TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38 (2012 – 2015)
ĐỀ TÀI:
CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN BẢN
QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở TRUNG ƢƠNG
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Th.S HUỲNH THỊ SINH HIỀN
NGUYỄN THỊ PHƢỢNG
Bộ môn: Luật Hành chính
MSSV: S1200067
Lớp: Luật Hành chính K38
Cần Thơ, tháng 11/2014
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
Trang 2
SVTH: Nguyễn Thị Phƣợng
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương
MỤC LỤC
Trang
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu ...........................................................................................1
3. Phạm vi nghiên cứu.............................................................................................1
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ...................................................................................1
5. Kết cấu đề tài .......................................................................................................2
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ
VỀ CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT................................3
1.1. Khái quát về văn bản quy phạm pháp luật ...................................................3
1.1.1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật .........................................................3
1.1.2. Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật....................................................3
1.1.3. Phân loại văn bản quy phạm pháp luật ..........................................................4
1.1.4. Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật .......................5
1.2. Khái quát về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ........................7
1.2.1. Khái niệm cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật................................7
1.2.2. Đối tượng của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật .........................8
1.2.3. Phương thức tiến hành kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật .......................8
1.2.4. Thời điểm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương .....................9
1.2.5. Ý nghĩa của việc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ...............................10
CHƢƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN
2.5.1. Chủ thể thực hiện việc kiểm tra ....................................................................22
2.5.2. Nội dung kiểm tra..........................................................................................22
2.5.3. Kết quả xử lý sau khi kiểm tra ......................................................................24
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG CỦA CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY
PHẠM PHÁP LUẬT Ở TRUNG ƢƠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ...............26
3.1. Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luât ........................26
3.1.1. Đối với Luật, nghị quyết của Quốc hội .........................................................26
3.1.2. Đối với Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Lệnh,
quyết định của Chủ tịch nước ............................................................................................27
3.1.3. Đối với Nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và thông tư của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao...................................................................................................28
3.1.4. Đối với Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.................30
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật ở trung ƣơng ....................................................................................................32
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật.............................................................................................................................32
3.2.2. Giải pháp xây dựng quy trình kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ..........33
3.2.3. Giải pháp về cơ chế chính sách thực hiện công tác kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật ..................................................................................................................34
PHẦN KẾT LUẬN................................................................................................35
TÀI LIỆU THAM KHẢO
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
Trang 4
SVTH: Nguyễn Thị Phƣợng
Luận văn nghiên cứu có hệ thống những quy định của pháp luật cùng với việc
khảo sát thực tế hoạt động ban hành và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các
cơ quan nhà nước ở trung ương trong những năm gần đây.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Trên cơ sở phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng của học thuyết Mác – Lênin, tác giả sử
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
Trang 5
SVTH: Nguyễn Thị Phƣợng
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương
dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau: phương pháp phân tích - tổng hợp,
phương pháp thống kê - so sánh, phương pháp chọn lọc, thu thập và xử lý thông tin
liên quan đến đề tài.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế kiểm tra văn
bản quy phạm pháp luật.
Chương 2: Quy định pháp luật về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
ở trung ương.
Chương 3: Thực trạng của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung
ương và giải pháp hoàn thiện.
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
sự chung nhưng vẫn không được xem là văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ: Nghị
quyết Đảng cộng sản Việt Nam.
- Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa đựng quy tắc xử sự chung.
Quy tắc xử sự chung được hiểu là những chuẩn mực được pháp luật quy định
mà mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân theo khi tham gia quan hệ xã hội mà quy
tắc đó điều chỉnh. Mọi tổ chức, cá nhân ở vào những hoàn cảnh, điều kiện mà văn bản
quy phạm pháp luật đã quy định đều xử sự thống nhất như nhau. Văn bản quy phạm
pháp luật được áp dụng nhiều lần trong đời sống khi có sự kiện pháp lý xảy ra.
