa vụ

lượng của quyết định áp dụng pháp luật.
d. Tổ chức thực hiện trên thực tế quyết định áp dụng pháp luật đã được
ban hành và đã có hiệu lực pháp lý. Trước hết có thể nói, hiện nay trong khoa
học và thực tiễn pháp lý nước ta còn có ý kiến khác nhau đối với giai đoạn này.
Có ý kiến khẳng định, đây không phải là một giai đoạn trong qui trình áp dụng
pháp luật. Qui trình áp dụng pháp luật có kết quả cuối cùng là đưa ra quyết định
áp dụng pháp luật. Việc tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật không
phải lúc nào cũng là hoạt động có tính liên tục được thực hiện ở cùng chủ thể
đưa ra quyết định đó. Chẳng hạn, toà án xét xử vụ án dân sự và ban hành ra bản
án hoặc quyết định về vụ án đó nhưng việc tổ chức thi hành án lại do cơ quan
thi hành án dân sự thực hiện. Tuy nhiên cũng có quan điểm khác cho rằng, tổ

13
Xem Khoản 5 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự
14
Khoản 3 Điều 56 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status