BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
MÃ SỐ: LH – 08 – 08/ĐHL
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS. NGUYỄN THỊ HỒI
HÀ NỘI - 2009
1
NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
TS. NGUYỄN THỊ HỒI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CỘNG TÁC VIÊN
1. TS. NGUYỄN THỊ VÂN ANH TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ
NỘI
2. TS. NGUYỄN HỒNG BẮC TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ
NỘI
3. TS. NGUYỄN HỮU CHÍ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ
NỘI
4. TS. BÙI THỊ ĐÀO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
5. TS. ĐỖ ĐỨC HỒNG HÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ
NỘI
6. Th.S. TRẦN VŨ HẢI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ
NỘI
7. TS. TRẦN QUANG HUY TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ
NỘI
8. Th.S. PHAN LAN HƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ
NỘI
9. TS. NGÔ THỊ HƯỜNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ
NỘI
Thứ ba, ở nước ta hiện nay, pháp luật đã trở thành một trong những công
cụ có hiệu quả nhất để Nhà nước quản lý xã hội. Song pháp luật chỉ thể hiện
được vai trò đó của mình khi nó được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và đặc
biệt là được áp dụng một cách đúng đắn, chính xác. Kết quả áp dụng pháp luật
để giải quyết các vụ việc xảy ra trong thực tế có đúng đắn, chính xác hay có
thấu tình đạt lý hay không chủ yếu phụ thuộc vào sự hiểu biết pháp luật và thái
độ tôn trọng, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền
áp dụng. Trong khi đó trường ta là một cơ sở đào tạo cán bộ pháp lý lớn nhất
của cả nước, sinh viên, học viên của trường ta sau khi tốt nghiệp phần lớn trở
thành người áp dụng pháp luật trong thực tế, chính vì vậy, việc cung cấp cho
người học những kiến thức cơ bản và cụ thể về áp dụng pháp luật là hoàn toàn
cần thiết. Để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường, việc tổng hợp,
trình bày một cách có hệ thống các kiến thức lý luận về áp dụng pháp luật và
thực tiễn áp dụng pháp luật trong một số lĩnh vực cụ thể trong một công trình
nghiên cứu để có thêm tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy và học tập ở
trường ta hiện nay là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa thiết thực.
Ý thức được tất cả những lý do trên nên chúng tôi đã chọn và nghiên cứu
đề tài Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Áp dụng pháp luật là một trong những vấn đề cơ bản của khoa học pháp
lý nên cũng đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu. Chẳng hạn,
những vấn đề lý luận cơ bản và khái quát về áp dụng pháp luật được đề cập đến
4
trong các giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật dành cho hệ đại học,
trung cấp và trong các giáo trình của các môn khoa học pháp lý chuyên ngành.
Bên cạnh đó, vấn đề này còn được đề cấp đến trong một số công trình nghiên
cứu khác. Chẳng hạn, trong tác phẩm “Những vấn đề lý luận cơ bản về nhà
nước và pháp luật” của Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật do Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1995 và tác phẩm “Những vấn đề lý luận cơ
bản về pháp luật” của Tiến sĩ Đào Trí Úc do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn
áp dụng pháp luật..
- Làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến lý luận và thực tiễn áp dụng
pháp luật trong một số lĩnh vực cụ thể ở nước ta hiện nay, những thành tựu đạt
được, những hạn chế còn tồn tại, thông qua đó có thể giúp cho việc hiểu một
cách đầy đủ, toàn diện về áp dụng pháp luật, đồng thời chỉ ra những ưu điểm
của hoạt động này để phát huy và những điểm hạn chế, bất cập trong các quy
5
định của pháp luật cũng như thực tế thực hiện các quy định đó để khắc phục
nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật nước ta hiện nay.
- Cung cấp thêm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập của giáo
viên và sinh viên các trường luật cũng như cho các cơ quan, nhân viên nhà nước
có thẩm quyền trong quá trình giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực
tế.
5. Phạm vi nghiên cứu
Áp dụng pháp luật là vấn đề có nội dung khá rộng và phức tạp nên không
thể trình bày được tất cả các vấn đề về nó trong một công trình nghiên cứu, nhất
là một công trình nghiên cứu khoa học cấp trường. Vì vậy, đề tài chỉ tập trung
nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về áp dụng pháp luật, lý luận và thực
tiễn áp dụng pháp luật trong một số lĩnh vực cụ thể: hình sự, dân sự, hôn nhân
gia đình, hành chính, kinh tế… Ngay trong mỗi lĩnh vực đó, đề tài cũng chỉ có
thể đề cập đến việc áp dụng pháp luật trong một hoặc một vài trường hợp cụ thể
mà không thể đề cập đến việc áp dụng pháp luật trong tất cả các trường hợp.
6. Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài gồm các vấn đề cơ bản sau:
1. Một số vấn đề lý luận chung về áp dụng pháp luật: khái niệm, đặc
điểm, các trường hợp cần áp dụng pháp luật, quy trình áp dụng pháp luật, quyết
định áp dụng pháp luật, áp dụng pháp luật tương tự.
2. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng pháp luật trong một số
lĩnh vực cụ thể: hình sự, dân sự, hành chính, lao động, đất đai, thương mại…;
những thành tựu đạt được, những hạn chế tồn tại trong hoạt động này; những
1
. Quan
niệm này gần như đã được coi là “chân lý” vì nó đã tồn tại và được sử dụng
trong một thời gian khá dài. Tuy nhiên, chưa thể nói đây là một định nghĩa hoàn
thiện về thực hiện pháp luật bởi hai lý do.
Thứ nhất, không phải hành vi thực hiện pháp luật nào cũng phải là một
quá trình hoạt động. Theo tiếng Việt, quá trình có thể được hiểu là “Trình tự
phát triển, diễn biến của một sự việc nào đó”
2
, nếu nói quá trình hoạt động thì
có nghĩa đó là một xâu chuỗi các hoạt động diễn ra theo một trình tự nhất định.
Trong khi đó, có những trường hợp thực hiện pháp luật chỉ là những hành vi
đơn lẻ, ví dụ, hành vi dừng lại trước đèn đỏ khi đi đường, hành vi mua thức ăn
ngoài chợ...
Thứ hai, không phải trong tất cả các trường hợp, chủ thể thực hiện pháp
luật đều nhằm mục đích đưa pháp luật vào cuộc sống mà đa số các chủ thể đều
nhằm thực hiện những mục đích riêng của mình. Các tác giả của các giáo trình
trên hình như cũng đồng tình với điều đó nên họ đều giải thích rằng “Thực hiện
pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) của con người phù hợp
với những quy định của pháp luật. Nói khác đi, tất cả những hoạt động nào của
con người, của các tổ chức mà thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật thì
1
Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội. Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội –
2003, tr. 463 và Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Nxb.
Đại học Quốc gia Hà Nội – 2005, tr. 494.
2
Từ điển tiếng Việt. Viện ngôn ngữ học. NXB. Đà Nẵng. Hà Nội – Đà nẵng 2002, tr. 973
8
đều được coi là biểu hiện của việc thực hiện thực tế các quy phạm pháp luật”
3
. Trên cơ sở các quan niệm này
thì có thể hiểu thực hiện pháp luật là làm cho pháp luật trở thành sự thực hay
làm cho các quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống. Vì thế,
thực hiện pháp luật phải là hành vi hợp pháp, tức là hành vi hoàn toàn phù hợp
với các yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật. Tuỳ theo yêu cầu của mỗi quy định của
pháp luật mà việc thực hiện nó có thể là bằng hành động hoặc bằng không hành
động, cụ thể, việc thực hiện những quy phạm cấm đoán đương nhiên là bằng
không hành động, song việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý lại chủ yếu là bằng
hành động.
Tuy nhiên, nhà nước ban hành ra pháp luật chỉ để điều chỉnh hành vi hay
xử sự của các chủ thể có khả năng nhận thức, tức là các chủ thể có thể nhận
thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó đối với xã hội, đồng
thời điều khiển được hành vi của mình, mà không điều chỉnh xử sự của các chủ
thể không có khả năng nhận thức. Bằng việc quy định quyền và nghĩa vụ pháp
lý cho các chủ thể tham gia vào những quan hệ pháp luật nhất định, pháp luật
3
Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, sđd, tr. 461- 462 và Giáo trình Lý
luận chung về nhà nước và pháp luật, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, sđd, tr. 494.
4
Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, sđd tr. 462 và Giáo trình Lý luận
chung về nhà nước và pháp luật, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, sđd, tr. 494.
5
Từ điển Hán Việt. Đào Duy Anh. Nxb. Văn hoá – Thông tin, tr. 474.
6
Từ điển tiếng Việt. Viện ngôn ngữ học. Nxb. Đà Nẵng. Hà Nội – Đà Nẵng 2002, tr. 973.
9
tác động lên nhận thức của các chủ thể, giúp cho họ biết mình được làm gì,
không được làm gì, phải làm gì và làm như thế nào khi ở vào một điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể nào đó. Trên cơ sở nhận thức đó, các chủ thể sẽ lựa chọn và
thực hiện các hành vi thực tế của mình. Bằng việc quy định các biện pháp bảo
xã hội theo chiều hướng mà nó mong muốn. Tất cả các quan hệ xã hội đều
được thể hiện thông qua cách xử sự của người ta với nhau, vì thế, bằng cách
quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể tham gia vào một quan hệ
xã hội nhất định, nhà nước có thể tác động lên các quan hệ xã hội, điều chỉnh
chúng theo chiều hướng nhà nước mong muốn. Do đó, pháp luật chỉ điều chỉnh
hành vi hay xử sự của con người mà không thể điều chỉnh suy nghĩ hay tư
tưởng của họ, bởi vì, không ai có thể “đọc” được hay dự đoán được chính xác ý
nghĩ của người khác khi nó đang tồn tại trong đầu họ, tức là khi nó chưa được
thể hiện ra bên ngoài thành những hành vi hay xử sự cụ thể để mà điều chỉnh.
