Tài liệu Luận văn Việc làm cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam bộ - Pdf 10



1 Luận văn
Việc làm cho thanh niên nông thôn
miền Tây Nam bộ 2

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm nói chung và việc làm cho thanh niên nói riêng không chỉ là
vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề xã hội có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm
hàng đầu của các quốc gia, dân tộc và của toàn nhân loại nói chung. Có thể
nói, hiệu quả của việc giải quyết việc làm gắn liền với sự tồn tại bền vững của
mọi quốc gia. Đối với Việt Nam, vấn đề giải quyết việc làm cũng không nằm
ngoài quỹ đạo đó, văn kiện Đại hội IX của Đảng đã nhấn mạnh: “giải quyết
việc làm là nhân tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát

vấn, tay nghề chuyên môn, trình độ tin học, ngoại ngữ còn rất thấp, một bộ
phận thanh niên nông thôn chưa thực sự thay đổi suy nghĩ, tập quán sống để
thích ứng với yêu cầu của quá trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế đang diễn
ra rất nhanh ở nông nghiệp, nông thôn.
Vấn đề việc làm của thanh niên nông thôn ở nhiều địa phương chưa thực
sự được các cấp và các chủ thể xã hội chú trọng, đầu tư, quan tâm và tiến hành
đồng bộ có tính chiến lược trong công tác thanh niên.
Tỷ lệ thiếu việc làm thất nghiệp của thanh niên có xu hướng ngày càng
tăng, mức thu nhập thấp đã dẫn tới con đường thanh niên phải tự tìm kiếm việc
làm, không ít trường hợp bị lừa gạt hoặc phải làm những công việc ở mức lương
thấp, những việc làm trái với pháp luật, đạo đức của xã hội: bán bia ôm, gái mãi
dâm, trộm cắp, cướp giật, lừa đảo, buôn bán ma túy thậm chí phải chấp nhận
lấy chồng nước ngoài thông qua môi giới, mục đích chỉ vì cuộc sống sinh tồn do
thiếu việc làm và thất nghiệp, mức thu nhập thấp ở nông thôn gây ra.
Đây là vấn đề rất bức xúc, gay gắt và có tính cấp thiết không chỉ đối với
thanh niên, gia đình và toàn xã hội phải chú tọng quan tâm giải quyết trong giai
đoạn hiện nay. Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả chọn vấn đề "Việc làm
cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam bộ" làm đề tài luận văn tốt nghiệp
cao học chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề việc làm, giải quyết việc làm nói
chung được nhiều người quan tâm nghiên cứu, cụ thể như:
- Nolwen.Hennaff.Jean-Yves.Martin (biên tập khoa học): Lao động,
việc làm và nguồn nhân lực ở Việt Nam 15 năm đổi mới - Nxb Thế giới, Hà 45

- Đề xuất một số giải pháp để nhằm giải quyết việc làm hợp lý cho
thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ trong giai đoạn từ nay đến năm 2015.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, luận văn sẽ hướng tới giải quyết
các nhiệm vụ:
- Nêu ra những cơ sở khoa học của việc giải quyết việc làm cho thanh
niên nông thôn giai đoạn hiện nay.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho thanh
niên nông thôn ở một số tỉnh miền Tây Nam Bộ thời gian qua.
- Từ đó, luận văn nêu ra một số giải pháp chủ yếu để giải quyết việc
làm cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ giai đoạn đến năm 2015.
3.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu việc làm cho thanh niên nông thôn
miền Tây Nam Bộ
- Phạm vi nghiên cứu
+ Đề tài việc làm cho thanh niên là vấn đề rất rộng, nó bao hàm cả vấn đề
tạo việc làm, tìm việc làm, giải quyết việc làm Vì vậy, trên phương diện Kinh tế
chính trị, luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên
nông thôn miền Tây Nam Bộ giai đoạn 2002-2007.
+ Địa bàn nghiên cứu chủ yếu tập trung ở các tỉnh đặc trưng cho cả
vùng như: Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa Mác-

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết. 7

Chng 1
C S KHOA HC CA VIC GII QUYT VIC LM
CHO THANH NIấN NễNG THễN

1.1. Lí LUN CHUNG V GII QUYT VIC LM CHO THANH NIấN
NễNG THễN
1.1.1. Quan nim v vic lm
1.1.1.1. Khỏi quỏt v vic lm v vai trũ ca vic lm
Hoạt động lao động sản xuất là hoạt động gắn
liền với con ngời và xã hội loài ngời. Từ xa xa
con ngời đã biết làm lụng, tìm kiếm trong thế giới
xung quanh những sản phẩm để phục vụ nhu cầu cho bản
thân mình. Khi phân công lao động xã hội phát triển,
thì mỗi ngời tham gia lao động sản xuất với một
việc làm cụ thể nhằm tạo ra thu nhập nuôi sống bản
thân và đóng góp cho xã hội.
Việc làm trớc hết là hoạt động lao động sản
xuất của con ngời, là hoạt động lao động cụ thể của
mỗi ngời lao động cụ thể trong quá trình lao động
sản xuất của xã hội.
Giống nh lao động, việc làm cũng phản ánh mối

ngành nghề, công việc cụ thể; là những hoạt động cụ
thể của ngời lao động, đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu
cầu cá nhân của ngời lao động nó có tính cụ thể,
tờng minh.
Tóm lại, có thể nói lao động là cái chung và
việc làm là cái riêng. Việc làm là phạm trù tổng
hợp, liên kết các quá trình kinh tế xã hội. Trên
khía cạnh xã hội, việc làm phản ánh mối quan hệ giữa
con ngời với con ngời trong những giới hạn nhất
định, trong đó quá trình lao động đợc diễn ra, là
cơ sở để các mối quan hệ xã hội tồn tại trong mối
liên hệ đan xen, liên kết với nhau phát triển theo
hớng lành mạnh.
Là một vấn đề kinh tế xã hội phức tạp, việc làm
gắn cá nhân với xã hội - nó không những đem lại thu 9

nhập cho ngời lao động để nuôi sống bản thân họ mà
còn tạo ra một lợng của cải cho xã hội. C.Mác đã
nói: Với những điều kiện khác không thay đổi thì
khối lợng và giá trị của sản phẩm tăng lên tỷ lệ
thuận với số lợng lao động đợc sử dụng [18,
tr.75].
Việc làm là một vần đề có ý nghĩa kinh tế xã hội
và chính trị quan trọng của một quốc gia. Hiện nay đảm

ỏng ang lm gia tng cỏc t nn xó hi, kỡm hóm s tng trng, phỏt trin ca
nn kinh t t nc.
Quan nim th ba li cho rng: Vic lm cú th c nh ngha nh
mt tỡnh trng trong ú cú s tr cụng bng tin bc hoc hin vt, do ú cú
mt s tham gia tớch cc cú tớnh cỏ nhõn v trc tip vo n lc sn xut.
So vi hai quan nim trờn quan nim ny phỏt trin hn, khỏi quỏt hn
hai quan nim trờn. Tuy nhiờn nu ch cú nhng hot ng c tr cụng bng
tin hoc hin vt mi c coi l vic lm thỡ cha tho ỏng. Nhng ngi
nm trong lc lng lao ng nhng lm cụng vic ni tr, bn thõn h
khụng nhn c tin cụng, tin lng bng tin hay hin vt t xó hi, t
ngi s dng lao ng m ch nhn c s phõn phi li trc tip thu nhp
t cỏc thnh viờn trong gia ỡnh. H khụng trc tip m giỏn tip to ra thu
nhp trc tip, h nhn c thu nhp giỏn tip thụng qua iu tit thu nhp
t cỏc thnh viờn trong gia ỡnh cú vic lm hng tin lng trong xó hi.
Vy, h l nhng ngi cú vic lm, m nhn mt chc nng trong gung
mỏy ch o xó hi - ngh ni tr.
Ti Hi ngh quc t ln th 13 nm 1983, T chc Lao ng quc t
(ILO) ó a ra quan nim: Ngi cú vic lm l nhng ngi lm mt vic gỡ
ú, cú c tr tin cụng, li nhun hoc nhng ngi tham gia vo cỏc hot
ng mang tớnh cht t to vic lm vỡ li ớch hay vỡ thu nhp gia ỡnh, khụng
nhn c tin cụng hay hin vt [4, tr.47].
Trớc đây, trong cơ chế cũ việc làm của ngời lao
động thờng do nhà nớc giải quyết với chế độ biên
chế suốt đời. Ngời lao động có việc làm đợc xã hội
tôn trọng và thừa nhận là những ngời làm việc trong
các cơ quan hành chính sự nghiệp của nhà nớc, các
đơn vị kinh tế quốc doanh, với quan niệm Nhà nớc bố

triệt để sức lao động và tiềm năng toàn xã hội.
Qua phõn tớch trờn cho chỳng ta thy c trng chung ca vic lm l: 12

Về mặt pháp lý: việc làm phải hợp pháp, phải chịu sự điều chỉnh của
pháp luật về độ tuổi, về những ngành nghề được làm và không được làm.
Về mặt kinh tế: nó phải đáp ứng lợi ích kinh tế của người lao động như
thu nhập, bình đẳng, tăng trưởng và phát triển quốc tế.
Về chính trị: việc làm thể hiện rõ những quan điểm, đường lối lãnh đạo
của giai cấp cầm quyền.
Về mặt xã hội: việc làm phải phù hợp với truyền thống văn hoá, đạo
đức, phong tục tập quán, công bằng xã hội.
Về mặt cá thể: việc làm thể hiện những tri thức, năng lực, phẩm chất
của người lao động khi tham gia việc làm ở những ngành nghề cụ thể.
Như vậy, việc làm là một phạm trù kinh tế - xã hội, việc làm chịu sự
chi phối của nhiều mối quan hệ. Quan niệm đúng về việc làm là cơ sở khoa
học cho giải quyết việc làm.
1.1.1.3. Cấu trúc cơ bản của vấn đề việc làm cho thanh niên
Việc làm cho thanh niên là một quá trình thể hiện nhiều mối quan hệ,
bao gồm:
- Việc làm trong hiện tại, trước mắt nó phụ thuộc vào các yếu tố: vấn đề
tạo việc làm, đưa việc làm đến với người lao động, đưa người lao động đến với
việc làm, tạo môi trường đến với người lao động, cách thức giới thiệu việc làm
- Tạo việc làm tiềm năng cho thanh niên: việc làm của thanh niên
không chỉ phụ thuộc vào hiện tại, trước mắt mà phải tạo ra nhu cầu việc làm.

[23, tr.271]. Như vậy, thất nghiệp là hiện tượng người lao động bị mất việc
làm hoặc chưa có việc làm.
Văn phòng tổ chức lao động thế giới phân thất nghiệp thành 3 loại:
- Thất nghiệp do mức cầu lao động không dư.
- Thất nghiệp do thiếu thiết bị, hoặc thiếu những nguồn lực bổ sung.
- Thất nghiệp do cung - cầu lao động không ăn khớp nhau.
Ở nước ta, người thất nghiệp là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm
tuổi hoạt động kinh tế, mà trong tuần lễ trước điều tra không có việc làm
nhưng có nhu cầu tìm việc làm:
Thứ nhất, có nỗ lực đi tìm việc làm trong 4 tuần qua hoặc không có
hoạt động tìm việc làm vì các lý do không biết tìm việc làm ở đâu hoặc tìm
mãi không có việc làm. 14

Th hai, trong tun l tớnh n thi im iu tra cú tng s gi lm
vic di 8 gi, v sn sng lm thờm nhng khụng tỡm c vic lm.
Tuy nhiờn nhng ngi 15 tui tr lờn nhng thuc cỏc i tng
sau õy thỡ khụng thuc nhng ngi tht nghip v khụng nm trong lc
lng lao ng:
+ Ngi ang i hc
+ Ngi ang lm vic ni tr cho bn thõn v gia ỡnh.
+ Ngi tn tt, m au, khụng cú kh nng lao ng hoc b tc
quyn lao ng.
+ Ngi gi c ht tui lao ng.
+ Hoc tỡnh trng khỏc (v hu hng ch , cha cú nhu cu hot

người lao động có việc làm, có thu nhập ổn định đáp ứng nhu cầu sinh tồn
và phát triển của người lao động, gia đình và xã hội. Quan niệm này cũng
có sự đồng nhất giữa những quan điểm trên về vai trò, mục tiêu giải quyết
việc làm, nhưng nó chỉ ra rõ hơn chủ thể giải quyết việc làm và mục tiêu cụ
thể của giải quyết việc làm không chỉ là lợi ích của người lao động mà là cả
lợi ích xã hội.
Như vậy, giải quyết việc làm thực chất là một quá trình tác động có chủ
đích của chủ thể xã hội và người lao động nhằm giúp người lao động có việc
làm, việc làm đầy đủ có thu nhập và phải hướng tới không ngừng nâng cao
chất lượng việc làm, thu nhập cao, ổn định để người lao động có cuộc sống
vật chất và tinh thần ngày càng cao.
Giải quyết việc làm không chỉ là vấn đề kinh tế mà là vấn đề xã hội vì có
liên quan đến công bằng xã hội và tiến bộ xã hội; nó không chỉ là sự quan tâm
của người lao động, gia đình, mỗi quốc gia mà là vấn đề có tính chất toàn cầu.
Giải quyết việc làm là một trong những mục tiêu và thước đo quan
trọng nhất để đánh giá tính ưu việt của một chế độ xã hội, trình độ văn minh
của nhân loại.
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn coi con người là trung tâm, vừa là
mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển bền vững. Chính vì vậy, vấn đề
giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động thanh niên luôn
là một trong những định hướng cơ bản phát triển kinh tế - xã hội.
Mục tiêu của chính sách lao động và giải quyết việc làm của Đảng ta là
hướng vào giải phóng sức sản xuất, giải phóng và phát huy mọi tiềm năng sức 16

17

Dân số tăng nhanh dẫn tới việc phân bố dân cư không hợp lý, không
gắn kết được lao động với các nguồn lực khác (đất đai, tài nguyên thiên nhiên,
vốn…) khiến cho việc tạo việc làm mới càng khó khăn, thất nghiệp càng cao.
Dân số gia tăng sẽ buộc ngân sách Nhà nước nói chung, xã hội nói
riêng phải giảm chi cho đầu tư phát triển, tăng chi cho tiêu dùng. Vì vậy, đầu
tư cho phát triển nguồn nhân lực để nâng cao chất lượng nguồn lao động giảm
xuống, cơ hội để tìm việc làm càng gặp khó khăn.
Tình trạng di dân tự do từ nông thôn đổ ra đô thị để tìm việc làm kiếm
sống gây ra sức ép khó khăn việc làm cho các đô thị, mặt khác, giảm tốc độ
tăng dân số sẽ dẫn đến việc “già hoá” dân số, tỷ lệ người cao tuổi tăng lên và
đòi hỏi các chi phí về bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội tăng lên…, ảnh
hưởng lớn tới cơ cấu và chất lượng của dân số.
Từ những thực tế trên đây, vấn đề đặt ra là cần hướng tới việc “Bảo
tồn tính cân bằng, ổn định bên trong của sự phát triển dân số” nhằm đạt được
mục tiêu ổn định tỷ lệ sinh hợp lý, nâng cao chất lượng dân số, trên cơ sở đó
mà phát triển nguồn lực lao động cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng được
nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của thị trường sức lao động.
Công cuộc đổi mới đất nước những năm qua đã đạt được nhiều thành
tựu về KT - XH, điểm quan trọng nhất là tăng trưởng kinh tế cao đã tạo ra sự
tăng lên không ngừng của nhu cầu sử dụng lao động. Hàng năm số lao động
có việc làm đều tăng: “từ năm 1991 đến 2000, số người có việc làm tăng từ
30,9 triệu lên 40,6 triệu người, tức là tăng 32,2%, bình quân hàng năm tăng
khoảng 2,9%” [16, tr.124].
Mặc dù đạt được những thành tựu trên, song do sức ép về dân số, vấn
đề lao động và việc làm vẫn là vấn đề hết sức bức xúc, do tốc độ gia tăng dân
số trước đây quá nhanh nên số người bước vào độ tuổi lao động ngày càng

công nghệ tiên tiến, khả năng biến tri thức của mình thành kỹ năng nghề
nghiệp trình độ tay nghề thành thạo, chuyên môn nghiệp vụ giỏi, làm chủ
được công nghệ, hoàn thành tốt công việc đảm nhiệm. Chính vì vậy, Hội nghị
lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX khẳng định:
Đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong toàn bộ nền kinh
tế quốc dân nhằm nhanh chóng thoát khