Khóa luận tốt nghiệp
Học viện ngân hàng
ĐỀ TÀI
Giải pháp phát triển dịch vụ kiều hối tại ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi
nhánh tỉnh Thái Bình
SVTH: Nguyễn Thị Nhạn
Lớp: TTQTA _K11
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Nguyễn Thị Nhạn Lớp: TTQTA _K11
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, Nhà nước và Chính phủ đã ban hành hàng loạt
các văn bản pháp luật, cơ chế chính sách kinh tế thông thoáng với mục tiêu đẩy
nhanh tiến trình hội nhập toàn diện nền kinh tế Việt Nam.Pháp lệnh ngoại hối đã
có hiệu lực theo hướng tự do hóa, thị trường ngoại hối được phát triển theo
hướng mở cửa thì lượng kiều hối về Việt Nam đã tăng mạnh và tiếp tục là nguồn
đầu tư giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế đất nước.
Đề xuất giải pháp và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao chất
lượng dịch vụ kiều hối tại ngân hàng Agribank chi nhánh Thái Bình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động cung ứng dịch vụ kiều hối của ngân hàng nông
nghiệp Thái Bình thông qua các chính sách và công tác điều hành khoảng từ năm
2000 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu là phân tích và tổng hợp dự trên nền tảng lý luận
nghiệp vụ ngân hàng gắn với thực tiễn hoàn cảnh ở Việt Nam. Trên quan điểm
phương pháp lý luận duy vật biện chứng và hệ thống cấu trúc gắn với cơ chế
chính sách kinh tế và đổi mới hoạt động ngân hàng theo hướng hiện đại hóa.
Phương pháp thống kê và phương pháp toán kinh tế.
5.Kết cấu của khóa luận
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ kiều hối của ngân hàng thương
mại.
Chương 2: Thực trạng dịch vụ kiều hối tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn chi nhánh tỉnh Thái Bình.
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ kiều hối tại ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn chi nhánh tỉnh Thái Bình .
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Nguyễn Thị Nhạn Lớp: TTQTA _K11
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ KIỀU HỐI CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Những vấn đề cơ bản về dịch vụ kiều hối của Ngân hàng thương mại
nhập khẩu, chịu hạn ngạch, chịu kiện bán phá giá, chi phí tiếp thị quảng cáo "
Như vậy có thể hiểu: " Kiều hối là nguồn tài chính do cá nhân là người
Việt Nam hay người nước ngoài đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài
chuyển về Việt Nam."
1.1.1.2 Khái niệm dịch vụ kiều hối
Dịch vụ kiều hối là sản phẩm dịch vụ của ngành ngân hàng phát sinh
trong quá trình thực hiện các ủy nhiệm của kiều hối chuyển tiền ở nước ngoài để
chuyển và trả tiền tới người hưởng cá nhân trong nước với mục đích viện trợ,
giúp đỡ và đầu tư không liên quan đến hàng hóa và dịch vụ.
Các khái niệm cơ bản liên quan đến dịch vụ kiều hối:
Theo Pháp lệnh ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11:
Ngoại hối bao gồm:
+ Đồng tiền của các quốc gia khác hoặc đồng tiền chung Châu Âu và đồng
tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực.
+ Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ gồm Séc, thẻ thanh toán, hối phiếu
đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác.
+ Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ bao gồm trái phiếu chính phủ, trái
phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác.
+ Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài người
cư trú, vàng dưới dạng khối, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra
khỏi lãnh thổ Việt Nam.
+ Đồng tiền của nước Cộng hòa XHCNVN trong trường hợp chuyển vào và
chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tê.
Giao dịch vãng lai là giao dịch giữa người cư trú với người không cư trú
không vì mục đích chuyển vốn.
Thanh toán và chuyển tiền đối với các giao dịch vãng lai bao gồm:
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Nguyễn Thị Nhạn Lớp: TTQTA _K11
+ Các khoản thanh toán chuyển tiền và liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu
người thân không liên quan đến thanh toán xuất nhập khẩu hàng hóa dịch vụ.
Dịch vụ chi trả kiều hối có thể là dịch vụ chi trả tiền nội địa hoặc quốc tế.