C. Mác đã từng khẳng định: “Ngoài hành vi của mình ra tôi không tồn tại đối
10
với pháp luật, hoàn toàn không phải là đối tượng của nó. Những hành vi của tôi
– đó là lĩnh vực duy nhất trong đó tôi đụng chạm với pháp luật bởi vì hành vi là
cái duy nhất vì nó mà tôi đòi quyền tồn tại, quyền hiện thực, và như vậy là do
nó mà tôi rơi vào quyền lực của pháp luật hiện hành”
7
. Vì lý do này mà chỉ có
thể căn cứ vào hành vi xác định hay xử sự thực tế của một chủ thể nào đó rồi
đối chiếu với các quy định cụ thể của pháp luật mà ta có thể xác định được là
họ có thực hiện pháp luật hay không.
Hành vi thực hiện pháp luật của các chủ thể có thể được thể hiện dưới
dạng hành động, tức là thể hiện qua những lời nói, cử chỉ, động tác nhất định, ví
dụ: đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng xe máy, thoả thuận, ký kết
hợp đồng mua bán… ; song cũng có thể được thể hiện dưới dạng không hành
động, tức là không thực hiện những cử chỉ, động tác, lời nói nhất định, ví dụ:
không vượt đèn đỏ, không đi vào đường ngược chiều khi tham gia giao thông…
Thứ hai, thực hiện pháp luật phải là hành vi hợp pháp, tức là hành vi
hoàn toàn phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật.
Đây là lẽ đương nhiên vì thực hiện pháp luật là sự hiện thực hoá các quy
định của pháp luật hay, làm cho các yêu cầu, đòi hỏi của nhà nước đối với
nhà nước và pháp luật, các tác giả đã căn cứ vào yêu cầu của các quy phạm
pháp luật mà chia thực hiện pháp luật thành bốn hình thức là tuân theo pháp
luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.
a. Tuân theo (tuân thủ) pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật trong
đó các chủ thể kiềm chế, giữ mình để không thực hiện những hành vi mà pháp
luật cấm. Ví dụ: chủ thể không vượt đèn đỏ hoặc đi ngược chiều khi tham gia
giao thông. Đây là hình thức thực hiện các quy phạm pháp luật cấm đoán trong
thực tế và là hình thức thực hiện pháp luật bằng không hành động.
b. Thi hành (chấp hành) pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật
trong đó các chủ thể thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động
tích cực. Ví dụ, chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Đây là hình thức thực hiện
các quy phạm pháp luật bắt buộc trong thực tế và là hình thức thực hiện pháp
luật bằng hành động.
c. Sử dụng (vận dụng) pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật trong
đó các chủ thể thực hiện quyền chủ thể của mình, tức là thực hiện những hành
vi mà pháp luật cho phép. Ví dụ, việc thực hiện quyền học tập bằng cách đăng
ký dự thi và làm thủ tục nhập học tại các cơ sở đào tạo của người học. Đây là
hình thức thực hiện các quy phạm cho phép, vì vậy, chủ thể có thể thực hiện
hoặc không thực hiện quyền của mình,
d. Áp dụng pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật trong đó nhà
nước (thông qua các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền) tổ chức cho
các chủ thể khác thực hiện các quy định của pháp luật. Ví dụ, trường Đại học
Luật Hà Nội áp dụng pháp luật trong việc tổ chức tuyển sinh và đào tạo các hệ
đào tạo cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ luật học. Như vậy, áp dụng pháp luật là hình
thức thực hiện pháp luật có sự can thiệp của nhà nước hay là hình thức thực
hiện pháp luật của các cơ quan, tổ chức và nhân viên nhà nước. Trong bốn hình
thức thực hiện pháp luật chỉ có hình thức này là luôn luôn có sự hiện diện của
nhà nước thông qua các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Nói chung, việc phân chia các hình thức thực hiện pháp luật như trên chỉ
có tính chất tương đối, chỉ phục vụ cho việc nghiên cứu nên chỉ có ý nghĩa chủ
hình thức thực hiện pháp luật, song có nhà nghiên cứu lại coi áp dụng pháp luật
đồng nghĩa với thực hiện pháp luật, tức là bao gồm tất cả cá hình thức thực hiện
pháp luật
10
.
