lối sống theo pháp luật ở Việt Nam hiện nay - Pdf 26

Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Bộ T Pháp
Trờng Đại Học Luật Hà Nội
phí thị thanh tuyền
hc28d
Đề tài : Lối sống theo pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Chuyên ngành : Lý Luận chung về Nhà Nớc và Pháp Luật
tóm tắt
Khóa luận tốt nghiệp
Ngời hớng dẫn : Tiến sĩ Lê Vơng Long
Hà Nội 2007
Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới tiến sĩ Lê Vơng Long
ngời thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô trong trờng
đặc biệt là các thầy cô khoa hành chính nhà nớc, thầy cô tổ bộ môn lý luận
nhà nớc và pháp luật đã giảng dạy em trong suốt thời gian qua.
Em cũng xin bày tỏ lơi cảm ơn tới gia đình cũng nh bạn bè đã tạo điều
kiện và giúp đỡ em hoàn thành luận văn.
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng nh kiến thức của bản thân em
lên luân văn không thể tránh khỏi những sai xót kính mong sự chỉ bảo của
các thầy cô cũng nh của các bạn sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Phí Thị Thanh Tuyền
Lớp HC28D

Mục lục
Lời nói đầu ..............................................................................................5
Chơng 1: Những vấn đề lý luận chung về lối sống
theo pháp luật ở việt nam.
1. Khái niệm chung về lối sống............................................................8

mới xây dựng nhà nớc pháp quyền XHCN.....................................................60
2.2 Không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm tạo lập tiền đề
pháp lý cần thiết cho các hoạt động xã hội.....................................................61
2.3 Giải quyết tốt mối quan hệ giữa 3 yếu tố lao động nghề nghiệp
việc làm, bảo đảm lợi ích cho mỗi ngời đều đợc bảo đảm.............................63
2.4 Nâng cao hiệu quả công tác tổ chức, hoàn thiện pháp luật và áp dụng
pháp luật của các cơ quan nhà nớc và cá nhân có thẩm quyền......................64
2.5 Thực hiện tốt hoạt động kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh các hành
vi vi phạm pháp luật........................................................................................66
2.6 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong
nhân dân..........................................................................................................67
2.7 Xây dựng và nhân rộng các mẫu hình văn hóa pháp lí phù hợp với điều
kiện thực tế của mỗi ngành, mỗi địa phơng....................................................69
2.8 Nâng cao niềm tin pháp lý và thái độ tôn trọng, thực thi pháp luật đối
với nhân dân....................................................................................................70
2.9 Nâng cao hiệu quả pháp luật, hài hoà hoá cơ chế điều chỉnh xã hội bằng
các loại quy phạm xã hội khác.......................................................................71
2.10 Phát huy bản chất, lối sống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc
những giá trị văn minh của lối sống nhân loại................................................71
3. Một số kiến nghị.................................................................................72
Kết luận chơng 2.....................................................................................73
Kết luận ................................................................................................74
Danh mục tài liệu tham khảo..................................................................76
Lời mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
"Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật" là khẩu hiệu, là t tởng chỉ
đạo hành động của hàng triệu ngời dân Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất n-
ớc, xây dựng một nhà nớc pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên,
trong những năm gần đây cùng với những thay đổi tích cực của mọi mặt đời sống
xã hội thì tình trạng xuống cấp về đạo đức, vi phạm pháp luật ngày càng tăng đã

dựng ý thức và lối sống theo pháp luật" của tác giả Nguyễn Khắc Bộ trong tạp
chí Dân chủ và Pháp luật số tháng 10/2006, Xây dựng lối sống theo pháp luật
những vấn đề cần quan tâm của tiến sĩ Lê Vơng Long trong tạp chí dân chủ
pháp luật số tháng 04/1997. Tuy nhiên, do vấn đề "lối sống theo pháp luật" là một
vấn đề rộng lớn và phức tạp lên các công trình chỉ dừng lại ở những khía cạnh cơ
bản của vấn đề.
3. Mục đích nghiên cứu.
Hiện nay, việc tìm hiểu lối sống theo pháp luật đang đợc quan tâm và tiến
hành thực hiện. Vì vậy, với t cách là một sinh viên tôi mong muốn quan tâm,
nghiên cứu vấn đề này thông qua luận văn tốt nghiệp: "Lối sống theo pháp luật ở
Việt Nam hiện nay".
Mục đích tổng quát của luận văn là nghiên cứu từ góc độ lí luận đến thực
tiễn thực trạng và giải pháp đẩy nhanh quá trình xây dựng lối sống theo pháp luật
ở Việt Nam hiện nay.Về mặt lí luận góp phần làm rõ các khái niệm cũng nh các
yếu tố cấu thành cơ bản của lối sống và lối sống theo pháp luật .Về thực tiễn :
đánh giá thực trạng lối sống theo pháp luật ở Việt Nam hiện nay thông qua đó đề
xuất một số giải pháp cơ bản .
4. Phơng pháp nghiên cứu phạm vi nghiên cứu.
Trên cơ sở những kiến thức đã tiếp thu trong quá trình học tập tại trờng và
với các phơng pháp nghiên cứu nh phơng pháp t duy biện chứng, phơng pháp duy
vật lịch sử, phơng pháp phân tích, so sánh, tổng hợp Luận văn này sẽ cố gắng
làm rõ vấn đề "lối sống theo pháp luật ở Việt Nam hiện nay" Song do tính chất
phức tạp, rộng lớn và nhiều mặt của vấn đề không cho phép trong phạm vi bản
luận văn tốt nghiệp xem xét đợc tất cả những khía cạnh của vấn đề. Vì vậy, chúng
tôi chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu các vấn đề sau: khái niệm lối sống, lối sống
theo pháp luật, thực trạng lối sống theo pháp luật và một số giải pháp nhằm đẩy
mạnh lối sống theo pháp luật.
5. ý nghĩa của việc nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn chính xác,tổng
quát hơn về lối sống theo pháp luật ở Việt Nam .Từ đó có những phơng hớng

niệm "lối sống". Vào các thập niên 60 - 80 của thế kỷ XX, giới nghiên cứu của
Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã đa ra 50 định nghĩa tiêu biểu
về lối sống".
Nhìn chung các nhà nghiên cứu ở các nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây, khi bàn
về khái niệm lối sống thờng nhấn mạnh vào tính chất xã hội chủ nghĩa và xác
định các tiêu chí của nó từ sự đối lập với lối sống t bản.
ở Việt Nam khái niệm "lối sống" đợc xem xét với một góc nhìn tổng hợp
trong đó có nói đến mối quan hệ giữa mặt chủ quan và khách quan, giữa hoạt
động sống và điều kiện sống của con ngời, giữa hoạt động sản xuất và những hoạt
động phi sản xuất.
Nhấn mạnh vào hoạt động sống của con ngời, nhóm tác giả giáo trình lý
luận văn hoá và đờng lối văn hoá của Đảng cộng sản định nghĩa:
"Lối sống là một phạm trù xã hội khái quát toàn bộ hoạt động sống của
các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện
của một hình thái kinh tế xã hội nhất định, và biểu hiện trên các lĩnh vực của
đời sống: trong lao động và hởng thụ, trong quan hệ giữa con ngời với con ng-
ời, trong sinh hoạt tinh thần và văn hoá"[4. tr 190].
Xem lối sống nh những quan hệ xã hội, phó giáo s tiến sĩ Lê Nh Hoa cho
rằng:
"Lối sống là tổng thể các quan hệ xã hội của con ngời với những hình thức
và đặc trng tiêu biểu cho mỗi dân tộc, quốc gia, vùng địa lý, nhóm xã hội trong
những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội và văn hoá cụ thể"[5. tr 10].
Nhìn chung các khái niệm lối sống đều gặp nhau ở những điểm sau: một là
xem lối sống là một dạng hoạt động sống của con ngời, hai là hoạt động sống này
phụ thuộc chặt chẽ vào phơng thức sản xuất và điều kiện sống của con ngời, ba là
nó thể hiện đặc trng riêng của từng cộng đồng ngời.
Nổi lên trong lối sống là hoạt động của con ngời. Về thực chất, đó là cách
thức con ngời ứng xử với thiên nhiên và với xã hội để bảo tồn và phát triển đời
sống riêng của mình. Vì vậy, khái niệm lối sống bao hàm cả 2 mặt khách quan
lẫn chủ quan. Mặt khách quan là điều kiện sống của con ngời, trong đó bao hàm

nhu cầu và hứng thú khách quan. Trong những mức độ khác nhau, chúng đợc
phản ánh vào ý thức của họ nh là những động cơ tinh thần của hành động. Khi
hành động theo những động cơ này, con ngời thoả mãn những nhu cầu của mình,
đồng thời thay đổi cả điều kiện sống và chính bản thân.
Tuy nhiên, điều kiện sinh hoạt theo nghĩa rộng là toàn bộ môi trờng xã hội.
Vì vậy, nếu coi lối sống bao hàm trong nó toàn bộ điều kiện sinh hoạt của con
ngời tức là đã đồng nhất lối sống với xã hội nói chung và loại bỏ đi đặc thù của
khái niệm này.
Mặt khách quan của lối sống còn thể hiện ở những chuẩn giá trị xã hội.
Chuẩn giá trị xã hội là các giá trị cốt lõi đợc lựa chọn, xác định, đánh giá và cấu
trúc theo những bậc thang nhất định nh những chuẩn mực chung cho đại đa số
thành viên trong xã hội. Giá trị xã hội đợc xếp theo từng nhóm và luôn mang tính
lịch sử cụ thể. Chuẩn giá trị xã hội là một nguyên tắc của khuôn mẫu ứng xử.
Theo các tác giả của "Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội"
các chuẩn giá trị xã hội đợc hình thành, xác định trong quá trình cá nhân hoặc
cộng đồng gia nhập vào các quan hệ xã hội với t cách chủ thể của các quan hệ xã
hội đó. Do đó "các chuẩn giá xã hội luôn luôn đóng vai trò chuẩn mực, trình độ
bên trong của đạo đức và lối sống ở mỗi cá nhân và cộng đồng cũng nh đóng
vai trò bản lề, nhất là trong chuyển hoá bảng giá trị xã hội ở những giai đoạn
biến đổi (hoặc biến động) trên những lĩnh vực cơ bản của xã hội hay của toàn
xã hội"[7. tr 63].
Mặt chủ quan của lối sống nh đã nói, là ý thức của con ngời trong việc lựa
chọn cho mình một lối sống, dựa trên cơ sở một lẽ sống, một thái độ sống cụ thể
những mục tiêu mà con ngời đã đặt ra. Mặt chủ quan này phụ thuộc rất nhiều vào
nền văn hoá, vào thế giới quan lý tởng sống mà cá nhân tiếp thu đợc Nó làm
cho lối sống trở thành tự giác, vơn đến các giá trị, làm nên ý nghĩa của lối sống.
Chính mặt chủ quan này làm cho lối sống của cá nhân, tầng lớp, giai cấp
có sự khác nhau dẫu trong cùng một phơng thức sản xuất và cùng những điều
kiện sống. Từ đây có ý kiến cho rằng lối sống là cái xã hội trong cá nhân.
Nếu quan niệm lối sống nh một hệ thống các đặc điểm cơ bản về hoạt động

kiện sống nhất định sẽ làm nên đặc trng của từng lối sống: chinh phục hay lệ
thuộc, bóc lột hay bình đẳng, đóng góp hay phụ thuộc, chính những nét đặc tr -
ng này sẽ hình thành hệ thống chuẩn mực xã hội để lối sống vận hành theo, tạo
nên sự khác biệt của lối sống trong từng cộng đồng và cá nhân.
Từ những phân tích trên có thể đi đến một định nghĩa nh sau: Lối sống là
tổng hoà những dạng hoạt động sống ổn định của cộng đồng (dân tộc, giai cấp,
nhóm xã hội, ) và các cá nhân, đ ợc vận hành theo những chuẩn giá trị xã hội
nào đó trong sự thống nhất với các điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội
nhất định.
Để hiểu rõ hơn khái niệm lối sống, có thể tìm hiểu mối quan hệ giữa lối
sống với các khái niệm có liên quan nh lẽ sống, nếp sống, mức sống, phong cách
sống.
"Lẽ sống" hay còn gọi là đạo lý sống, là hiểu hiện quan trọng nhất của lối
sống. Đây chính là t tởng giải thích cho mục đích của lối sống. Lẽ sống đợc xem
là mặt ý thức của lối sống, phản ánh về nhận thức của con ngời về chính bản thân
trong các mối quan hệ xã hội. Lẽ sống là mặt tự giác của lối sống, đóng vai trò
dẫn dắt, định hớng nhằm làm cho lối sống ổn định theo từng cá nhân nhóm hay
giai cấp, dân tộc.
"Mức sống" là một thuật ngữ kinh tế xã hội để đánh giá mặt vật chất của lối
sống dựa trên chỉ số và sự đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của cộng
đồng. Thông thờng mức sống phản ánh trình độ của nền sản xuất vật chất trong
những điều kiện lịch sử nhất định. Những chỉ bảo của mức sống là hệ quả của sự
phát triển của công cụ lao động, của năng suất sản xuất. Xây dựng lối sống theo
pháp luật không thể không chú ý đến nâng cao mức sống cho cộng đồng. Không
thể có một lối sống văn minh lịch sự nếu nhà ở quá chật trội, điện thiếu, nớc
thiếu, con ngời chen chúc nhau đi trên những đờng phố chật hẹp, dơ bẩn, Tuy
nhiên, cũng không nên coi mức sống là mặt quyết định đối với lối sống. Sống đẹp
cơ bản không phải là sống đầy đủ mà là lối sống có ý nghĩa đối với con ngời dới
sự dẫn dắt của những lẽ sống cao đẹp.
"Nếp sống" là mặt ổn định của lối sống. Đó là những hoạt động sống đã trở

lao động nhằm sản xuất ra mọi của cải vật chất và tinh thần. Bởi lẽ đây là hoạt
động chủ yếu có tính sống còn đối với đời sống con ngời và là hoạt động sáng tạo
nhờ sự kết hợp hài hoà giữa hoạt động cơ bắp và hoạt động trí tuệ, để "hoạt động
sống là hoạt động thực sự có tình ngời của cá nhân, những thành viên tích cực của
xã hội, biết đau khổ, cảm giác, suy nghĩ và hoạt động nh con ngời".
Cần phải có quan điểm liên ngành: Xã hội học, triết học, văn hoá học để
hiểu những hàm nghĩa sau đây của khái niệm lối sống. Lối sống mang một số đặc
trng cơ bản sau:
1.2.1 Lối sống luôn luôn bộc lộ thông qua hành vi và đợc đo bằng thớc
đo các chuẩn giá trị xã hội.
Lối sống của con ngời luôn đợc bộc lộ thông qua một hay nhiều hành vi cụ
thể. Con ngời muốn sống cũng nh muốn tồn tại thì phải hành động, để hành động
thì không còn cách nào khác phải thực hiện một hay nhiều hành vi nhất định.
Chính thông qua hành vi đó con ngời sẽ bộc lộ nhân cách, bản chất, cũng nh lối
sống, phong cách sống của bản thân họ. Cùng với sự phát triển của xã hội nếu
hành vi của cá nhân là đúng đắn, là phù hợp với xã hội thì hành vi cá nhân, lối
sống cá nhân đó sẽ đợc xã hội thừa nhận và đơng nhiên trở thành lối sống của
đông đảo mọi ngời trong xã hội.
Lối sống là tổng hòa những tính chất cơ bản nhất của các mối quan hệ giữa
vật chất và tinh thần, cá nhân và xã hội, dân tộc và quốc tế, cho nên các đặc điểm
của lối sống đợc thể hiện qua toàn bộ các hình thức hoạt động sống của con ngời
trong phạm vi 1 hình thái kinh tế xã hội. Tuy nhiên đặc trng bản chất của lối sống
trực tiếp gắn với hệ thống giá trị tinh thần, văn hoá của con ngời và luôn luôn đợc
đo bằng thớc đo là các chuẩn giá trị xã hội. Chuẩn giá trị xã hội chính là cơ sở
đầu tiên, quan trọng để đánh giá lối sống của một xã hội nhất định.
1.2.2 Lối sống chịu sự quy định của phơng thức sản xuất và toàn bộ điều
kiện sống của con ngời.
Lối sống đợc hình thành trên một phơng thức sản xuất của một xã hội nhất
định do vậy luôn chịu sự chi phối của phơng thức sản xuất đó. Sự quy định của
phơng thức sản xuất phải thông qua hoạt động của chủ thể và mang dấu ấn khúc

cho sự phân định và tổng hoá các quan hệ xã hội trong bản chất hiện thực - lịch
sử của con ngời.
1.2.4 Lối sống của con ngời mang tính cá nhân và tính xã hội.
Lối sống của con ngời đợc biểu hiện thông qua mỗi hành vi cụ thể của con
ngời, mỗi con ngời có một hành vi khác nhau do vậy hình thành một lối sống
khác nhau. Nếu xét trên phạm vi rộng của một quốc gia với nhiều dân tộc khác
nhau cũng hình thành những lối sống khác nhau, Việt Nam là một minh chứng
điển hình nhất với khoảng 54 dân tộc khác nhau cùng sinh sống trên một lãnh thổ
nhất định cho phép hình thành những lối sống khác nhau tạo nên sự đa dạng của
lối sống. Còn trên phạm vi rộng lớn nhất đó là toàn thế giới thì điều này lại càng
rõ nét hơn, với mỗi một quốc gia khác nhau cho ta một lối sống khác nhau. Từ sự
phân tích trên cho ta thấy một đặc điểm quan trọng của lối sống đó là lối sống
con ngời luôn mang tính cá nhân sâu sắc.
Mặt khác con ngời luôn tồn tại trong một xã hội nhất định, luôn chịu sự chi
phối bởi các quy luật xã hội, bởi sự phát triển của xã hội.Bởi vậy bên cạnh tính cá
nhân sâu sắc lối sống của con ngời còn mang tính xã hội. Con đờng để nắm bắt
nội dung và phạm vi của khái niệm lối sống là tìm hiểu các hoạt động xã hội
(hành vi ứng xử) cách thức hình thành và định hình các khuôn mẫu ứng xử và các
vai trò xã hội của chúng cũng nh mối quan hệ qua lại giữa chúng trong quá trình
hình thành một thể chế xã hội. Khuôn mẫu ứng xử và thể chế xã hội là những cấp
độ khác nhau của các dạng hoạt động sống điển hình và ổn định của con ngời và
xã hội. Tổng hoà các khuôn mẫu ứng xử và các thể chế xã hội nào đó trong toàn
bộ các điều kiện xã hội cụ thể chính là nội dung và phạm vi xã hội của lối
sống.Lối sống của con ngời luôn mang tính cá nhân và tính xã hội sâu sắc.
1.2.5 Lối sống của con ngời là một bộ phận của văn hoá và luôn mang
tính chất văn hoá sâu rộng.
Lối sống nội dung đều mang tính chất văn hoá, vì việc biểu tợng hoá thế
giới tự nhiên và xã hội thành thế giới của những biểu trng văn hoá trong nhận
thức tình cảm và hoạt động của con ngời là đặc thù của xã hội loài ngời (so với
thế giới động vật). Khái niệm lối sống sẽ không đợc tiếp cận triệt để và hệ thống

Quá trình đấu tranh giữa cái "tôi" và cái "chúng ta" là quá trình hình thành
và hội nhập lối sống cá nhân với lối sống của cộng đồng. Điều này càng có ý
nghĩa thực tế hơn khi chúng ta giải quyết hài hoà các loại lợi ích cá nhân - tập thể
- nhà nớc và xã hội. Nh vậy việc hài hoà hoá các nhu cầu lợi ích cá nhân là con đ-
ờng đa đến sự thống nhất về bản chất lối sống xã hội trong điều kiện tồn tại giai
cấp, tồn tại sự khác biệt nhất định.
1.3.2 Dựa vào không gian hình thành lối sống.
Xuất phát từ không gian hình thành lối sống thì lối sống chia thành: lối sống
đô thị (thành thị) và lối sống nông thôn.
Lối sống đô thị (hay lối sống thành thị) là tổng hoà những nét cơ bản đặc tr-
ng cho phơng thức hoạt động sống, lao động và sinh hoạt của dân c đô thị đợc
hình thành dới ảnh hởng trực tiếp của môi trờng và xã hội thành thị. Ngợc lại với
lối sống đô thị thì lối sống nông thôn cũng là tổng hoà những nét cơ bản đặc trng
cho một phơng thức hoạt động sống, lao động và sinh hoạt của cộng đồng dân c
nông thôn, hình thành dới ảnh hởng trực tiếp của môi trởng xã hội nông thôn. Các
điều kiện địa lý - tự nhiên, môi trờng kinh tế - xã hội, loại hình nghề nghiệp, địa
bàn c trú nông thôn, văn hoá nông thôn là những yếu tố quy định các đặc điểm
giao tiếp, ứng xử, nếp nghĩ, phong cách sống, lao động và sinh hoạt của dân c
nông thôn từ đó tạo nên những nét đặc thù của lối sống nông thôn.
Mặc dù hình thành trong 2 không gian khác nhau tuy nhiên chúng lại luôn
thống nhất với nhau bởi xét cho đến cùng chủ thể trong 2 không gian đó hớng tới
đều là con ngời hơn nữa dù là nông thôn hay thành thị thì chúng luôn tồn tại
trong một thể thống nhất là một quốc gia nhất định. Vì vậy mà lối sống nông
thôn hay thành thị luôn có mối quan hệ qua lại, bổ sung cho nhau và trong xu h-
ớng phát triển của thời đại ngày nay một trong những yêu cầu đặt ra là phải xoá
bỏ ranh giới giữa lối sống nông thôn và lối sống thành thị hình thành một lối
sống chung thống nhất và chắc chắn rằng trong lối sống chung này sẽ chứa những
đặc điểm tiến bộ của cả lối sống nông thôn và lối sống thành thị.
1.3.3 Dựa theo các chuẩn mực cấu thành lối sống.
Nếu dựa trên các hệ chuẩn mực lớn thì lối sống đợc phân chia thành 2 loại

theo pháp luật. Tuy nhiên dựa trên cơ sở những vấn đề mà chúng tôi đã phân tích
về lối sống ở trên, chúng ta có thể hiểu lối sống theo pháp luật là lối sống đợc
hình thành trên chuẩn mực giá trị cơ bản nhất và quan trọng nhất là pháp luật.
Lập luận trên cũng cho ta thấy lối sống theo pháp luật là một phạm trù có
tính xã hội - lịch sử nhất định, nó sẽ chuyển hoá và hoàn thiện dần thành lối sống
cộng đồng khi không còn Nhà nớc và pháp luật. Không phải mọi hành vi xã hội
đều phải chịu và đợc điều chỉnh bằng pháp luật nhng mọi hành vi khi có pháp
luật điều chỉnh đều đợc kiểm soát, đánh giá là hợp pháp hoặc bất hợp pháp. Nh
vậy, thực chất đòi hỏi của lối sống theo pháp luật là mong muốn các chủ thể xác
lập các hành vi hợp pháp và không xác lập các hành vi mà pháp luật ngăn cấm
hoặc không cho phép trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào.
Sống theo pháp luật phù hợp với lối sống công nghiệp, giải phóng năng lực
trí tuệ và khả năng sáng tạo của con ngời. Trong chủ nghĩa xã hội, sống theo pháp
luật là đòi hỏi khách quan xuất phát từ tính tổ chức cao của một xã hội văn minh,
dân chủ, đa dạng hoá các quan hệ xã hội. Sống theo pháp luật phù hợp với trạng
thái pháp chế, là biểu hiện sinh động nhất của thực tiễn xây dựng nhà nớc pháp
quyền hiện nay. Xét về mặt bản chất sống theo pháp luật không tách dời nội dung
củng cố nền dân chủ, tăng cờng pháp chế, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nớc,
phát huy quyền lực nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội. Khi nói tới sống theo
pháp luật, ta thấy có hai loại chủ thể cơ bản có quan hệ hữu cơ với nhau là con
ngời (cá nhân) và Nhà nớc. Con ngời tiến hành các hoạt động tạo ra nội dung vật
chất của lối sống. Nhà nớc ban hành ra pháp luật tạo lập hành lang pháp lý cho
hoạt động xã hội và kiểm soát đánh giá nó. Con ngời với t cách là công dân trong
Nhà nớc thì sống theo pháp luật là bổn phận, là nghĩa vụ đồng thời là trách nhiệm
của mọi ngời dân trong xã hội.
Sống theo pháp luật đòi hỏi mọi hành vi, hành động phải phù hợp với pháp
luật trong môi trờng bình đẳng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm. Pháp luật luôn
mang tính khách quan nghĩa là bên cạnh phản ánh ý chí của chủ thể sáng tạo ra
luật nhng ý chí đó luôn luôn phải phù hợp với các quy luật vận động của xã hội.
Vì vậy mà pháp luật luôn mang tính công bằng, bình đẳng cho các chủ thể trong

theo pháp luật.
2.2.2 Lối sống theo pháp luật đợc xây dựng trên cơ sở một phơng thức
sản xuất của một giai cấp nhất định.
Đây cũng là một đặc trng không kém phần quan trọng của lối sống theo
pháp luật. Nếu nh đối với lối sống phơng thức sản xuất giữ vai trò quy định, thì
đối với lối sống theo pháp luật phơng thức sản xuất cũng giữ một vai trò tơng đối.
Nh vậy tại sao lối sống theo pháp luật phải đợc xây dựng trên một phơng thức sản
xuất nhất định ?
Nh chúng ta đã biết lối sống theo pháp luật đợc xây trên nền tảng là lối sống
và theo chuẩn mực pháp luật. Trong khi đó cả 2 yếu tố cấu thành lối sống theo
pháp luật là lối sống và pháp luật đều hình thành trên cơ sở một phơng thức sản
xuất nhất định. Mỗi phơng thức sản xuất sẽ cho chúng ta một lối sống và một hệ
thống pháp luật phù hợp. Vì vậy, mà lối sống theo pháp luật cũng phải đợc xây
dựng trên cơ sở phơng thức sản xuất của một giai cấp trong một giai đoạn nhất
định
2.2.3 Lối sống theo pháp luật đợc biểu hiện thông qua hoạt động áp
dụng và thực hiện pháp luật có hiệu quả.
áp dụng pháp luật và thực hiện pháp luật là những vấn đề rất quan trọng mà
mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng đều phải quan tâm. Thông qua hai
hoạt động này, chúng ta có thể biết đợc là pháp luật đã đi vào cuộc sống hay cha?
Và mức độ đó là sâu hay nông? Đây là vấn đề quan trọng đặc biệt đối với xây
dựng lối sống theo pháp luật ở Việt Nam.
Chính hoạt động áp dụng và thực hiện pháp luật có hiệu quả giúp cho ngời
dân hiểu đợc tầm quan trọng và tính hiệu quả của pháp luật từ đó ngời dân sẽ tìm
cách để pháp luật đi vào cuộc sống của họ một cách tự nguyện nh vậy chính là
lúc lối sống theo pháp luật hình thành. Ngợc lại nếu áp dụng và thực hiện pháp
luật không mang lại hiệu quả sẽ làm cho ngời dân cảm thấy pháp luật nh là một
cái gì đó quá xa đối với họ và họ dờng nh không với tới nh vậy vô hình chung
làm pháp luật xa dời nhân dân, gây nhiều khó khăn trong hình thành lối sống
theo pháp luật.

đạt đợc trong quá trình xây dựng một lối sống mới.
Lối sống theo pháp luật tiêu cực là loại lối sống mà bề ngoài thì dờng nh ta
không nhìn thấy tính chất vi phạm pháp luật nhng thực chất đã có sự chốn tránh,
lẩn tránh các quy định của pháp luật. Đây là lối sống mà hiện nay vẫn còn tồn tại
trong một bộ phận không nhỏ ngời dân trong xã hội.
2.3.2 Dựa theo tiêu chí chủ thể áp dụng pháp luật.
Theo tiêu chí này lối sống theo pháp luật đợc chia thành lối sống theo pháp
luật của ngời trực tiếp ban hành, áp dụng pháp luật và lối sống theo pháp luật của
đại bộ phận ngời dân trong xã hội.
Lối sống theo pháp luật của ngời trực tiếp ban hành, áp dụng pháp luật là
loại lối sống đợc hình thành trong bộ phận những ngời lập pháp, hành pháp, hay
chính là những cán bộ công chức. Lối sống của những ngời này có ảnh hởng rất
lớn tới lối sống của mọi ngời dân trong xã hội xuất phát từ vị trí, vai trò mà họ
đảm nhận.
Lối sống theo pháp luật của đại bộ phận ngời dân trong xã hội là loại lối
sống đợc hình thành trong mỗi ngời dân trong xã hội. Lối sống của họ chịu ảnh
hởng rất lớn bởi lối sống của những ngời ban hành, áp dụng pháp luật.
Ngoài ra dựa vào một số tiêu chí khác cũng cho ta những loại lối sống theo
pháp luật khác nhau ví nh dựa vào không gian hay phạm vi của lối sống thì có lối
sống theo pháp luật ở nông thôn và lối sống theo pháp luật ở thành thị, Tuy
nhiên các cách phân loại trên chỉ là tơng đối vì trên thực tế các loại lối sống bộc
lộ một cách đa dạng, đan xen nhau do vậy chúng ta phải có một cái nhìn tổng
quan về lối sống theo pháp luật.
3. Nhận diện lối sống theo pháp luật ở Việt Nam.
Lối sống theo pháp luật vừa là một vấn đề mang tính lí luận rất phức tạp
song đồng thời cũng là một thực tiễn rất quan trọng trong thời đại ngày nay.Việt
Nam đang phấn đấu xây dựng một lối sống mới lối sống theo pháp luật. Vởy
lối sống theo pháp luật ở Việt Nam đã hình thành hay cha? Làm thế nào để nhận
diện đợc lối sống theo pháp luật ở Việt Nam?
Dới đây chúng tôi xin đa ra một số tiêu chí, một số đặc trng nhằm giúp các

dựng chủ nghĩa xã hội trong đó một trong các phơng hơngá quan trọng mà Ngời
nhấn mạnh thể hiện qua câu nói: Muốn có chủ nghĩa xã hội phải có những con
ngời xã hội chủ nghĩa. Đồng thời Bác cũng chỉ cho chúng ta thấy thế nào là một
con ngời xã hội chủ nghĩa? Con ngời XHCN là con ngời hội tụ đầy đủ các đức
tính: cần kiệm liêm chính trí công vô t . Ngời cũng nhấn mạnh những
đặc điểm này cần phải đợc chú trọng hơn ở những ngời làm quan chức, ở đội ngũ
cán bộ công chức những con ngời phục vụ nhân dân.
Việc xây dựng con ngời XHCN là rất quan trọng trong công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Chỉ có những con ngời xã hội chủ nghĩa chúng ta mới có đợc
lối sống XHCN. Lối sống xã hội chủ nghĩa là lối sống mà trong sđó con ngời biết
yêu thơng đùm bọc nhau, chở che cho nhau trong những lúc hoạn nạn khó khăn,
một lối sống mình vì mọi ng ời, mọi ngời vì mình nh Bác đã từng dạy. Biểu hiện
của lối sống này trong xã hội VN rất đa dạng cụ thể hàng năm cứ vào ngày 30
tháng 12 Đài truyền hình VN lại tổ chức chơng trình nối vòng tay lớn quyên góp
ủng hộ ngời nghèo, số tiền ủng hộ mỗi năm lên đến hàng chục tỉ đồng một

Trích đoạn Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong Nâng cao niềm tin pháp lý và thái độ tôn trọng, thực thi pháp luật đố Một số kiến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status