Việc chi trả kiều hối nội địa diễn ra khi có sự di trú từ khu vực nông thôn ra
thành thị. Còn việc chi trả kiều hối quốc tế chỉ diễn ra khi có sự di trú từ nước
này sang nước khác. Tuy nhiên, mục đích của khóa luận là tập trung vào dịch vụ
chi trả kiều hối quốc tế. Theo ngân hàng Thế giới (WB):" Dịch vụ chi trả kiều
hối là dịch vụ thanh toán xuyên quốc gia từ cá nhân này đến cá nhân khác, với
những món tiền có giá trị tương đối thấp".Dịch vụ này chỉ diễn ra khi có sự di
trú.
Do đó, chi trả kiều hối có thể hiểu là dịch vụ chuyển tiền từ một cá nhân,
là người không cư trú cho một cá nhân khác là người cư trú thường là thân nhân
của họ, để giúp đỡ, hỗ trợ cũng như đầu tư cho chính nơi mà họ đã sinh ra.
1.1.2 Vai trò của dịch vụ kiều hối đối với NHTM
Khi nghiên cứu hoạt động dịch vụ kiều hối của ngân hàng trên góc độ là
nghiệp vụ trung gian, thì dịch vụ kiều hối ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động huy
động vốn và các hoạt động kinh doanh ngân hàng khác. Về mặt kỹ thuật nghiệp
vụ này được thực hiện thông qua các phương tiện lưu thông tín dụng như :Séc,
thư chuyển tiền, điện chuyển tiền ít khi phải chu chuyển bằng tiền mặt, trừ khi
số dư tồn khoản cuối năm mà giữa hai ngân hàng không thể tiến hành bù trừ
xong trong năm đó. Ngoài ra việc nhận và chi trả kiều hối là một nghiệp vụ đang
được các ngân hàng chú trọng phát triển vì:
Thứ nhất, đây là một nghiệp vụ tiềm năng mang lại nhiều lợi nhuận. Hơn
nữa, so với các lĩnh vực kinh doanh khác của ngân hàng, dịch vụ kiều hối là an
toàn hơn mà lại không phải bỏ vốn vì ngân hàng chỉ đóng vai trò là trung gian.
Không những thế, hoạt động cung ứng dịch vụ kiều hối còn góp phần tăng nguồn
vốn lưu động trong kinh doanh cho ngân hàng thông qua việc lợi dụng khoản
ngoại tệ của ngân hàng nước ngoài mở tài khoản tại ngân hàng mình hay việc sử
dụng nguồn ngoại tệ của khách hàng để kinh doanh.
Thứ hai, dịch vụ kiều hối giúp kiều bào tiết kiệm chi phí trên một phạm vi
hoạt động càng mạnh, có hiệu quả và có uy tín. Nó vừa là một yếu tố giúp ngân
hàng nâng cao hiệu quả vừa có thể được coi là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Nguyễn Thị Nhạn Lớp: TTQTA _K11
động của ngân hàng.
1.1.3 Hệ thống cung ứng dịch vụ kiều hối
1.1.3.1 Hệ thống cung cấp dịch vụ kiều hối chính thức
Sơ đồ 1.1: Các giai đoạn trong hệ thống cung cấp dịch vụ kiều hối chính thức
ở Việt Nam
.
Những hệ thống cung cấp dịch vụ chính thức là những hệ thống hoạt động
theo hệ thống tài chính có điều tiết. Trong hệ thống này, những tổ chức liên quan
đến hoạt động cung cấp dịch vụ đều chịu sự giám sát bởi các cơ quan của Chính
phủ và pháp luật. Hệ thống chi trả chính thức gồm có: Ngân hàng, các dịch vụ
thuộc bưu chính, những tổ chức chuyển tiền các dịch vụ chuyển tiền bằng điện
khác Ở Châu Á, hệ thống ngân hàng và các dịch vụ bưu chính đưa ra các sản
phẩm dịch vụ kiều hối đáng tin cậy ở cả nước nhận cũng như nước chuyển tiền.
Một trong những thành viên quan trọng của hệ thống này là: tổ chức
chuyển tiền (MTO- money transfer organization). Họ là những người cung cấp
kiều hối
.