Trên cơ sở tìm hiểu các quan niệm khác nhau về áp dụng pháp luật,
chúng tôi hoàn toàn ủng hộ quan niệm của đa số các tác giả, tức là coi áp dụng
pháp luật là một trong các hình thức thực hiện pháp luật và đó là hình thức thực
hiện pháp luật có sự can thiệp của nhà nước. Chúng tôi cho rằng nên xây dựng
khái niệm áp dụng theo hướng đề cập đến tất cả các đặc điểm của nó. Theo
hướng này, có thể định nghĩa về áp dụng pháp luật như sau: Áp dụng pháp luật
là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước, do các cơ quan, tổ chức
hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành nhằm cá
biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối
với các cá nhân, tổ chức cụ thể.
Từ định nghĩa về áp dụng pháp luật như trên, ta thấy, áp dụng pháp luật
có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực
nhà nước
Nếu chúng ta quan niệm thực hiện pháp luật có bốn hình thức thì chỉ có
duy nhất áp dụng pháp luật là hình thức luôn luôn thể hiện tính tổ chức, quyền
lực nhà nước. Điều đó được thể hiện qua chủ thể tiến hành, trình tự, thủ tục tiến
hành hoạt động áp dụng pháp luật và kết quả của quá trình áp dụng pháp luật.
Cụ thể:
+ Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân
có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành và mỗi chủ thể đó cũng chỉ
được phép áp dụng pháp luật trong một phạm vi nhất định theo quy định của
pháp luật. Chẳng hạn, trong hệ thống các cơ quan, tổ chức nhà nước thì chỉ toà
án mới có quyền xét xử để định tội và định hình phạt cho người phạm tội cũng
như để giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình…; chỉ uỷ ban nhân
tuyển và được gọi nhập học; hoặc sau khi nhận được hồ sơ của người sử dụng
đất, uỷ ban nhân dân phải căn cứ vào các quy định của pháp luật đất đai để
quyết định cấp hay không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử
dụng…
Các mệnh lệnh, quyết định áp dụng pháp luật được nhà nước bảo đảm
thực hiện bằng các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước. Thông thường, sau
khi ban hành ra các mệnh lệnh, quyết định áp dụng pháp luật, các chủ thể có
thẩm quyền sẽ công bố công khai cho đối tượng áp dụng để họ biết mà thực
hiện. Đối với các quyết định cụ thể hoá quyền pháp lý cho các chủ thể thì
đương nhiên họ sẽ tự giác thực hiện. Còn đối các quyết định cụ thể hoá nghĩa
vụ pháp lý cho các chủ thể thì có thể có hai trường hợp xảy ra. Một là các chủ
thể tự giác thực hiện mà không cần đến sự cưỡng chế của nhà nước. Hai là chủ
thể không tự giác thực hiện các mệnh lệnh, quyết định đó và các chủ thể có
thẩm quyền phải cưỡng chế thi hành để bảo đảm cho các mệnh lệnh, quyết định
đó được thực hiện nghiêm chỉnh.
+ Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức rất cao vì nó vừa là hình
thức thực hiện pháp luật vừa là hình thức nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực
hiện các quy định của pháp luật. Vì thế, hoạt động này phải được tiến hành theo
những điều kiện, trình tự, thủ tục rất chặt chẽ do pháp luật quy định. Trình tự,
thủ tục này thường khác nhau trong các trường hợp áp dụng pháp luật khác
nhau tuỳ theo quy định cụ thể của pháp luật. Chẳng hạn, trình tự, thủ tục cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ thể khác với trình tự, thủ tục
cấp đăng ký kết hôn hoặc khác trình tự thủ tục tuyển sinh, đào tạo, công nhận
tốt nghiệp và cấp Bằng tốt nghiệp cho người học.
Nói chung, các quyết định do các chủ thể có thẩm quyền ban hành ra
trong quá trình áp dụng pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của người
được áp dụng, nó có thể mang lại cho người ta lợi ích rất lớn (ví dụ, quyết định
14
giao quyền sử dụng đất, quyết định lên lương, quyết định công nhận tốt
nghiệp…), song nó cũng có thể bắt người ta phải gánh chịu những hậu quả rất
bắt buộc phải theo những trình tự, thủ tục nhất định. Còn khi áp dụng pháp luật,
chủ thể có thẩm quyền luôn bị bắt buộc phải tiến hành theo những điều kiện,
trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định và bao giờ cũng phải đưa ra một
quyết định áp dụng pháp luật để giải quyết vụ việc mà mình thụ lý. Có thể nói,
áp dụng pháp luật bao hàm cả ba hình thức trên bởi lẽ, trong quá trình áp dụng
pháp luật, chủ thể có thẩm quyền cũng có thể bị cấm thực hiện những hành vi
nhất định và họ phải tuân theo pháp luật, họ cũng phải thực hiện những nghĩa vụ
pháp lý nhất định, tức là phải thi hành pháp luật, đồng thời có những quyền hạn
nhất định tức là có thể sử dụng pháp luật.
Ngoài các đặc điểm cơ bản trên, có tác giả cho rằng áp dụng pháp luật
còn có một đặc điểm nữa là: Áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi có tính
sáng tạo, bởi vì các quy định của pháp luật thường mang tính chất chung, khái
15
quát, song các vụ việc xảy ra trong thực tế lại rất đa dạng, phong phú nên muốn
đưa ra được một quyết định đúng đắn, chính xác, vừa thấu tình, vừa đạt lý để
giải quyết vụ việc cần giải quyết thì đòi hỏi phải có tính sáng tạo của người áp
dụng. Như vậy, sự sáng tạo trong quá trình áp dụng pháp luật không phải là sự
tuỳ tiện của chủ thể áp dụng mà hoàn toàn dựa trên cơ sở các quy định của pháp
luật và nằm trong khuôn khổ của các quy định ấy. Cũng có tác giả cho rằng
không nên coi tính sáng tạo là một trong những đặc điểm của áp dụng pháp luật
bởi lẽ tính sáng tạo được thể hiện trong nhiều hoạt động, ví dụ, trong quá trình
xây dựng pháp luật cũng cần có tính sáng tạo của người xây dựng, trong quá
trình học tập cũng cần có tính sáng tạo của người học… Tôi ủng hộ quan điểm
cho rằng không nên coi tính sáng tạo là một trong những đặc điểm riêng có của
áp dụng pháp luật (mặc dù biểu hiện của tính sáng tạo trong quá trình áp dụng
pháp luật khác với biểu hiện của tính sáng tạo trong các hoạt động khác). còn
nếu coi nó là một đặc điểm thì cũng chỉ là đặc điểm không cơ bản, không mang
tính đặc trưng của áp dụng pháp luật. Vậy áp dụng pháp luật cần được tiến hành
trong những trường hợp nào?
Nếu xem xét một cách chi tiết, cụ thể trong thực tế cuộc sống thì sẽ có vô
của một chủ thể có thẩm quyền.
Nếu như trong trường hợp trên, phải nhờ hoạt động áp dụng pháp luật
mới làm phát sinh một quan hệ pháp luật cụ thể thì trường hợp này khác ở chỗ
một quan hệ pháp luật cụ thể đã phát sinh, các bên chủ thể đã có quyền và nghĩa
vụ pháp lý đối với nhau, nhưng một trong các bên hoặc tất cả các bên không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý của
mình nên dẫn đến tranh chấp mà họ không tự giải quyết được với nhau và yêu
cầu có sự can thiệp của một chủ thể có thẩm quyền. Chủ thể có thẩm quyền áp
dụng pháp luật sẽ đóng vai trò là trọng tài để giải quyết tranh chấp đó. Ví dụ,
một người cho thuê nhà kiện ra toà án đòi nhà cho thuê, toà án thụ lý và giải
quyết vụ án đó tức là áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp giữa người cho
thuê nhà với người thuê nhà.
Thứ ba, khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với các
chủ thể vi phạm pháp luật.
Để bảo đảm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và tự
giác bởi mọi chủ thể trong xã hội, nhiều quy phạm pháp luật đã quy định các
biện pháp cưỡng chế nhà nước cần áp dụng với người vi phạm trong phần chế
tàì của nó. Việc áp dụng một biện pháp cưỡng chế nhà nước cụ thể với một chủ
thể cụ thể là bắt họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi hay những sự
thiệt hại nhất định về tài sản, về nhân thân, về tự do… Vì thế, để đảm bảo công
bằng xã hội, chỉ có các chủ thể có thẩm quyền mới có thể áp dụng và hoạt động
áp dụng của họ phải được tiến hành theo những điều kiện, trình tự, thủ tục chặt
chẽ do pháp luật quy định. Ví dụ cho trường hợp này là việc cảnh sát giao
thông xử phạt người vi phạm luật giao thông, Hội đồng kỷ luật nhà trường xử
lý kỷ luật đối với cán bộ, giáo viên hoặc sinh viên vi phạm kỷ luật...
Thứ tư, khi cần áp dụng sự cưỡng chế của nhà nước đối với các chủ thể
không vi phạm pháp luật mà chỉ vì lợi ích chung của xã hội.
Trong đời sống xã hội, mỗi người đều có và đều quan tâm đến lợi ích
riêng của mình và những lợi ích chính đáng sẽ được nhà nước bảo hộ. Tuy
nhiên, có những trường hợp đặc biệt, để bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội,
Thứ sáu, khi cần kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
pháp lý của các chủ thể trong một số quan hệ pháp luật nhất định theo quy
định của pháp luật.
Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, các chủ thể đều có quyền và
nghĩa vụ nhất định do pháp luật quy định. Có những quyền và nghĩa vụ pháp lý
mà việc thực hiện nó chỉ liên quan đến lợi ích của cá nhân người thực hiện,
song có những quyền và nghĩa vụ pháp lý mà việc thực hiện nó lại liên quan
đến lợi ích của các chủ thể khác, lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng. Vì
vậy, cần phải kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đó để đảm
bảo tính đúng đắn, chính xác của nó. Hoạt động kiểm tra, giám sát đó chỉ do
các chủ thể có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật
quy định. Ví dụ: hoạt động giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ… là nhằm áp dụng Luật giám sát của Quốc hội năm… ; hoạt
động của cơ quan kiểm sát khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án…
Thứ bảy, khi cần phải xác nhận sự tồn tại của một sự kiện thực tế cụ
thể nào đó theo quy định của pháp luật.