Bất kỳ chủ thể nào rơi vào phạm vi điều chỉnh của văn bản cho dù đã áp dụng
rồi hay chưa áp dụng thì vẫn bị văn bản đó điều chỉnh. Những văn bản được áp dụng
một lần cho một đối tượng cụ thể, và chủ thể khác không phải tuân theo thì văn bản đó
không phải là văn bản quy phạm pháp luật mà là văn bản cá biệt hoặc văn bản áp dụng
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
Trang 7
SVTH: Nguyễn Thị Phƣợng
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương
pháp luật. Ví dụ: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về
an toàn giao thông của ông Nguyễn Văn A. Trong trường hợp này thì Quyết định xử
phạt trên chỉ có hiệu lực bắt buộc đối với ông A và sau khi ông A đã chấp hành xong
quyết định xử phạt thì quyết định đó hết hiệu lực. Từ đặc điểm trên cho thấy văn bản
quy phạm pháp luật khác biệt so với các văn bản cá biệt và các văn bản áp dụng pháp
luật.
Các văn bản dựa trên những quy tắc xử sự chung để áp dụng riêng cho một đối
tượng riêng biệt, trong hoàn cảnh cụ thể nhằm xác định quyền và nghĩa vụ mà chủ thể
đó phải thực hiện thì văn bản đó không phải là văn bản quy phạm pháp luật mà được
gọi là văn bản áp dụng pháp luật ví dụ như: Quyết định kỷ luật, quyết định xử phạt vi
SVTH: Nguyễn Thị Phƣợng
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương
+ Nghị định của Chính phủ.
+ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
+ Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
+ Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
+ Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
+ Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước.
+ Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ
với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.
+ Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa
các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
Thứ hai văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở địa phương ban
hành gồm có:
+ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
+ Quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân.
1.1.4. Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Nguyên tắc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là những tư tưởng chỉ đạo,
phản ánh khái quát những sự việc khách quan liên quan tới quá trình "nâng" ý chí nhà
nước lên thành pháp luật, tiến tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Đây là những cơ sở quan trọng của toàn bộ quá trình xây dựng pháp luật, đòi hỏi tất cả
các chủ thể tham gia vào quá trình ban hành, sửa đổi hay bãi bỏ các quy phạm pháp
luật phải nghiêm chỉnh tuân theo. Theo Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của Việt Nam năm 2008 thì khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải đảm
bảo các nguyên tắc sau:
phạm pháp luật thì văn bản đó không được xem là văn bản quy phạm pháp luật.
“Bảo đảm tính công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy
phạm pháp luật trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật
nhà nước; bảo đảm tính minh bạch trong các quy định của văn bản quy phạm pháp
luật.”3 Tính công khai của văn bản được thể hiện từ quá trình soạn thảo dự thảo văn
bản quy phạm pháp luật bằng việc lấy ý kiến góp ý của nhiều chủ thể liên quan khác
đăng tải trên trang thông tin điện tử, cho đến sau khi văn bản quy phạm pháp luật được
ban hành phải được đăng Công báo thì văn bản mới có hiệu lực thi hành, trừ các văn
bản quy phạm pháp luật thuộc bí mật nhà nước và văn bản quy phạm pháp luật quy
định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp, văn bản được ban hành để kịp
thời đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh 4. Việc công khai, minh bạch từ
khâu soạn thảo cho đến khâu ban hành không những giúp cho người dân sớm biết
được định hướng chính sách, pháp luật trong tương lai để chuẩn bị các điều kiện cho
việc thực hiện, mà còn để người dân có thể tham gia vào hoạt động xây dựng thể chế,
làm cho pháp luật phản ánh được sát hơn ý chí, nguyện vọng của nhân dân... Đây cũng
là một nội dung quan trọng nhằm thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra đã được đề ra trong nhiều văn kiện của Đảng. Vì vậy mỗi khi một luật
chuẩn bị được ban hành đều được đăng tải dự thảo trên các trang thông tin điện tử để
nhân dân đóng góp ý kiến phản hồi, kiến nghị đối với dự thảo luật.
“Bảo đảm tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật.”5 Khi một văn bản
quy phạm pháp luật được ban hành thì điều quan trọng đầu tiên là liệu văn bản đó có
phù hợp với tình hình thực tế hay không và việc thi hành nó có được thực hiện hay
không. Điều này đặt ra vấn đề tính khả thi của một văn bản quy phạm pháp luật rất
quan trọng, cho nên trước khi ban hành văn bản những chủ thể soạn thảo văn bản cần
2
3
Khoản 2, điều 3 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.
Khoản 3, điều 3 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.
thực tiễn. Cho nên khi ban hành một văn bản quy phạm pháp luật không được làm ảnh
hưởng đến việc thực hiện các văn bản mà Nhà nước ta đã ký với các quốc gia khác,
góp phần đưa đất nước ngày càng phát triển, hội nhập kinh tế với các quốc gia khác
trên thế giới.