Người
nhận
tiền ở
Việt
Nam
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Nguyễn Thị Nhạn Lớp: TTQTA _K11
cấp dịch vụ kiều hối trên thị trường hiện nay đó là Western Union và Money
Gram ; Western Union có hơn 400.000 đại lý ở 200 quốc gia và vùng lãnh thổ;
Money Gram đang hoạt động ở 190 quốc gia với 227.000 đại lý. Họ thâm nhập
vào thị trường Châu Á vào cuối thập kỷ qua và đang hoạt động hầu hết tại các
nước gửi và nhận kiều hối ở Châu Á.
Thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ được sử dụng để rút tiền ở các máy rút tiền tự
động ở nhiều nước nhận kiều hối. Hình thức rât được phổ biến tại thị trường kiều
hối ở Châu Mỹ la tinh. Loại hình này tương đối nhanh và rẻ hơn, nhưng vẫn
chưa tiếp cận được với dân lao động di cư ở Châu Á vì đa số những dân lao động
di cư tay nghề thấp thì không tiếp cận được với các dịch vụ ngân hàng ở cả nước
người nhận và nước gửi.
Chúng ta cũng có thể phân chia dịch vụ nhận chi trả kiều hối trong hệ
thống chính thức này căn cứ theo cách thức mà các điểm tiếp cận được hình
thành và liên kết thành những loại hình sau:
Dịch vụ đơn phương: Là một sản phẩm đăng ký độc quyền bởi một nhà
cung cấp dịch vụ chi trả kiều hối cung cấp mà không liên quan đến các đơn vị
khác như: đại lý tiếp nhận và chi trả tiền.
Dịch vụ nhượng quyền: Là khi nhà cung cấp trung tâm thấy không cần
thiết phải có bất kỳ điểm tiếp cận nào của chính mình thì sẽ cung cấp dịch vụ
được đăng ký độc quyền.
ty nói trên. Như vậy, dịch vụ chuyển tiền chỉ là một chức năng phụ của các đại lý
này.Các đại lý này chịu sự điều chỉnh bằng các quy định do trung tâm phân tích
báo cáo và giao dịch tài chính Canada ban hành. Tuy nhiên, trong thực tế các đại
lý này tỏ ra không mấy tôn trọng nghĩa vụ pháp lý của họ nên làm dấy lên
những lo ngại rằng sự lạm dụng tín dụng có thể xuất hiện ở khu vực này.
Chuyển tiền tay ba là hình thức chuyển tiền được thực hiện bằng việc ghi
sổ và bù trừ trên tài khoản của các bên tham gia. Dòng chuyển tiền này đi kèm
với dòng chu chuyển các hàng hóa dịch vụ bởi vì người cung ứng dịch vụ
chuyển tiền này có hoạt động kinh doanh tại một địa bàn cụ thể như kinh doanh
các sản phẩm băng hình, kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng hóa hay kinh
doanh tạp hóa.
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Nguyễn Thị Nhạn Lớp: TTQTA _K11
Chuyển tiền trực tiếp là hình thức chuyển tiền mà các cá nhân tự mang
tiền về. Theo quy định của Việt Nam, mỗi cá nhân có quyền mang đối đa
3000USD vào Việt Nam nhưng trong thực tế, người ta có thể mang nhiều hơn
thế mà không cần khai báo.
Còn rất nhiều người chuyển tiền vẫn ưa chuộng hình thức này do sử dụng
hình thức này họ tránh được các khoản thuế , cũng như các khoản chênh lệch về
phí và thời gian so với hình thức khác. Vì vậy, để khuyến khích người chuyển
tiền sử dụng dịch vụ kiều hối qua hệ thống chính thức thì đòi hỏi Chính phủ
cũng như các nhà cung cấp dịch vụ kiều hối phải có những chính sách phù hợp
và thỏa đáng cho người nhận tiền và người chuyển tiền.
Với phạm vi của đề tài, tác giả chỉ xin đề cập tới cách thức nhận và chi trả
kiều hối qua hệ thống cung cấp dịch vụ kiều hối chính thức mà đặc trưng là hệ
thống NHTM, mà không nghiên cứu về hệ thống cung cấp dịch vụ kiều hối
không chính thức.