Trong thực tế có những thứ giấy tờ, bằng cấp, chứng chỉ có giá trị pháp lý
lâu dài mà chủ thể của nó cần phải cất giữ cẩn thận. Song thỉnh thoảng, các giấy
tờ đó lại cần phải được sao chụp để chứng minh cho sự hiện diện và tồn tại của
nó trong thực tế. Hoạt động chứng thực của uỷ ban nhân dân, của cơ quan công
chứng nhằm tạo ra cơ sở pháp lý cho các giấy tờ, văn bằng nhất định… là sự áp
dụng các quy định của pháp luật công chứng trong thực tế.
1.3. QUI TRÌNH ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
Như trên đã nói, hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành dựa trên
những qui định của pháp luật và trải qua các giai đoạn có nội dung cụ thể và
18
trình tự thủ tục khác nhau. Các giai đoạn hay trình tự, thủ tục đó được khoa học
và thực tiễn pháp lý gọi là qui trình áp dụng pháp luật.
1.3.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại qui trình áp dụng pháp luật
phạm pháp luật là qui phạm pháp luật nội dung và qui phạm pháp luật hình thức
hay qui phạm thủ tục.
- Qui trình áp dụng pháp luật chịu sự qui định của nội dung và tính chất
của vụ việc cần giải quyết
Khi áp dụng pháp luật, chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải xác định
được nội dung và tính chất của vụ việc cần giải quyết rồi trên cơ sở đó mới có
thể lựa chọn đúng quy trình cần tiến hành. Nghĩa là chúng ta không thể lấy thủ
tục áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này để tiến hành cho lĩnh vực khác. Chẳng
hạn, không thể lấy quy trình xét xử các vụ án hình sự được quy định trong Bộ
luật tố tụng hình sự để thay thế cho thủ tục xét xử các vụ án dân sự được quy
định trong Bộ luật tố tụng dân sự được. Điều này cho thấy, qui trình áp dụng
11
Như ý (chủ biên), Từ điển tiếng Việt thông dụng, nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1995
19
pháp luật bao gồm nhiều hoạt động cụ thể khác nhau và do nhiều chủ thể tiến
hành nhưng nó có liên quan chặt chẽ đến nội dung của vụ việc cần giải quyết.
- Tham gia qui trình áp dụng pháp luật luôn có một chủ thể nhân danh nhà
nước hoặc được phép sử dụng quyền lực nhà nước để tiến hành hoạt động áp
dụng pháp luật
Nói đến áp dụng pháp luật là nói đến vai trò của nhà nước trong giải
quyết các vấn đề pháp lý thực tiễn. Thực chất của áp dụng pháp luật là quá trình
thể chế hóa quyền lực nhà nước để điều chỉnh sự kiện cụ thể. Chính vì lẽ đó,
tham gia qui trình áp dụng pháp luật luôn luôn có mặt chủ thể nhân danh nhà
nước hoặc được phép sử dụng quyền lực nhà nước, chủ thể này trực tiếp tiến
hành hoạt động áp dụng pháp luật, có vai trò quyết định trong quá trình áp dụng
pháp luật và là chủ thể có quyền đưa ra quyết định áp dụng pháp luật để giải
quyết vụ việc. Chủ thể đó chủ yếu là các cơ quan, tổ chức nhà nước hoặc các cá
nhân đảm trách nhiệm vụ trong các cơ quan, tổ chức đó tiến hành, song cũng có
thể do các cơ quan, tổ chức được nhà nước cho phép hoặc trao quyền tiến hành.
Ví dụ, các cơ sở đào tạo do Nhà nước thành lập hoặc cho phép thành lập đều có
việc thừa nhận, bảo vệ quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu, trong việc giải
quyết các tranh chấp dân sự; qui trình áp dụng pháp luật đất đai trong việc cấp
giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, qui trình áp dụng
pháp luật lao động trong việc tuyển dụng lao động, trong việc tăng lương hoặc
xử lý kỷ luật đối với người lao động..v.v.
1.3.2. Các giai đoạn của qui trình áp dụng pháp luật
Áp dụng pháp luật là một qui trình tổng hợp bao gồm nhiều yếu tố có sự
tương tác lẫn nhau như con người, tổ chức, kỹ thuật, pháp lý. Dựa vào nội
dung công việc cụ thể được thực hiện, khoa học và thực tiễn pháp lý chia quá
trình áp dụng pháp luật thành bốn giai đoạn:
a. Phân tích, đánh giá nội dung, điều kiện hoàn cảnh sự kiện thực tế
cần áp dụng pháp luật. Đây là giai đoạn khởi đầu của cả qui trình áp dụng
pháp luật nên nó có tính chất bản lề. Trước hết cần xác định đúng đắn nội
dung, đối tượng, bản chất pháp lý của sự kiện thực tế đó. Nếu xác định bản
chất pháp lý không chính xác thì toàn bộ quá trình áp dụng pháp luật sẽ sai và
gây ra hậu quả pháp lý và xã hội là khôn lường. Chẳng hạn, bản chất pháp lý
của hành vi thực tế là loại quan hệ tặng cho (một loại quan hệ dân sự hợp
pháp) lại xác định là quan hệ đưa và nhận hối lộ hoặc ngược lại thì hệ quả đem
lại là hoàn toàn khác biệt. Nếu cần áp dụng pháp luật thì phải làm rõ chủ thể
nào có thẩm quyền giải quyết vụ việc đó hay điều chỉnh quan hệ đó. Tiếp theo,
cần chuẩn bị về mặt tổ chức, nhân sự, kỹ thuật cũng như xác định về mặt thời
gian, thời điểm tiến hành áp dụng pháp luật. Đồng thời với việc chuẩn bị về
nội dụng cần xác định những thuận lợi, khó khăn hoặc những rủi ro có thể xảy
ra cản trở quá trình áp dụng pháp luật trên thực tế. Nhìn chung, việc áp dụng
pháp luật phải hướng tới một sự thuận lợi, tiết kiệm về chi phí thời gian, sức
lực, vật chất và đạt hiệu quả cao nhất cho các bên có liên quan. Do đó, giai
đoạn đầu trong áp dụng pháp luật bao giờ cũng đòi hỏi cần phải chuẩn bị một
phương án chi tiết, tỷ mỷ cả về nội dung, hình thức cũng như phương thức,
lịch trình tiến hành. Về nguyên tắc, chỉ có khẳng định được là hoàn toàn có cơ
sở và đủ điều kiện để tiếp tục áp dụng pháp luật trên thực tế mới cho phép
cũng khó có thể thoả mãn trường hợp: qui phạm pháp luật ban hành trước có giá
trị pháp lý cao hơn nhưng lại không còn phù hợp với điều kiện thực tế. Ngược
lại qui phạm pháp luật ban hành sau có giá trị pháp lý thấp nhưng lại phù hợp
với thực tế. Vậy, ở đây sẽ áp dụng qui phạm pháp luật nào? Nếu áp dụng qui
phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn thì không có hiệu quả thực tế vì
không đủ điều kiện cho phép. Trong khi đó, việc áp dụng qui phạm pháp luật
ban hành sau thì có hiệu quả bởi nó phù hợp với điều kiện thực tế nhưng lại
vướng vì giá trị pháp lý thấp hơn qui phạm pháp luật ban hành trước. Cũng có ý
kiến cho rằng cần làm thủ tục xem xét lại tính hợp lý, hợp pháp của cả hai văn
bản chứa đựng qui phạm pháp luật trên rồi mới tiến hành áp dụng pháp luật theo
một văn bản nhất định. Hay nói cách khác là, cần giải quyết xung đột theo qui
định về giá trị pháp lý (văn bản có giá trị cao hơn) với qui định thời gian ban
hành (ban hành sau) giữa hai văn bản. Đây là một việc làm không hề đơn giản
trên thực tế, bởi để kiểm tra, xử lý văn bản cần phải có thời gian và trải qua một
qui trình thủ tục phức tạp. Chẳng hạn, việc sửa đổi các văn bản luật thuộc thẩm
quyền của Quốc hội, đương nhiên điều đó phải chờ khi đến kỳ họp Quốc hội
mới tiến hành thực hiện được. Trong khi đó, thời hạn, thời hiệu của áp dụng
pháp luật không cho phép kéo dài để chờ đợi.
Việc xung đột khi chọn qui phạm để áp dụng pháp luật là điều khó tránh
khỏi. Xung đột có hai dạng là xung đột pháp luật nội và xung đột pháp luật
ngoại. Xung đột pháp luật nội là sự khác biệt khi có hai hay nhiều qui phạm
pháp luật trong cùng một hệ thống pháp luật đưa ra cách giải quyết khác nhau
cho một quan hệ xã hội hoặc một sự kiện pháp lý thực tế. Xung đột pháp luật
ngoại là sự khác biệt khi có các qui định pháp luật của hai hoặc nhiều hệ thống
pháp luật có liên quan đưa ra cách thức giải quyết khác nhau về cùng một sự
việc, một quan hệ. Tính phức tạp ở đây còn cao hơn bởi sự khác biệt có yếu tố
nước ngoài và rộng hơn là giữa cả các nền văn hoá pháp lý. Đối với trường hợp
22
này, cách thức xử lý trước hết dựa vào sự thoả thuận về khả năng lựa chọn qui
định của một hệ thống pháp luật nằm trong các nước có xung đột. Nếu không
hay chủ yếu bởi một loại cơ quan, tổ chức nhất định và mỗi loại việc lại tùy
theo mức độ phức tạp hay đơn giản, quan trọng hay ít quan trọng mà được giải
quyết bởi các cơ quan, tổ chức ở các cấp khác nhau bằng loại quyết định phù
hợp. Chẳng hạn, theo quy định của các bộ luật tố tụng hình sự và hình sự thì chỉ
có tòa án mới có quyền ban hành bản án để kết án một người nào đó; tòa án cấp
huyện có quyền ban hành bản án để kết án về tội phạm mà hình phạt cao nhất
được pháp luật quy định là 15 năm tù giam (trừ một số loại tội phạm được pháp
luật quy định); tòa án cấp tình có quyền ban hành bản án để kết án người phạm
tội trong các trường hợp còn lại
12
. Vì vậy, không có cơ quan nào ngoài toà án có
quyền ban hành quyết định áp dụng pháp luật đề tuyên một người nào đó là có
12
Xem Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự năm , Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999
23
tội hay không, hoặc tòa án cấp huyện thì không có quyền ban hành bản án để
kết án một người về một tội danh có mức phạt cao nhất trên 15 năm tù giam…
Chủ thể ban hành quyết định áp dụng pháp luật chủ yếu là các cơ quan, tổ chức
nhà nước, song cũng có thể là cơ quan, tổ chức được nhà nước trao quyền hoặc
uỷ quyền. Ví dụ, tất cả các trường đại học, dù là công lập hay dân lập cũng đều
có quyền ban hành ra quyết định áp dụng pháp luật để công nhận tốt nghiệp cho
những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào
tạo.
Các quyết định áp dụng pháp luật được ban hành ra phải đảm bảo tính
khách quan, hợp pháp cũng như sự phù hợp cả về nội dung và hình thức. Sự phù
hợp của quyết định áp dụng pháp luật được đưa ra cần phải xem xét ở cả hai
khía cạnh là pháp lý và thực tế. Theo đó, mức độ cá thể hóa càng chi tiết, sát
thực về nội dung, yêu cầu và đảm bảo khách quan thì quyết định áp dụng pháp
luật càng chính xác, hiệu quả.
Quyết định áp dụng pháp luật có thể được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng
định trong Bộ luật tố tụng hình sự; để quyết định thanh tra việc thực hiện pháp
luật của một đơn vị thì quyết định cần ban hành là quyết định thanh tra và quyết
định này được ban hành theo thủ tục quy định trong Luật thanh tra… Những
trường hợp quyết định áp dụng pháp luật ban hành không đúng hình thức có thể
gây hiểu lầm về nội dung, tính chất vụ việc, ban hành không đúng thủ tục có thể
làm cho nội dung quyết định không chính xác, thiếu khách quan nên không ít
trường hợp quyết định áp dụng pháp luật được ban hành không đúng thủ tục,
không có hiệu lực pháp lí.
* Quyết định áp dụng pháp luật có nội dung là các mệnh lệnh cụ thể hóa
quy phạm pháp luật vào những trường hợp cụ thể, áp dụng đối với đối tượng xác
định
Quy phạm pháp luật là những khuôn mẫu hành vi cho dù có mức độ cụ
thể nhất định nhưng không tránh khỏi tính phổ quát để có thể thích ứng với
những điều kiện thực tiễn phức tạp và thường xuyên thay đổi. Áp dụng pháp
luật chính là hoạt động lấy cái chung để áp dụng vào cái riêng biệt, cái cụ thể.
Giá trị của hoạt động áp dụng pháp luật thể hiện ở chỗ vụ việc được giải quyết
hoàn toàn phù hợp với những đặc điểm, điều kiện cụ thể của nó trong giới hạn
chung mà pháp luật quy định. Hoạt động áp dụng pháp luật mang tính sáng tạo
rõ rệt, nhưng là sự sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật. Nội dung quyết định áp
dụng pháp luật không được vượt quá phạm vi các quy phạm pháp luật được
chọn để áp dụng. Vì vậy, một vụ việc xảy ra ở những thời điểm khác nhau, đối
với các đối tượng khác nhau thì nội dung quyết định áp dụng có thể khác nhau.
Chẳng hạn, hai người đều thực hiện hành vi vi phạm hành chính cùng loại
nhưng một người thực hiện hành vi với một số tình tiết tăng nặng và một người
thực hiện hành vi không có tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ thì mức phạt tiền
dành cho hai người sẽ khác nhau. Do nội dung quyết định phải phù hợp với
những tình tiết cụ thể của vụ việc được áp dụng nên mỗi quyết định chỉ được áp
dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng nhất định trong một trường
hợp nhất định mà thôi.
* Quyết định áp dụng pháp luật là cơ sở pháp lí để tổ chức thực hiện pháp