1.2. Khái quát về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
1.2.1. Khái niệm cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Về mặt pháp lý thì không có khái niệm thế nào là “cơ chế” và thế nào là “kiểm
tra”. Tuy nhiên, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học biên soạn và xuất
bản năm 2000 thì “cơ chế là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện”. Và
kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”, là hoạt động của chủ thể
nhằm tiến hành xem xét, xác định một việc gì đó của đối tượng bị quản lý xem có phù
hợp hay không phù hợp với trạng thái được định trước.
Theo quan điểm của Tiến sĩ Lê Hồng Sơn và Thạc sĩ Phạm Văn Dũng thì:
“Kiểm tra văn bản là việc xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp pháp của văn bản
nhằm phát hiện những nội dung trái pháp luật, kịp thời đình chỉ việc thi hành, huỷ bỏ
hoặc bãi bỏ văn bản có nội dung sai trái, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính
thống nhất của hệ thống pháp luật. Đồng thời, kiến nghị xử lý trách nhiệm hình sự,
dân sự hoặc kỷ luật đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật, xem
xét và xử lý trách nhiệm theo thẩm quyền được giao đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân
6
Khoản 5, điều 3 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
Trang 11
SVTH: Nguyễn Thị Phƣợng
thức sau:
Phương thức tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật: các cơ quan, cá nhân
phải tự kiểm tra văn bản do mình ban hành hoặc liên tịch ban hành trong quá trình
soạn thảo cho đến sau khi văn bản được ban hành, khi nhận được thông báo của cơ
7
Trang 3, Đặc san Tuyên truyền Pháp luật số 08/2011 của TS. Lê Hồng Sơn - Cục trưởng Cục Kiểm tra
văn bản quy phạm pháp luật - Bộ Tư pháp và Ths. Phạm Văn Dũng - Trưởng phòng Kiểm tra văn bản QPPL
Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật - Bộ Tư pháp.
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
Trang 12
SVTH: Nguyễn Thị Phƣợng
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương
quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản hoặc yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, tổ
chức, cá nhân và các phương tiện thông tin đại chúng.8
Phương thức kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền: cơ quan,
cá nhân có thẩm quyền ban hành văn bản kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các
cơ quan, cá nhân khác ban hành theo thẩm quyền được pháp luật quy định như: cơ
quan, cá nhân có thẩm quyền cấp trên kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của cấp
dưới ban hành; kiểm tra những văn bản quy phạm pháp luật mà chủ thể khác ban hành
liên quan đến ngành, lĩnh vực mình quản lý; kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật khi
được cơ quan, cá nhân có thẩm quyền phân công nhiệm vụ.9
1.2.4. Thời điểm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 về Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật.
Điều 84 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003.
10
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
Trang 13
SVTH: Nguyễn Thị Phƣợng
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương
văn bản quy phạm pháp luật khác khi ban hành phải tuân thủ Hiến pháp không được
ban hành những quy định trái với Hiến pháp. Vì vậy, qua cơ chế kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật nhằm phát hiện những văn bản trái Hiến pháp, đi ngược lại ý chí của
nhân dân.
Đảm bảo quy trình ban hành đúng văn bản quy phạm pháp luật để văn bản được
ban hành ra không bị hủy, bị sửa, cũng như văn bản quy phạm pháp luật ban hành
đúng quy trình, thủ tục theo quy định của pháp luật phù hợp với ý kiến của nhân dân.
Từ đó giúp cho văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sẽ nhanh chóng áp dụng
vào tình hình thực tế của đời sống xã hội. Qua việc kiểm tra các văn bản quy phạm
pháp luật trái luật giúp các chủ thể ban hành văn bản thấy được những mặt còn hạn chế
trong công tác soạn thảo ban hành để từ đó nâng cao trình độ lập pháp nhằm hạn chế
tình trạng văn bản ban hành gây thiệt hại cho nhà nước và nhân dân.
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
Trang 14
phạm pháp luật do Quốc hội ban hành vi phạm Hiến pháp. Vì vậy cần phải có quy
định cụ thể chủ thể có thẩm quyền kiểm tra tính hợp hiến của văn bản Luật, nghị quyết
của Quốc hội và biện pháp xử lý khi các văn bản này vi hiến nhằm bảo vệ tính tối
thượng của Hiến pháp.
