Xây dựng kế hoạch bảo vệ môi trường cho quận Gò Vấp đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 - Pdf 10


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM
KHOA MÔI TRƯỜNG & CÔNG NGHỆ SINH HỌC ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Đề Tài:

XÂY DỰNG KẾ HOẠCH BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG CHO QUẬN
GÒ VẤP ĐẾN NĂM 2015 VÀ
ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020

Chuyên ngành : Kỹ Thuật Môi Trường
Mã Số Ngành : 108

GVHD : ThS. TRẦN THỊ TƯỜNG VÂN
SVTH : NGUYỄN THỊ THANH THÚY
LỚP : 08HMT1
MSSV : 08B1080070

Bắc nơi rộng nhất khoảng 5,9 km. Địa chất công trình đa dạng, có khu vực địa hình
cao thích hợp xây dựng các công trình lớn. Cơ cấu chuyển dịch đất đang theo hướng
đất chuyên dùng, đất ở và đất xây dựng công trình giao thông, giảm diện tích đất
nông nghiệp.
Quá trình đô thị hoá nhanh đã làm cho Gò Vấp trở thành một trong ba quận có tốc
độ tăng dân số cao nhất thành phố. Năm 1995 là 223.000 người, năm 2005 là
453.551 người, năm 2006 là 491.122, năm 2007 là 503.139 người và năm 2010 là
560.000 người.
Trên địa bàn quận Gò Vấp có 4.111 cơ ở sản xuất công nghiệp, chiếm số lượng lớn
là các ngành may, da, giả và sản xuất giấy cuộn … Hầu hết các cơ sở này chưa thực
hiện tốt công tác bảo vệ môi trường về nước thải, khí thải, chất thải rắn … Do đó đây
là các nguồn ô nhiễm tác động trực tiếp đến môi trường xung quanh.
Trước những vấn đề cấp bách như trên, xây dựng kế hoạch bảo vệ môi trường
Quận Gò Vấp đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 là rất cần thiết nhằm đánh
giá hiện trạng cũng như xu thế diễn biến môi trường và từ đó đề xuất các biện pháp
bảo vệ môi trường, khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên từ nay đến
năm 2015 và định hướng đến năm 2020.
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Lồng ghép vấn đề bảo vệ môi trường với việc phát triển kinh tế xã hội quận Gò
Vấp.
- Điều chỉnh hoạt động phát triển công nghiệp, nông nghiệp và khai thác nguồn tài
nguyên thiên nhiên một cách hợp lý nhằm ngăn ngừa ô nhiễm, bảo vệ môi trường
cho quận Gò Vấp.
- Cung cấp cơ sở khoa học nhằm bảo vệ môi trường và sức khoẻ nhân dân để đạt
được sự phát triển bền vững.

Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Tường Vân
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thúy Trang 2
1.3 Nội dung của đề tài
- Thu thập dữ liệu về hiện trạng và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của quận

SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thúy Trang 3
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG VÀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ XÃ HỘI QUẬN GÒ VẤP
2.1 Hiện trạng phát triển kinh tế xã hội
2.1.1 Giới thiệu về thành phố Hồ Chí Minh và quận Gò Vấp
a. Thành phố Hồ Chí Minh
Tp.HCM là thành phố lớn nhất đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, du lịch,
văn hoá, giáo dục lớn nhất của Việt Nam với dân số ước tính khoảng 7 triệu dân,
diện tích là 2.095,01 km
2
gồm 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành.
Tp.HCM co tốc độ phát triển kinh tế khá cao, GDP chiếm 20% cả nước. Các
ngành sản xuất công nghiệp chủ yếu: điện, điện tử (bao gồm điện tử kỹ thuật cao), cơ
khí, hoá chất, phần mềm, dệt may, giày da, luyện kim, dầu khí, sản xuất ô tô, đóng
tàu, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất giấy, chế biến nông, lâm sản và nhiều ngành
công nghiệp khác. Tuy nhiên, cho đến thời điểm 2007, công nghệ sản xuất nhìn
chung của Thành phố Hồ Chí Minh hiện rất lạc hậu. Thành phố Hồ Chí Minh mới
chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại, trong số đó, có 21/212
cơ sở sản xuất của ngành dệt may; 4/40 cơ sở sản xuất của ngành da giày; 6/68 cơ sở
ngành hóa chất; 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ
sở chế tạo máy có trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Trong thời gian
từ năm 1997-2007, ngành công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ tăng
trưởng hàng năm đạt mức bình quân trên 13%. Đến thời điểm 2007, Thành phố Hồ
Chí Minh đã có trên 38.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, tăng 35,9% so với năm
2000. Từ năm 1995 đến nay, chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng nhiều
biện pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp theo hướng tăng dần tỷ trọng các
ngành công nghiệp có có hàm lượng tri thức, hàm lượng khoa học công nghệ cao và
có hiệu quả kinh tế. Ngành hóa chất tăng từ 12,9% lên 18,7%, điện tử-tin học từ
2,9% lên 3,2% Đồng thời, tỷ trọng của các ngành công nghệ thấp, sử dụng nhiều
lao động trong tổng sản lượng công nghiệp của thành phố được giảm xuống như

phẩm để tăng khả năng cạnh tranh. Quận cũng đã quy hoạch khu sản xuất công
nghiệp tập trung tại phuờng 12 với diện tích 40,31 ha với 74 doanh nghiệp đang hoạt
động, đảm bảo xử lý tốt nhiễm môi trường.
2.1.2 Hiện trạng sản xuất công nghiệp
Theo số lượng tổng hợp của phòng kế toán và thống kê quận Gò Vấp năm
2007 toàn quận có 4.111 cơ sở, doanh nghiệp sản xuất công nghiệp đang sản xuất
với số cơ sở sản xuất năm 2008 đã giải quyết việc làm cho hơn 62.000 lao động.
Trong đó thế mạnh của quận là các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, may
mặc, dệt nhuộm và ngành tái chế giấy – bao bì. Ngoài các doanh nghiệp nhỏ đóng
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Tường Vân
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thúy Trang 5
trên địa bàn quận, còn có nhiều doanh nghiệp lớn của Trung ương và Thành phố Hồ
Chí Minh trú đóng như: Công ty may 28, Công ty giày 32, Nhà máy thủy tinh,
Mercedes – Benz, Liên doanh Isuzu, Công ty may Phương Đông,…
Tình hình phát triển các ngành nghề sản xuất tại quận Gò Vấp như sau:
+ Ngành dệt: Một số đơn vị có vốn mạnh đã mạnh dạn bỏ ra hàng tỷ đồng để
nhập các thiết bị hiện đại như máy dệt kiếm, dệt hơi nước, dệt xà, dệt kim, các máy
nhuộm cao áp, máy căng kim định hình, in lụa,… Nhờ có hệ thống dây chuyền sản
xuất hoàn chỉnh, ngành dệt ở Gò Vấp đã làm ra các mặt hàng vải với chất lượng
không thua kém hàng ngoại nhập và năng suất tăng cao so với dệt thủ công. Số
lượng sản phẩm ngành dệt toàn quận năm 2008 đạt 883.000 m, chủ yếu là các cơ sở
tư nhân.
+ Ngành may, giày da: Mặc dù mới phát triển trong những năm gần đây nhưng
là ngành có tốc độ CNH – HĐH rất nhanh và hiện là ngành xuất khẩu chủ lực của
quận. Hiện nay sản phẩm của ngành may mặc ở Gò Vấp đã có mặt ở nhiều nơi trên
thế giới, kể cả Châu Mỹ, Châu Âu, Trung Đông,… với tổng sản phẩm năm 2007 đạt
23,209 triệu sản phẩm may mặc. Ngành giày da cũng đang từng bước phát triển và
hội nhập vào thị trường các nước đến 10,2 triệu đôi năm 2007.
+ Ngành giấy – bao bì: Ngành giấy – bao bì là thế mạnh của Gò Vấp với khoảng
40 cơ sở sản xuất. Giấy – bao bì tạo ra 5.358 tấn năm 2007, tập trung chủ yếu ở các

hoạt động, đảm bảo xử lý tốt ô nhiễm môi trường.
Bảng 2.1: Các cơ sở sản xuất trên địa bàn quận Gò Vấp
Cơ sở Cơ sở sản xuất Giá trị sản xuất (triệu đồng)
Quốc doanh 0 0
Tập thể 1 3.410
Công ty cổ phần 11 194.419
Công ty TNHH 283 1.566.933
Doanh nghiệp tư nhân 152 336.168
Cá thể 3.377 679.618
Tổng cộng
3.824 2.780.548

Nguồn: Niên giám thống kê quận Gò Vấp năm 2007
2.1.3 Hiện trạng ô nhiễm từ sản xuất công nghiệp
Các cơ sở công nghiệp trên địa bàn quận hiện nay hầu hết đều nằm xen lẫn trong
khu dân cư nên hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã và đang
có dấu hiệu ô nhiễm môi trường với mức độ ảnh hưởng còn tùy thuộc vào ngành
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Tường Vân
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thúy Trang 7
nghề và số lượng cơ sở. Danh sách các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường trên
địa bàn quận Gò Vấp được thống kê ở bảng 2.1.
Bảng 2.2: Các cơ sở gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn quận Gò Vấp
STT

Ngành nghề Số
lượng
Nguồn ô nhiễm Ghi chú
1 Xi mạ 08 NT 5 DNTN, 3 cơ sở
2 Dệt nhuộm,giặt tẩy 10 NT, KT 7 DNTN, 3 cơ sở
3 Nhuộm giấy bóng kính 02 NT 2 CƠ SỞ

- Dệt, nhuộm, giặt tẩy vải
- Xeo giấy, in lụa, bao bì
- Chế biến thực phẩm
- Nhựa PE, PVC, Composite
- Cán luyện cao su, vỏ xe
- Giày da
- Nấu đúc kim loại, thủy tinh
- Gỗ, mây tre mỹ nghệ
Nước thải:
Nhìn chung qua đợt khảo sát và kiểm tra môi trường kết hợp giữa Viện Kỹ
thuật nhiệt đới và Bảo vệ môi trường và UBND Quận Gò Vấp thì hầu hết các cơ
sở công nghiệp trên địa bàn quận đều chưa chú trong đến việc xử lý nước thải sản
xuất trước khi thải ra môi trường. Nước thải sản xuất tại các cơ sở thường được
lắng lọc, tách cặn bằng hố ga rồi sau đó thải thẳng ra cống, các kênh rạch trong địa
bàn với nồng độ các chất ô nhiễm thường vượt tiêu chuẩn nguồn loại C TCVN
5945-2005
Để đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường tại các cơ sở, Viện Viện Kỹ thuật
nhiệt đới và Bảo vệ môi trườngđã tiến hành lấy mẫu và phân tích 6/11 cơ sở điển
hình và cho kết quả ở bảng 2.3.
Bảng 2.3: Kết quả phân tích nước thải của một số cơ sở trên địa bàn quận Gò Vấp
Kết quả phân tích nước thải
Thông số Đơn vị

NT1 NT2

NT3

NT4 NT5 NT6

pH mg/l 11,3 7,7 6,5 6,4 2,7 7,4

3
/ngày In vải
NT4: Công ty TNHH Tân Thành Công 196 m
3
/ngày Giấy tái sử dụng
NT5: Công ty Cổ phần thực phẩm Gò Vấp 20m
3
/ngày Nước tương
NT6: Công ty Cổ phần thủy tinh Nam Phát 15 m
3
/ngày Nấu thủy tinh
Kết quả phân tích 6 cơ sở trên cho thấy nước thải đã vượt tiêu chuẩn cho phép
nhiều lần, chủ yếu là hàm lượng chất rắn lơ lửng, BOD và COD khá cao. Có thể nói
nước thải của các ngành dệt nhuộm, thực phẩm, sản xuất giấy tái sinh thì vấn đề ô
nhiễm nước thải là đặc biệt nghiêm trọng nếu không được xử lý.
Không khí:
Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng bụi tại 11 cơ sở đo đạc thì có 10 cơ sở đã
vượt tiêu chuẩn cho phép trong khu dân cư, trong đó các công ty, xưởng mộc có hàm
lượng bụi cao nhất (vượt 7 lần cho phép).
Các cơ sở sản xuất có giá trị nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn cho phép trong khu dân
cư cần có biện pháp khắc phục.
Các chất ô nhiễm như: SO
2
, NO
2
, CO tại tất cả các điểm đo đều thấp hơn tiêu
chuẩn cho phép đối với môi trường xung quanh. Do đặc thù của ngành nghề sản xuất
nên một số cơ sở đã có dấu hiệu ô nhiễm dung môi.
2.1.4 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp
Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2007 là 19.684 tỷ đồng, giảm 21,06% so với

Lê Đức Thọ và Thống Nhất), chợ An Nhơn (giao lộ Dương Quảng Hàm - Nguyễn
Oanh), chợ Tân Sơn Nhất (gần đường Nguyễn Kiệm).
Chợ ở Gò Vấp chỉ bán lẻ, nhưng các chợ đều phân bổ trong khu vực dân cư
đông đúc nên đã phát huy vai trò của chúng. Các hộ kinh doanh thương mại ở Gò
Vấp còn tập trung trên những tuyến đường lớn, đông khách qua lại, vì vậy hiệu quả
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Tường Vân
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thúy Trang 11
kinh doanh khá cao; nhiều đường đã trở thành “phố chuyên doanh”, như đường
Quang Trung kinh doanh hàng kim khí - điện máy; đường Nguyễn Kiệm, Nguyễn
Văn Nghi, Nguyễn Oanh chuyên kinh doanh công nghệ phẩm, hàng trang trí nội thất
và vật liệu xây dựng; đường Phạm Văn Chiêu, Lê Đức Thọ, Lê Văn Thọ kinh doanh
tổng hợp và hàng may mặc.
Các dịch vụ ở Gò Vấp chủ yếu là ẩm thực, khách sạn – nhà hàng có doanh số
không đáng kể trong cơ cấu của ngành thương mại - dịch vụ. Gò Vấp không có đơn
vị hoạt động ngành du lịch.
Kinh tế thị trường thúc đẩy hoạt động thương mại - dịch vụ của Quận phát
triển mạnh mẽ. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán ra mỗi năm tăng bình quân
17,35%. Đến cuối năm 1999 có 9.748 cơ sở thương mại, trong đó có 288 đơn vị trách
nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân, số lao động toàn ngành gần 20.000 người.
Hình thành các khu buôn bán tập trung như khu thương mại Ngã 6, khu phố chợ Tân
Sơn Nhất, chợ An Nhơn, chợ Gò Vấp, chợ Xóm Mới đáp ứng nhu cầu hàng hoá
thông thường và cao cấp cho nhân dân. Kinh ngạch xuất khẩu năm 1999 đạt 41,8
triệu USD và kim ngạch nhập khẩu 17,9 triệu USD. Thời kỳ 2001 – 2005, hoạt động
thương mại - dịch vụ - xuất nhập khẩu tăng trưởng với tốc độ nhanh: Tổng mức lưu
chuyển hàng hoá xã hội từ 7.125 tỷ đồng tăng lên 15.500 tỷ đồng (bình quân mỗi
năm tăng 21,44%). Hình thành chợ Hạnh Thông Tây và một siêu thị trên địa bàn
quận. Đến nay có 947 đơn vị thương mại dịch vụ hoạt động theo luật doanh nghiệp
và 12.800 hộ kinh doanh cá thể với 36.000 lao động. Kim ngạch xuất khẩu năm 2001
đạt 71,2 triệu USD đến năm 2005 đạt 140 triệu USD (tăng bình quân mỗi năm
18,42%). Kim ngạch nhập khẩu từ 51,4 triệu USD tăng lên 110 triệu USD (tăng bình

vực nông nghiệp tăng 5 %, khu vực công nghiệp tăng 33%, khu vực thương mại dịch
vụ tăng 16%.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, khu vực nông nghiệp chiếm
23%, khu vực công nghiệp chiếm 43% và khu vực thương mại dịch vụ chiếm 34%.
- Bố trí ưu tiên về hạ tầng phục vụ phát triển công nghiệp, giáo dục từng bước
đầu tư các khu vui chơi giải trí, xã hội hoá trong lĩnh vực này.
- Tạo mọi thuận lợi thu hút đầu tư, giải quyết nhanh đúng thời hạn quy định
những thủ tục cấp quận.
- Tập trung đầu tư nâng cao giáo dục, hoàn thành công tác phổ cập trung học
cơ sở, chăm lo bảo vệ sức khoẻ cho dân, hoạt động của bệnh viện mới có hiệu quả,
trang bị đầy đủ các trang thiết bị y tế cần thiết đúng với quy mô năng lực thiết kế.
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Tường Vân
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thúy Trang 13
Nâng cao mức sống nhân dân, xoá 30% hộ nghèo. Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ
sở trên cơ sở tuân thủ pháp luật, đấu tranh ngăn chặn kịp thời, giảm tai nạn giao
thông, tệ nạn xã hội.
- Tiếp tục thực hiện cải cách hành chánh, nâng cao hiệu lực, trình độ cán bộ,
thường xuyên bồi dưỡng nâng cao đạo đức cán bộ công chức nhà nước.
2.2.2 Cơ sở hạ tầng
• Giao thông vận tải:
- Nâng cấp và mở rộng các tuyến đường chính hiện hữu gồm: Đường Quang
Trung, Nguyễn Kiệm, Nguyễn Văn Lượng, Phan Văn Trị, Lê Đức Thọ, Hương lộ
11, Thống Nhất, Lê Quang Định.
- Xây dựng mới các tuyến đường chính dự phòng, bao gồm: đường vành đai
trong, đường 26 tháng 3B, đường vành đai Sân bay Tân Sơn Nhất nối dài, đường
Nguyễn Văn Lượng nối dài, đường ven rạch Bến Cát- Vàm Thuật.
Mở rộng các nút giao thông sau:
- Ngã 6: Nguyễn Kiệm-Nguyễn Thái Sơn-Vành Đai Trong
- Ngã 6: Nguyễn Kiệm-Quang Trung-Nguyễn Oanh
- Ngã 5: Nguyễn Oanh-Nguyễn Văn Lượng-Lê Hoàng Phái

