Báo cáo " Về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay " potx - Pdf 11



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 6/2011 53

Ths. Đoàn Thị Tố Uyên *
1. í ngha ca hot ng kim tra vn
bn quy phm phỏp lut
Kim tra vn bn quy phm phỏp lut
(VBQPPL) l hot ng ca cỏc c quan nh
nc cú thm quyn trong vic xem xột,
ỏnh giỏ v tớnh hp phỏp v hp lớ ca vn
bn quy phm phỏp lut; phỏt hin nhng sai
trỏi, khụng phự hp, to c s ch th cú
thm quyn kp thi sa i, b sung, thay
th, bói b, hu b nhm nõng cao cht
lng ca vn bn quy phm phỏp lut.
Kim tra VBQPPL l mt trong nhng hot
ng cú ý ngha quan trng trong xõy dng
v hon thin h thng phỏp lut hin hnh
núi chung v nõng cao cht lng VBQPPL
núi riờng, th hin nhng im sau õy:
- Hot ng kim tra VBQPPL gúp phn
m bo tớnh hp Hin, hp phỏp v tớnh
ng b, thng nht ca h thng phỏp lut.
Thụng qua hot ng kim tra, nhng quy
nh mõu thun, chng chộo, bt hp phỏp
c loi b lm cho h thng phỏp lut ng

phỏt hin, xut ch th cú thm quyn x
lớ, khc phc sai sút, iu ny cng cú ngha
phn no bo v c quyn v li ớch hp
phỏp ca cỏ nhõn, t chc, to lp lũng tin
ca ngi dõn i vi Nh nc.
- Hot ng kim tra VBQPPL gúp phn
to dng mụi trng phỏp lớ minh bch, n
nh, lnh mnh, thỳc y quỏ trỡnh hi nhp
* Ging viờn Khoa hnh chớnh-nh nc
Trng i hc Lut H Ni nghiên cứu - trao đổi
54 Tạp chí luật học số 6/2011
kinh t, quc t. Cỏc nh u t v cỏc i tỏc
nc ngoi luụn quan tõm ti nhng ri ro cú
th xy ra t chớnh sỏch phỏp lut. Mun
gim thiu nhng ri ro, trc ht cỏc c
quan nh nc cn tin hnh tt hot ng
kim tra loi b nhng quy nh mõu
thun, chng chộo, trỏi phỏp lut, khụng cũn
phự hp vi thc t ca vn bn quy phm
phỏp lut, bo m mụi trng phỏp lớ lnh
mnh, cụng khai, minh bch, d tip cn.
- Kim tra VBQPPL gúp phn nõng cao
cht lng quy trỡnh xõy dng, ban hnh vn
bn. Vỡ thụng qua vic xem xột, ỏnh giỏ
VBQPPL, ch th tin hnh s ch ra c
nhng thiu sút, cha hon chnh trong quy
trỡnh ban hnh ng thi cú nhng kin ngh

lut hin hnh ó quy nh c ch t kim tra
vn bn m mt trong nhng ni dung quan
trng ca c ch ny l c quan cú thm quyn
khi son tho, ban hnh vn bn phi cõn nhc,
tớnh toỏn y v tớnh kh thi ca quy nh
do mỡnh ban hnh. Yờu cu ny mt ln na
li c xem xột trong quỏ trỡnh thc hin hot
ng kim tra sau khi vn bn c ban hnh.
2. Thc trng hot ng kim tra vn
bn quy phm phỏp lut
2.1. Nhng kt qu t c ca hot
ng kim tra vn bn quy phm phỏp lut
Hin nay, hot ng kim tra VBQPPL
ó c cỏc c quan cú thm quyn trin khai
thc hin trờn thc t em li kt qu ỏng
khớch l, biu hin nhng khớa cnh sau:
Th nht, hot ng kim tra tng bc
n nh, i vo nn np v hiu qu ngy cng
cao. Cú th thy thụng qua hot ng kim
tra VBQPPL cỏc b, ngnh, a phng, s
lng cỏc VBQPPL sai trỏi, bt hp lớ c
phỏt hin chim t l khỏ ln. B ngoi giao
t kim tra 49 vn bn v phỏt hin 20 vn
bn cú du hiu sai trỏi; B ti chớnh t kim
tra 1304 vn bn, phỏt hin cú 24 vn bn sai
trỏi; B lao ng-thng binh v xó hi kim
tra 356 vn bn, phỏt hin 53 vn bn sai.
(2).
cp huyn, cỏc c quan nh nc ó t


Thứ ba, các phương thức kiểm tra như tự
kiểm tra, kiểm tra theo thẩm quyền, kiểm tra
theo các nguồn thông tin; kiểm tra theo lĩnh
vực, theo địa bàn được các cơ quan tiến hành
khá linh hoạt. Về hoạt động kiểm tra
VBQPPL tại cơ quan có thẩm quyền kiểm
tra cho thấy trong năm 2010, Cục kiểm tra
VBQPPL (Bộ tư pháp) tiếp nhận tổng số
4.109 văn bản, trong đó, số văn bản cấp bộ
là 583, số văn bản địa phương: 3.526. Kết
quả bước đầu phát hiện 410 văn bản có dấu
hiệu trái pháp luật, chiếm 19,2% số văn bản
đã được kiểm tra (trong đó có 63 văn bản
cấp bộ, chiếm 15,4% số văn bản phát hiện
sai trái và 357 văn bản của địa phương, chiếm
84,6% số văn bản phát hiện sai trái) theo các
nội dung quy định tại Điều 3 Nghị định của
Chính phủ số 40/2010/NĐ-CP, cụ thể như
sau: sai căn cứ pháp lí: 131 văn bản; sai thể
thức và kĩ thuật trình bày: 213 văn bản; nội
dung trái pháp luật: 104 văn bản không phù
hợp với văn bản pháp luật cấp trên và có 24
văn bản ban hành sai thẩm quyền. Qua số
liệu thực tế cho thấy hoạt động kiểm tra
VBQPPL được Cục kiểm tra VBQPPL tiến
hành đạt kết quả khả quan, kịp thời phát hiện
khá nhiều VBQPPL sai trái.
Bên cạnh phương thức kiểm tra theo thẩm
quyền, kiểm tra VBQPPL còn được thực
hiện theo địa bàn. Việc kiểm tra theo địa bàn

thực tế. Công tác kiểm tra văn bản theo các
nguồn thông tin tiếp tục được quan tâm. Cục
kiểm tra VBQPPL (Bộ tư pháp) đã triển khai
kiểm tra và phát hiện nội dung trái pháp luật
của nhiều văn bản, kiến nghị cơ quan có
thẩm quyền tự kiểm tra, xử lí.
Không chỉ thực hiện với phương thức
kiểm tra theo thẩm quyền, tự kiểm tra, kiểm
tra theo địa bàn, nguồn thông tin phản ánh
mà hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật còn được thực hiện theo chuyên
đề, lĩnh vực. Kiểm tra văn bản theo chuyên
đề, lĩnh vực được xác định là phương thức
kiểm tra có hiệu quả. Do vậy, Cục kiểm tra
VBQPPL cũng như các phòng kiểm tra văn
bản của sở tư pháp, chuyên viên kiểm tra văn
bản của phòng tư pháp các địa phương rất
chú trọng phương thức kiểm tra này. Một số
lĩnh vực có ảnh hưởng lớn đến đời sống
nhân dân đã được các cơ quan kiểm tra tích
cực thực hiện như: Xử lí vi phạm hành
chính; bán đấu giá tài sản; ưu đãi, khuyến
khích đầu tư… Trong đó, cơ quan có thẩm
quyền đã phát hiện khá nhiều VBQPPL có
dấu hiệu sai trái trong lĩnh vực xử lí vi phạm
hành chính,
(4)
điển hình như: Trong quyết
định của UBND tỉnh, thành phố quy định
thẩm quyền xử phạt cho lực lượng thanh

thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích
cực, được thực hiện với nhiều phương thức
khác nhau và đem lại hiệu quả nhất định,
góp phần quan trọng cho công tác kiểm tra
VBQPPL đi vào nền nếp. nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 6/2011 57
2.2. Những hạn chế, vướng mắc của hoạt
động kiểm tra VBQPPL
Mặc dù đạt được những kết quả khả
quan trên đây nhưng đi vào cụ thể hoạt động
kiểm tra VBQPPL vẫn còn một số hạn chế,
vướng mắc, điển hình là:
+ Hoạt động kiểm tra VBQPPL chưa
được tiến hành nhất là việc tự kiểm tra
VBQPPL của Chính phủ; Thủ tướng Chính
phủ. Hiện nay, nghị định của Chính phủ,
quyết định của Thủ tướng Chính phủ là
VBQPPL nhưng không được kiểm tra sau
khi nghị định và quyết định được ban hành.
Hai văn bản này chỉ là đối tượng của hoạt
động giám sát của Quốc hội mà không là đối
tượng của hoạt động tự kiểm tra. Đây là “lỗ
hổng” của pháp luật hiện hành phần nào làm
ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kiểm tra
VBQPPL hiện nay.
+ Nhiều nơi hoạt động kiểm tra được tiến
hành nhưng còn mang tính hình thức, còn

cấp, nhất là cấp huyện và xã, dẫn đến hệ quả
nhiều VBQPPL không được kiểm tra; hoạt
động tự kiểm tra còn mang nặng tính hình
thức, đối phó, chưa hiệu quả. Nguyên nhân
là do các cơ quan nhà nước chưa thực sự
quan tâm đúng mức cũng như chưa coi trọng
công tác này; các quy định của pháp luật về
công tác này còn chưa hoàn thiện; lực lượng
cán bộ công chức còn mỏng, nhất là ở cấp
huyện và xã, đa số chỉ có một đến hai
chuyên viên kiêm nhiệm nhiều việc; trình độ
chuyên môn còn nhiều hạn chế thể hiện
trong việc không nhận diện được chính xác
VBQPPL để kiểm tra dẫn đến nhiều văn bản
không phải là VBQPPL nhưng vẫn được các
chuyên viên kiểm tra nên mất khá nhiều thời
gian, ảnh hưởng đến hiệu quả công việc.
Ngoài ra, hoạt động kiểm tra VBQPPL
theo các nguồn thông tin còn mang tính bị
động, bởi chỉ thông qua các phương tiện
truyền thông hoặc qua phản ánh của các cá nghiªn cøu - trao ®æi
58 T¹p chÝ luËt häc sè 6/2011
nhân, tổ chức mới được tiến hành kiểm tra.
Vì vậy, thực tế số lượng VBQPPL cũng như
những văn bản có nội dung là quy phạm pháp
luật nhưng được ban hành sai tên gọi, không
tuân thủ quy trình ban hành VBQPPL…

HĐND, UBND năm 2004 theo hướng xác
định chủ trương, đường lối, chính sách của
Nhà nước là cơ sở pháp luật nhưng không
phải là quy phạm pháp luật để cơ quan tư
pháp địa phương không nhầm lẫn cũng như
khó nhận diện VBQPPL trong quá trình kiểm
tra. Ngoài ra, Nghị định số 40/2010/NĐ-CP
cần quy định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan
ban hành VBQPPL trong việc gửi văn bản
đến cơ quan kiểm tra đúng thời hạn quy
định; xem xét lại quy định về văn bản có nội
dung chứa quy phạm pháp luật nhưng ban
hành không đúng hình thức là đối tượng của
hoạt động kiểm tra vì những văn bản đó thực
chất không là VBQPPL…
Thứ hai, kiện toàn về tổ chức, tăng
cường số lượng cán bộ chuyên trách kiểm tra
văn bản quy phạm pháp luật
Theo quy định, công tác pháp chế nói
chung và kiểm tra VBQPPL nói riêng phải
do cán bộ chuyên trách thực hiện. Do vậy,
các bộ, ngành, địa phương cần quan tâm,
củng cố tổ chức và kịp thời tăng cường biên
chế cho công tác này. Ngoài ra, về tổ chức,
Chính phủ cho phép một số bộ, cơ quan
ngang bộ có quyền thành lập phòng thuộc vụ
thì khẩn trương thành lập phòng kiểm tra văn
bản thuộc vụ pháp chế, nếu không thành lập
phòng thì cơ quan đó tổ chức một bộ phận
công chức chuyên trách thực hiện kiểm tra

đáp ứng đầy đủ các điều kiện, tiêu chuẩn về
chuyên môn, nghiệp vụ như: Là công chức
ngạch chuyên viên trở lên; có trình độ cử
nhân luật hoặc tương đương trở lên; có
chứng chỉ đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm
tra văn bản hoặc có thời gian thực hiện công
tác pháp luật. Ngoài ra, cơ quan tư pháp các
cấp cần thường xuyên tổ chức các lớp tập
huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về nghiệp vụ
kiểm tra VBQPPL cho các bộ thực hiện công
tác này. Có thể thông qua nhiều hình thức
tập huấn khác nhau như hội thảo, tọa đàm,
tổng kết kinh nghiệm thực tiễn về công tác
kiểm tra văn bản của các bộ, ngành, địa
phương, phát hành tài liệu hướng dẫn nghiệp
vụ về kĩ năng soạn thảo cũng như thẩm định
và kiểm tra VBQPPL.
Thứ tư, tăng cường công tác phối hợp
đồng bộ, kịp thời giữa cơ quan ban hành với
cơ quan kiểm tra VBQPPL và giữa cơ quan
kiểm tra VBQPPL với đội ngũ cộng tác viên
Sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan
chức năng trong quá trình xây dựng cũng như
kiểm tra VBQPPL được coi là một trong
những cơ chế hữu hiệu. Tác dụng của cơ chế
này là tập trung được trí tuệ tập thể của các cá
nhân, tập thể trong cơ quan đồng thời tăng
cường năng lực đánh giá tổng hợp về tính hợp
pháp và hợp lí của VBQPPL, nâng cao chất
lượng hoạt động kiểm tra nhất là khi cơ quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status