11
Điều 36 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.
12
Điều 41 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.
13
Điều 119 Hiến pháp năm 2013.
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
Trang 15
SVTH: Nguyễn Thị Phƣợng
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương
2.1.2. Nội dung kiểm tra
Căn cứ khoản 3, điều 36 và điều 43 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
năm 2008, cơ quan thẩm định, thẩm tra tiến hành thẩm định, thẩm tra tập trung vào
những vấn đề sau đây:
Sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo văn
15
Điểm b, điểm c, khoản 3, điều 36 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
Trang 16
SVTH: Nguyễn Thị Phƣợng
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương
Tính khả thi của dự thảo văn bản, bao gồm sự phù hợp giữa quy định của dự
thảo văn bản với yêu cầu thực tế, trình độ phát triển của xã hội và điều kiện bảo đảm
để thực hiện.16
Trước khi dự thảo các văn bản luật, nghị quyết được Quốc hội xem xét thông
qua thì việc các cơ quan được Quốc hội giao nhiệm vụ thẩm tra phải xem xét tính khả
thi của văn bản khi đưa vào thực tiễn áp dụng. Từ đó cho thấy việc ban hành ra một
văn bản luật, nghị quyết cần phải xem xét, kiểm tra khả năng áp dụng văn bản đó vào
thực tiễn là một vấn đề rất quan trọng quyết định đến chất lượng hoạt động lập pháp
của một quốc gia. Ngoài ra, các văn bản luật, nghị quyết của Quốc hội còn là căn cứ để
ban hành các văn bản quy phạm pháp luật khác, cho nên nếu luật ban hành không thể
thực thi được thì các văn bản quy phạm pháp luật dựa vào nó để ban hành như: nghị
định, thông tư,… thì cũng không áp dụng vào thực tiễn được.
Tuy tính khả thi của các văn bản luật, nghị quyết được kiểm tra trong quá trình
soạn thảo và các quan hệ xã hội được các nhà làm luật dự liệu trước, nhưng tình hình
xã hội luôn luôn vận động, thường xuyên thay đổi, cho nên cũng có nhiều tình huống,
vấn đề đã xảy ra mà luật chưa có điều chỉnh và khi luật được ban hành để điều chỉnh
thì lại phát sinh vấn đề mới.
Trang 17
SVTH: Nguyễn Thị Phƣợng
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương
2.2.1. Chủ thể thực hiện việc kiểm tra
Kiểm tra văn bản trước khi được ban hành, kiểm tra thông qua quy định về
thẩm định, thẩm tra:
Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật của Ủy ban thường vụ Quốc hộ do Chính phủ trình. Trong một số trường hợp còn
có sự tham gia thẩm định của đại diện các cơ quan hữu quan, các chuyên gia, nhà khoa
học.19 Các dự án, dự thảo văn bản trên trước khi được Ủy ban thường vụ Quốc hội
thảo luận, cho ý kiến phải được Hồi đồng dân tộc, Ủy ban hữu quan của Quốc hội (đặc
biệt là Ủy ban pháp luật) thẩm tra để đảm bảo tính hợp hiến hợp pháp.
Đối với pháp lệnh, nghị quyết đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua
mà Chủ tịch nước đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại theo quy định thì
Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại những vấn đề mà Chủ tịch nước có ý kiến.20
Quy định này nhằm nâng cao thẩm quyền của Chủ tịch nước nhưng thực chất Chủ tịch
nước chỉ được quyền yêu cầu xem xét lại còn việc quyết định vẫn thuộc về Quốc hội.
Sau khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật thực hiện việc kiểm tra văn bản
thông qua hoạt động giám sát của Quốc hội, đại biểu Quốc hội:
Quốc hội giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
và xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban thường vụ Quốc hội có dấu hiệu
trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.21 Quy định này nhằm thể hiện vai
trò giám sát tối cao của Quốc hội. Tuy nhiên, Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan
của Quốc hội cho nên mặc nhiên Quốc hội sẽ giám sát, quản lý cơ quan của mình và
được quy định trong Luật tổ chức Quốc hội năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2007.