Phấn đấu đạt mức tăng trưởng: giá trị sản xuất trên địa bàn quận Gò Vấp tăng
bình quân 20%/năm (tức giai đoạn 2004 – 2010 tăng 19,6%/năm). Mức tăng trưởng
này sẽ tiếp tục duy trì ổn định cho đến năm 2020.
2.2.4 Dân số
Kiểm soát tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 2004 – 2010 là 4,5%, trong
đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và tỷ lệ tăng dân số cơ học 3,4%. Tốc độ tăng dân số
bình quân giai đoạn 2010 – 2020 là 1,8%, trong đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,0% và
tỷ lệ tăng dân số cơ học 0,8%.
2.2.5 Giáo dục
Số học sinh/lớp: 25 cháu/lớp mầm non, 35 hs/lớp tiểu học, 45 hs/lớp trung học
cơ sở và trung học phổ thông
Số lớp/trường: 20 nhóm/trường mầm non, 30 lớp/trường tiểu học, 45
lớp/trường trung học cơ sở và trung học phổ thông
2.2.6 Y tế
Tăng cường cơ sở vật chất, năng lực khám và điều trị tuyến y tế cơ sở, ngăn
ngừa dịch bệnh và thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia. Đảm bảo mọi người
dân được chăm sóc sức khỏe ban đầu, mở rộng xã hội tăng cường các dịch vụ y tế. Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Tường Vân
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thúy Trang 15
2.2.7 Môi sinh, môi trường
Mục tiêu giai đoạn sắp tới là kiểm soát và hạn chế việc ô nhiễm môi sinh, môi
trường từ nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, khói và bụi. Tiến đến cải thiện
môi sinh, môi trường đạt tiêu chuẩn đô thị.
0
35’15” kinh độ Đông và 10
0
48’41” đến 10
0
51’29” vĩ độ Bắc, cách trung tâm
Thành phố Hồ Chí Minh 8,5 km đường chim bay, nằm ở phía Bắc Thành phố và có
ranh giới như sau:
- Phía Bắc giáp quận 12 qua sông Bến Cát.
- Phía Nam giáp quận Tân Bình, Phú Nhuận và Bình Thạnh.
- Phía Tây giáp quận 12 qua kênh Tham Lương
- Phía Đông giáp Quận 12 và Quận Bình Thạnh.

Hình: Bản đồ quận Gò Vấp
 Điều kiện khí hậu:
Quận Gò Vấp nằm trong chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa chung của đồng
bằng Nam Bộ với các đặc điểm chính:
-
Khí hậu phân hóa thành 2 mùa tương phản rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 –
11, mùa khô từ tháng 12 – 4.
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Tường Vân
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thúy Trang 17
-
Nền nhiệt cao và ổn định quanh năm
-
Nhiệt độ trung bình từ 27 – 29
o
C.
-
Lượng mưa trung bình từ 200 – 500 mm/năm

4
1
). Tầng chứa nước được chia 2 phần: phần trên là lớp cách nước yếu, phần dưới
là lớp chứa nước.
Tầng chứa nước Pliocen dưới (m
4
1
) phân bố khá rộng trên toàn vùng, ở vùng
phân bố tầng chứa nước Pliocen dưới bị tầng chứa nước Pliocen trên phủ trực tiếp
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Tường Vân
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thúy Trang 18
lên và nằm trên tầng chứa nước khe nứt các trầm tích Mezozoi (Mz). Tầng chứa
nước được cấu tạo thành 2 phần: phần trên là lớp cách nước yếu, phần dưới là lớp
chứa nước.
Đối với nước khe nứt trong trầm tích Mezozoi(Mz) phân bố trên toàn vùng.
Chiều dày của đới Mezozoi khoảng 2000 m, mức độ nứt nẻ kém nên khả năng chứa
nước hạn chế.
 Hệ thống sông rạch:
Hệ thống sông rạch trong quận Gò Vấp là hệ thống sông Bến Cát. Tùy theo vị
trí phân bố, chúng được gọi là rạch Bến Cát, sống Bến Cát, sông Trường Đay, kênh
Tham Lương… và một số chi lưu chằng chịt bao quanh.
 Tài nguyên:
Tài nguyên đất:
Quận Gò Vấp có diện tích đất tự nhiên là 1974,0934 ha. Đất xám trên phù sa
cổ chiếm 69% diện tích, thích nghi với các loại cây trồng cạn, nhất là rau các loại;
đất phèn tiềm tàng sâu chiếm 20% diện tích, thích nghi với các loại cây trồng chịu
được nước như lúa, cói, rau muống, đồng thời có thể trồng mía, dừa và một số loại
cây ăn trái khi được lên liếp và có bờ cao; đất xám giây chiếm 8% diện tích thích
nghi với lúa vào mừa mưa và rau vào mùa khô.
Tài nguyên nước mặt và nước ngầm:

nước mặt được phân tích trong bảng 3.1.
Bảng 3.1: Kết quả đánh giá chất lượng nước mặt trên địa bàn quận Gò Vấp
Chỉ
tiêu
ĐVT M1 M2 M3 M4 M5 M6 M7 M8 QCVN
08:2008/BTNMT
Nhiệt
độ
0
C 29,7 30,0 30,6 31,1 31,1 31,1 31,2 31,1 -
pH 5,81 5,90 5,93 5,95 6,02 6,01 6,03 6,27 5,5 - 9
EC ms/m 70,9 71,7 72,4 89 84 115 137 107 -
Độ
đục
NTU 117 128 101 40 68 14 11 10
DO Pt-Co 0,34 0,62 1,51 1,51 1,65 1,98 2,25 2,56 ≥ 2
Độ
màu
mg/l 14 17 4 8 8 6 6 5 -
NO
3
-
N
mg/l 0,30 0,38 0,38 0,42 1,21 1,2 1,2 1,22 15
NO
2
-
N
mg/l 0 0 0,03 0,10 0,15 0,16 0,18 0,08 0,05
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Tường Vân

106
0
38

612
’’
M3: Cầu Trường Đay Tọa độ 10
0
51

636
’’
106
0
39

131
’’
M4: Gần giữa rạch Bến Cát Tọa độ 10
0
51

515
’’
106
0
39

848
’’


684
’’
106
0
41

324
’’

M7: Sông Vàm Thuật giáp Bình Thạnh Tọa độ 10
0
48

808
’’
106
0
41

646
’’
Nhận xét chung về chất lượng nước mặt: Hiện nay hệ thống sông rạch trên địa
bàn quận Gò Vấp phải nhận một lượng nước thải sinh hoạt và công nghiệp của
quận Tân Bình, quận 12. Nước thải theo các cống chung đổ ra rạch Bến Thượng,
Trường Đay với một lượng lớn nước thải có chứa thành phần ô nhiễm của các
ngành như: dệt nhuộm, hóa chất, thực phẩm,…Và hầu hết chưa được xử lý. Một
phần nước thải sinh hoạt khu vực phía Bắc của quận cũng thải trực tiếp xuống
sông và chưa qua xử lý. Do vậy chất lượng nước sông rạch từ kênh Tham Lương
đến sông Vàm Thuật chịu ảnh hưởng mạnh của dòng nước thải.

1%
- 78 mẫu nhiễm Coliform, chiếm tỷ lệ 36%
Như vậy, cũng như đặc trưng nước ngầm thành phố, nước ngầm tại khu vực
Gò Vấp có chỉ số pH thấp hơn tiêu chuẩn, 77% mẫu cho kết quả hàm lượng
Nhôm Al
3+
vượt tiêu chuẩn cho phép, gần 50% nhiễm Nitrate do hoạt động nông
nghiệp kéo dài trước đây và gần 50% nhiễm Amoni do sự gia tăng dân số (chủ
yếu là gia tăng cơ học) trong thời kỳ gần đây. Ngoài ra, tỷ lệ mẫu nhiễm Coliform
cũng khá cao ( chiếm 36% lượng mẫu phân tích) cho thấy tình trạng nhiễm vi
sinh của tầng nước ngầm.
3.2.3 Hệ thống thoát nước
Hiện nay quận Gò Vấp có 2 hệ thống thoát nước: hệ thống thoát nước theo
dạng tự nhiên, trong đó thủy đạo thoát nước chính là kênh Tham Lương, rạch Bến
Cát, sông Vàm Thuật và hệ thống thoát nước qua mạng lưới cống, cũng như các
quận nội thành khác, Gò Vấp chưa có hệ thống thoát nước bẩn riêng mà chỉ là hệ
thống cống thoát nước chung cho tất cả các loại: nước thải sinh hoạt, nước thải
công nghiệp, nước mưa và ngay cả nước thải bệnh viện. Mặt khác các tuyến cống
trước đây chưa được tính toán đầy đủ, thường là cống nhỏ, qua thời gian sử dụng
đã bị xuống cấp hư hỏng nhiều hoặc do xây dựng lấn chiếm miệng cống bị xả lấp.
3.4 Hiện trạng môi trường không khí
Để đánh giá chất lượng không khí trên địa bàn quận Gò Vấp nhằm phục vụ
cho nghiên cứu “Xây dựng cơ sở quy hoạch môi trường phát triển kinh tế - xã hội
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Tường Vân
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thúy Trang 22
quận Gò Vấp”, Quận đã phối hợp cùng Viện Kỹ thuật nhiệt đới và Bảo vệ môi
trường tiến hành khảo sát, đo đạc, thu mẫu không khí tại một số điểm vào cuối
tháng 5/2007. Kết quả phân tích được nêu trong bảng 3.2 và bảng 3.3.
Bảng 3.2: Kết quả chất lượng không khí xung quanh trên địa bàn quận Gò Vấp
Nồng độ các chất ô nhiễm (mg/m

72,9 0,32 0,121 0,098 8,6
8 K
8
75,0 0,36 0,125 0,087 5,7
9 K
9
71,8 0,31 0,136 0,103 8,7
10 K
10
76,6 0,37 0,117 0,040 12,5
11 K
11
75,7 0,39 0,135 0,098 15,4
12 K
12
75,9 0,27 0,087 0,066 15,4
TCVN 5937-2005 75 0,3 0,5 0,4 40
Nguồn: Viện kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường, ngày 29/05/2007
Ghi chú: Các điểm lấy mẫu:
K
1
: Ngã 6 Gò Vấp (góc đường Nguyễn Oanh)
K
2
: Ngã 4 Nguyễn Oanh – Nguyễn Văn Lượng
K
3
: Đường Nguyễn Oanh (cách cầu An Lộc 200m)
K
4

Tại 12 điểm quan trắc có 9 điểm đã bị ô nhiễm và vượt tiêu chuẩn cho phép
(TCVN 5937-2005), 3 điểm còn nằm trong giá trị cho phép đối với môi trường xung
quanh. Tuy nhiên, vào thời điểm đo chưa phải là giờ cao điểm. Điểm có nồng độ cao
nhất là đường Thống Nhất đoạn gần cầu Bến Phân giáp quận 12 (bụi 5,2 mg/m
3
). Kế
đến là ngã 6 Gò Vấp, ngã 4 Nguyễn Oanh – Nguyễn Văn Lượng. Đây là các nút giao
thông có mật độ xe khá cao trên địa bàn quận.
Tuy nhiên nếu so sánh với các điểm khảo sát trên địa bàn quận Gò Vấp với các
điểm quan trắc của thành phố thì mức độ ô nhiễm bụi trên địa bàn quận Gò Vấp có
cao hơn khu vực quận 8 nhưng vẫn còn thấp hơn nhiều so với khu vực Tân Bình và
trạm Tân Sơn Nhất.
Nồng độ SO
2
:
Nồng độ SO
2
đo được tại các điểm khảo sát trên địa bàn quận Gò Vấp cho kết
quả đều thấp hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, nồng độ SO
2
cao nhất là ngã 6 Gò
Vấp (SO
2
= 0,212 mg/m
3
) vẫn còn thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép. Tuy
nhiên kết quả trên cao gấp 2 lần so với các điểm quan trắc của thành phố trong tháng
05/2007. Có thể chất lượng không khí tại các điểm quan trắc trên địa bàn quận chưa
bị ô nhiễm bởi SO
2


0,02

0,02

0,02

0,03

0,02

0,02

Biên
độ
mm 7 6 5 5 7 4 5 4 4 4 5 4

Trích đoạn Cam kết bảo vệ mơi trường Chương trình bảo vệ mơi trường tiểu thủ cơng nghiệp và cơng nghiệp: a Mục tiêu: Chương trình bảo vệ mơi trường nước mặt a Mục tiêu: Mơi trường nước mặt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status