1.2 Phát triển dịch vụ kiều hối của Ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm phát triển dịch vụ kiều hối
mà còn giúp ngân hàng mua được ngoại tệ, tăng nguồn tiền gửi và bán chéo
được các sản phẩm khác cho người nhận tiền kiều hối, đồng thời nâng cao được
uy tín và thương hiệu của ngân hàng với khách hàng.
Vì vậy, để tăng thêm lợi nhuận từ dịch vụ kiều hối, việc tiếp tục đẩy mạnh
phát triển dịch vụ là rất cần thiết. Để giúp khách hàng chuyển, nhận tiền từ nước
ngoài về Việt Nam được nhanh chóng, an toàn và chi phí thấp, các ngân hàng
cần thiết lập nhiều kênh chuyển tiền trực tiếp từ nước ngoài về Việt Nam, đặc
biệt từ các quốc gia có nhiều kiều bào và lao động xuất khẩu của Việt Nam. Các
ngân hàng phối hợp với nhiều đối tác nước ngoài triển khai nhiều sản phẩm kiều
hối mang lại tiện ích tối đa cho khách hàng như dịch vụ chuyển tiền nhanh
Western Union, Moneygram, dịch vụ chuyển tiền trong ngày từ Mỹ về Việt Nam
Wells Fargo ExpressSend, dịch vụ chuyển tiền kiều hối online, dịch vụ chuyển
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Nguyễn Thị Nhạn Lớp: TTQTA _K11
tiền qua điện thoại di động mobile phone Hầu như ngân hàng nào cũng triển
khai công nghệ kiều hối hiện đại cho phép xử lý giao dịch kiều hối tập trung với
mức độ tự động cao. Hệ thống cho phép người nhận tiền có thể lĩnh tiền tại bất
cứ điểm giao dịch nào của NH trên toàn quốc. Các ngân hàng tăng cường hợp tác
với các công ty xuất khẩu lao động cung ứng gói sản phẩm trọn gói cho người
lao động như: Cho vay vốn, mở tài khoản, quản lý tiền ký quỹ, chuyển thu nhập
về nước, gửi tiết kiệm kiều hối
1.2.3. Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ kiều hối của NHTM
1.2.3.1. Chỉ tiêu định lượng
Doanh số của dịch vụ kiều hối: Doanh số dịch vụ kiều hối là số tiền kiều
hối được chuyển qua ngân hàng, là chỉ tiêu tuyệt đối cho phép xác định quy mô
của dịch vụ kiều hối tại ngân hàng. So sánh chỉ tiêu này qua các thời điểm hay
thời kì khác nhau sẽ thấy được mức độ phát triển dịch vụ kiều hối tại ngân hàng.
Doanh số dịch vụ kiều hối của một ngân hàng bao gồm số lượng tiền chuyển từ
nước ngoài về trong nước qua các kênh chuyển tiền kiều hối của ngân hàng trong
thống và tin tưởng ngân hàng thì ngân hàng càng khẳng định sự lớn mạnh của
mình
1.2.3.1 Chỉ tiêu định tính
Tốc độ xử lý và chi trả kiều hối: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ nhanh
chóng để thực hiện xong giao dịch của ngân hàng. Thời gian giao dịch này được
xác định dựa trên những yêu cầu giao dịch và mục tiêu đặt ra của ngân hàng.
Việc chi trả nhanh chóng và chính xác, phục vụ tốt khách hàng của mình thể
hiện sự chuyên nghiệp trong hoạt động của ngân hàng.
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Nguyễn Thị Nhạn Lớp: TTQTA _K11
Sự tin cậy của khách hàng đối với dịch vụ của ngân hàng: Chính là khả
năng cung cấp dịch vụ như đã hứa một cách tin cậy chính xác. Sự tin cậy là động
cơ đưa khách hàng tìm đến với ngân hàng.
Tinh thần trách nhiệm và mức độ đảm bảo về dịch vụ của ngân hàng: Là
sự nhiệt tình trong thái độ đón tiếp, giúp đỡ khách hàng tích cực. Trong trường
hợp có sai sót thì có khả năng phục hồi nhanh chóng để mang lại cảm nhận tốt về
chất lượng.
Rủi ro xảy ra và số lỗi phát sinh: Chất lượng dịch vụ càng cao thì tỷ lệ rủi
ro và số lỗi phát sinh càng thấp. Chỉ tiêu này biểu hiện ở việc không để xảy ra
các lỗi trong khi chi trả kiều hối cho khách hàng như: Hạch toán nhầm tài khoản
dẫn đến sai số tiền, chọn nhầm loại tiền tệ và màn hình khi thực hiện, không
kiểm tra và đối chiếu đầy đủ các thông tin của người hưởng.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ kiều hồi tại các Ngân
hàng thương mại
1.2.4.1. Nhân tố khách quan
Tình hình kinh tế- chính trị - xã hội:
Tình hình chính trị của một quốc gia có ảnh hưởng đến tất cả các hoạt
động kinh tế của quốc gia đó. Môi trường chính trị trong nước ổn định tất yếu sẽ
làm cho các nhà đầu tư yên tâm hơn khi bước vào kinh doanh. Đây sẽ là nền
lao động (XKLĐ); thứ hai là di trú vĩnh viễn (permanent migrant). Vấn đề di trú
thường được thảo luận như một tổng thể bao gồm cả hai hình thức di trú, xoáy
mạnh vào hai điểm chính: những ảnh hưởng của kiều hối (remittance) do chính
sách di trú mang lại đối với đời sống dân nghèo và sự phát triển kinh tế của các
quốc gia đang phát triển .
Khi nền kinh tế thế giới gặp khủng hoảng, kém ổn định, lượng người ra
nước ngoài hay XKLĐ cũng giảm , kéo theo đó là sự sụt giảm lượng kiều hối.
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Nguyễn Thị Nhạn Lớp: TTQTA _K11
Chính vì vậy, theo dõi tình hình di trú hàng năm ảnh hưởng không nhỏ đến sự
phát triển của kiều hối về nước.
Môi trường pháp lý:
Dịch vụ kiều hối là một dịch vụ kinh tế, nó không chỉ ảnh hưởng đến
người gửi tiền và thân nhân của họ, mà còn ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng
và thậm chí là cả nền kinh tế đất nước. Vì thế nó không chỉ chịu sự chi phối của
các quyết định của ngân hàng mà còn chịu sự chi phối của pháp luật đất nước.
Các chính sách ưu đãi kiều bào và người ở nước ngoài cũng ảnh hưởng lớn đến
lượng kiều hối đổ về nước. Môi trường pháp lý thông thoáng sẽ là điều kiện để
dịch vụ kiều hối phát triển hơn nữa.
Những yếu tố từ phía khách hàng
Người gửi tiền và thân nhân của họ ( người nhận tiền ) là những chủ thể
quan trọng tham gia vào quá trình chuyển tiền kiều hối và ảnh hưởng rất lớn đến
sự phát triển của dịch vụ này.Yếu tố quan trọng đầu tiên phải kể đến đó là nhận
thức và thói quen sử dụng dịch vụ của họ. Nếu như họ tìm hiểu về dịch vụ kiều
hối và các tiện ích mà ngân hàng mang lại từ dịch vụ này sẽ là một thuận lợi lớn
cho ngân hàng trong việc phát triển hơn nữa dịch vụ này.
1.2.4.2 Nhân tố chủ quan
Năng lực tài chính và quy mô hoạt động
Nếu ngân hàng có năng lực tài chính (vốn) lớn mạnh, quy mô hoạt động
kênh chuyển tiền. Bên cạnh năng lực trình độ, sự phục vụ nhiệt tình, chu đáo của
nhân viên ngân hàng đối với khách hàng cũng góp phần gia tăng hình ảnh của
ngân hàng qua đó thu hút khách hàng.
Trang thiết bị, công nghệ thông tin của ngân hàng
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Nguyễn Thị Nhạn Lớp: TTQTA _K11
Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng. Đây là cơ sở để dịch vụ kiều hối được nhanh chóng, chính xác và
an toàn . Công nghệ mới cho phép ngân hàng đổi mới quy trình nghiệp vụ, giúp
cho việc thực hiện các nghiệp vụ dễ dàng, thuận lợi, nhanh chóng hơn. Một hệ
thống công nghệ thông tin mà khả năng kết nối chậm, các chương trình không
được chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế, khả năng nhập, xuất dữ liệu thấp thì
không thể đáp ứng yêu cầu quốc tế. Vì vậy, các ngân hàng hiện nay đang tích
cực hiện đại hóa công nghệ thông tin, từ đó nâng cáo chất lượng phục vụ khách
hàng, tăng tính cạnh tranh, nhất là trong điều kiện kinh tế hội nhập hiện nay.
Chất lượng các dịch vụ liên quan
Ngoài các sản phẩm truyền thống như : nhận và chi trả kiều hối, cho vay
XKLĐ còn có chính sách bán chéo sản phẩm để bán chéo sản phẩm bảo hiểm
nhân thọ và phi nhân thọ qua mạng lưới giao dịch của mình để khuyến khích
khách hàng sử dụng dịch vụ.Các dịch vụ điện tử như SMS Bank, dịch vụ Vn
Topup, Atranfer, VnMart, Apaybill nhằm khắc phục những khó khăn về không
gian và thời gian trong giao dịch tăng tốc độ xử lý công việc. Các dịch vụ này
phát triển sẽ tạo được một dịch vụ ngân hàng quốc tế khép kín, tạo điều kiện
thuận lợi, tiết kiệm thời gian và chi phí cho khách hàng. Hơn nữa, nó còn tăng
khả năng phòng chống rủi ro, tăng các khoản thu phí dịch vụ cho ngân hàng.
1.3 Kinh nghiệm về dịch vụ kiều hối của một số NHTM quốc tế và bài học
đối với ngân hàng thương mại Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm của các quốc gia trên Thế Giới và khu vực về thu hút
nguồn lực kiều hối
I
n
d
i
a
C
h
i
n
a
M
e
x
i
c
o
P
h
i
l
i
p
p
i
n
e
s
E
g
y
t
N
a
m
L
e
b
a
m
o
n
Countries
US$billion
. (Nguồn The World Bank)
1.3.1.1 Tại Ấn Độ
Khi Ấn Độ chuyển từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp
cao,nhiều Ấn Kiều đã tìm thấy ở quê nhà cái đã khiến họ ra đi: cơ hội kinh tế.
Thế mạnh lớn nhất của Ấn Kiều là nguồn chất xám.Bằng chứng rõ rệt
nhất là vô số người Ấn đang làm việc tại Silicon Vallrey, trung tâm công nghệ
cao của thế giới. Nhờ sự thay đổi thái độ từ trong nước, rất nhiều tài năng công
nghệ gốc Ấn đã lần lượt rời bỏ Silicon Vallrey, để về nước tiếp nhiên liệu cho
cuộc bùng nổ công nghệ cao đang diễn ra.Cụ thể, một tỷ phủ tập đoàn Google là
Ram Shriram đang cấp vốn cho nhiều doanh nghiệp Ấn Độ. Người sáng lập
Hotmail là Sabeer Bhatia có kế hoạch đầu tư 2 tỷ USD vào một dự án hạ tầng ở
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Nguyễn Thị Nhạn Lớp: TTQTA _K11
Haryana, mà ông tun rằng sẽ là Silicon Vallrey thứ hai của thế giới.
Hiện nay, 20 công ty phần mềm của Ấn Độ đang được hỗ trợ bởi các Ấn
chiếm đa số với khoảng 31 triệu người chiếm 78% số lượng Hoa Kiều trên toàn
thế giới. Tiếp theo đến châu mỹ với khoảng 6 triệu người, châu Âu 1,5 triệu
người, châu Phi 500 nghìn người, châu Úc 1 triệu người. . Không chỉ là kiều hối
mà vốn đầu tư của cộng đồng này theo OECD ước tính là đóng góp 45% tổng
vốn FDI vào Trung Quốc năm 2004 và theo thống kê của chính phủ Trung Quốc
thì luồng vốn đầu tư từ HongKong, Macao, Đài Loan chiếm đến 48% tổng số
vốn đầu tư FDI vào Đại Lục Trung Quốc trong giai đoạn(1985-2008). Do đó thu
hút ngày càng nhiều dòng vốn FDI cũng như kiều hối từ cộng đồng Hoa Kiều và
sử dụng tốt nguồn lực này trong những năm qua ở Trung Quốc là một kinh
nghiệm đáng để Việt Nam học tập.