Đại biểu Quốc hội được pháp luật quy định cho thẩm quyền giám sát văn bản
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương
vào đó ban hành ra các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chức năng quản lý
nhà nước của ngành, lĩnh vực mình đang quản lý.
Nội dung kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội
sau khi văn bản được ban hành quy định tại điều 88 Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật năm 2008 bao gồm:
- Sự phù hợp của văn bản Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.23
Pháp lệnh có giá trị pháp lý thấp hơn Hiến pháp và luật nhưng trong hệ thống
văn bản dưới luật nó lại có giá trị pháp lý cao. Vì vậy khi xây dựng pháp lệnh phải dựa
trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và luật.
Nghị quyết là văn bản được ban hành nhằm giải thích Hiến pháp, luật, pháp
lệnh giúp cho việc áp dụng văn bản pháp luật được đúng với tinh thần của văn bản luật
được ban hành. Chính vì vậy mà việc ban hành nghị quyết của Ủy ban thường vụ
Quốc hội cần phải bám sát vào các quy định của văn bản luật để giải thích cụ thể, rõ
ràng thống nhất với văn bản mà nghị quyết cần hướng dẫn. Bên cạnh đó nghị quyết
được ban hành cũng cần phải thống nhất, không chồng chéo mâu thuẫn với hệ thống
pháp luật.
- Sự phù hợp của hình thức văn bản với nội dung của văn bản đó.24 Mỗi văn
bản quy phạm pháp luật đều có tên gọi khác nhau phù hợp với nội dung văn bản được
quy định tại điều 11 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008. Cho nên
khi ban hành văn bản pháp lệnh, nghị quyết Ủy ban thường vụ Quốc hội phải thể hiện
đúng nội dung đã được Quốc hội giao.
- Sự phù hợp của nội dung văn bản với thẩm quyền của cơ quan ban hành văn
25
bản. Chỉ có Ủy ban thường vụ Quốc hội mới có quyền ban hành nghị quyết để giải
thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh. Như vậy thẩm quyền giải thích pháp luật thuộc về
Ủy ban thường vụ Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện nhiệm vụ của
mình thông qua việc ban hành nghị quyết với nội dung giải thích Hiến pháp, luật và
hành.
2.2.3. Kết quả xử lý sau khi kiểm tra
Sau khi cơ quan có trách nhiệm thẩm định dự án, dự thảo nghị quyết của Ủy
ban thường vụ Quốc hội do Chính phủ trình đóng góp ý kiến thẩm định thì cơ quan
soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định.27
Sau khi xem xét kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban
thường vụ Quốc hội ban hành có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của
Quốc hội:
Nếu văn bản được xem xét trái với văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội
thì Ủy thường vụ Quốc hội phải sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng
một văn bản quy phạm pháp luật khác theo quy định tại khoản 1, điều 9 Luật ban hành
văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, hoặc Quốc hội có quyền bãi bỏ một phần hoặc
toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái luật đó28.
Nếu văn bản được xem xét không trái với văn bản quy phạm pháp luật của
Quốc hội thì “Quốc hội ra nghị quyết về việc văn bản quy phạm pháp luật không trái
với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội”29.
Thông qua việc thực hiện quyền giám sát của mình thì khi phát hiện văn bản
quy phạm pháp luật của Uỷ ban thường vụ Quốc hội có dấu hiệu trái với Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội thì đại biểu Quốc hội đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc
xử lý văn bản mà mình ban hành trái đó theo quy định của pháp luật và có trách nhiệm
xem xét, trả lời đại biểu Quốc hội. Trong trường hợp Ủy ban thường vụ Quốc hội
không thực hiện đề nghị sửa đổi hoặc hủy một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm
pháp luật trái với hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội theo yêu cầu của Đại biểu
Quốc hội thì yêu cầu Uỷ ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội xem xét, quyết định
tại kỳ họp gần nhất.30
Như vậy mặc dù Đại biểu Quốc hội được quyền đề nghị việc sửa đổi hoặc hủy
bỏ văn bản quy phạm pháp luật nhưng việc thực hiện hay không thì còn phụ thuộc vào
Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội quyết định.
27
văn bản được ban hành, hoặc cả từ khi soạn thảo cho đến khi văn bản được ban hành
và có hiệu lực.
2.3.2. Nội dung kiểm tra
Theo điều 88 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, nội dung
giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được quy định chung cho tất cả các văn
bản quy phạm pháp luật trong đó có văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước
bao gồm: Sự phù hợp của văn bản Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và văn
bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; Sự phù hợp của hình thức văn
bản với nội dung của văn bản đó; Sự phù hợp của nội dung văn bản với thẩm quyền
của cơ quan ban hành văn bản; Sự thống nhất giữa văn bản quy phạm pháp luật hiện
hành với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành của cùng một cơ quan.
Mỗi văn bản quy phạm pháp luật đều có tên gọi khác nhau phù hợp với nội
dung văn bản được quy định tại điều 11 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
năm 2008. Ví dụ: Văn bản quy phạm pháp luật do Chủ tịch nước ban hành có nội dung
công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh thì văn bản đó được ban hành dưới hình thức là
Lệnh. Văn bản có nội dung công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh; tuyên bố tình trạng
chiến tranh; tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố bãi bỏ tình trạng khẩn cấp
thì thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước, và chỉ có Chủ tịch nước mới có thẩm quyền
ban hành văn bản có nội dung trên.
2.3.3. Kết quả xử lý sau khi kiểm tra
Sau khi văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực mà Chủ tịch nước tự kiểm tra
văn bản quy phạm pháp luật mình ban hành, nếu nhận thấy trái với Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội thì Chủ tịch nước tự mình sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ
hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật bằng một văn bản quy phạm pháp luật khác.32
31
Điều 3, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003.
32
hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng và thi hành pháp luật, kiểm tra
văn bản quy phạm pháp luật. Do đó Bộ Tư pháp là cơ quan có trách nhiệm thực hiện
việc thẩm định dự thảo nghị định, dự thảo quyết định Chính phủ, Thủ tướng chính
phủ.36
Luật không quy định trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải tiến hành kiểm tra văn
bản. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan hoạt động
thực hiện nhiệm vụ tư pháp, các văn bản quy phạm pháp luật mà Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành dựa theo các
văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng. Cho nên trong quá trình soạn thảo ban hành
văn bản không quy định việc kiểm tra.
Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật sau khi ban hành được quy định thông
qua hoạt động giám sát:
33
Điều 10 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003.
34
Điều 10 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003.
Điều 63, 67 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.
35
36
Điều 1, Nghị định số 22/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp.
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
ban hành theo điều 88 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.
Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Vì
vậy các văn bản quy phạm pháp luật của các chủ thể trên ban hành phải phù hợp với
văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, của cơ quan nhà nước cấp trên, đúng thứ
bậc hiệu lực pháp lý trong hệ thống pháp luật.
Mỗi văn bản quy phạm pháp luật đều có tên gọi khác nhau phù hợp với nội
dung văn bản được quy định tại điều 11 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
năm 2008. Ví dụ: Văn bản quy phạm pháp luật do Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao
ban hành có nội dung quản lý các Tòa án nhân dân địa phương và Tòa án quân sự về tổ
chức thì văn bản được ban hành đó phải có tên gọi là Thông tư.
37
Điều 3, 18 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003.
38
Điều 27 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003.
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
Trang 23
SVTH: Nguyễn Thị Phƣợng
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương
Chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật chỉ được ban
hành các văn bản có nội dung phù hợp với thẩm quyền của mình được quy định trong
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ: Văn bản quy phạm pháp luật có nội
39
Điều 63, 67 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.
40
Điều 14, 26 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003.
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
Trang 24
SVTH: Nguyễn Thị Phƣợng
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương
hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản quy phạm pháp luật khác theo quy định tại
khoản 1 điều 9 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.
Nếu văn bản quy phạm pháp luật được xem xét không trái với văn bản quy
phạm pháp luật của Quốc hội thì Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết
về việc văn bản quy phạm pháp luật không trái với văn bản quy phạm pháp luật do
Quốc hội ban hành; Ủy ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết về việc văn bản quy
phạm pháp luật không trái với văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban thường vụ Quốc
hội ban hành.41
Như vậy ngoài cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quyền hủy bỏ
hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
hội, còn có duy nhất Quốc hội mới có quyền hủy bỏ các văn bản quy phạm pháp luật
do các cơ quan khác ban hành trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giám sát văn bản quy phạm pháp luật do
Điều 30 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003.
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
Trang 25
SVTH: Nguyễn Thị Phƣợng