Với sự hồi hương của đông đảo Hoa kiều cũng như sự gia tăng mạnh mẽ
luồng đầu tư trực tiếp của các Hoa kiều, kiều hối của Trung Quốc gia tăng mạnh
mẽ trong những năm gần đây.Cụ thể trong năm 2005 là 21,3 tỷ USD, năm 2007
là 24,7 tỷ USD, năm 2009 đạt 40,6 tỷ USD, năm 2010 đạt 51 tỷ USD , và năm
2011 đạt 62 tỷ USD đứng thứ 2 trên thế giới.
1.3.1.3 Tại Mexico
Theo thống kê của IMF thì Mêxico là nước có lượng kiều hối đứng hàng
thứ 3 trên thế giới (24 tỷ USD) sau Ấn Độ và Trung Quốc. Ước tính trung bình
khoảng 20 tỷ USD trong vòng 5năm trở lại đây. Nguồn kiều hối này đa phần đến
từ cộng đồng hơn 30 triệu người gốc Mexico và người Mexico đang sinh sống và
làm việc tại Mỹ. Đây là cộng đồng Mexico đông đảo nhất trên thế giới và chiếm
khoảng 82% tổng số người Mexico ở nước ngoài. Do đó nguồn kiều hối từ Mỹ
chiếm khoảng 90% tổng số tiền mà Mexico nhận được hàng năm. Và với nguồn
kiều hối lớn như vậy chính phủ Mexico và chính quyền các bang đã có những
sáng kiến để sử dụng hiệu quả nguồn lực này nhằm cải thiện và nâng cao mức
sống của người dân và đây cũng là những kinh nghiệm hay cho Việt Nam có thể
tham khảo
Ở Mexico nhiều thập niên về trước, hơn 70% lượng kiều hối được chuyển
về nước qua những kênh không chính thống. Việc này gây rất nhiều khó khăn
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Theo ngân hàng trung ương Philippines, sở dĩ lượng kiều hối tăng ổn định
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Nguyễn Thị Nhạn Lớp: TTQTA _K11
là do số người Philippines lao động ở nước ngoài tăng. Ngoài ra, việc triển khai
những công nhân có tay nghề cao hơn, tiền lương cao hơn cũng là một lý do
khiến lượng kiều hối gia tăng. Đa số các khoản tiền được gửi từ Mỹ, Arab Saudi,
Nhật Bản, Hồng Kong, Anh và các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất và
Singapore.
1.3.2 Bài học đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam
Từ kinh nghiệm của các nước nêu trên, với thực trạng của hệ thống ngân
hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay đang trong quá trình hội nhập quốc tế,
khủng hoảng kinh tế Thế giới ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, các sản phẩm
dịch vụ kinh doanh ngân hàng còn chưa phong phú và đa dạng, khóa luận rút ra
những bài học có thể áp dụng trong quá trình nâng cao chất lượng cung ứng dịch
vụ kiều hối :
Một là, hoạt động đa năng, cung cấp đa dịch vụ ngân hàng, tăng tỷ lệ bán
chéo sản phẩm ngân hàng, sản phẩm trọn gói là một xu thế tất yếu của quá trình
phát trình trong tiến trình hội nhập quốc tế của nền kinh tế Việt Nam nói chung
và hệ thống ngân hàng thương mại nói riêng.
Hai là, hướng phát triển đúng đắn là đa năng, đa dạng hóa hoạt động ngân
hàng, mở rộng và nâng cao hiệu quả đối với các loại hình dịch vụ truyền thống
như: cho vay xuất khẩu lao động, gửi tiết kiệm ngoại tệ, chi trả VND tại quầy
Ba là, tận dụng ưu thế về mạng lưới để phát huy tối đa nguồn nhân lực dồi
dào nhằm tăng tính cạnh tranh cho ngân hàng và phục vụ nhu cầu của khách
hàng.
Bốn là, nền tảng của nâng cao chất lượng dịch vụ kiều hối là phát triển
công nghệ. Như vậy, vấn đề đặt ra là đầu tư máy móc thiết bị vừa phải theo mức
độ chung của khu vực nhưng phải có hiệu quả, mạnh dạn đầu tư công nghệ,
tuyên truyền, quảng cáo, tiếp thị đặc biệt là tăng cường sự hợp tác với các thể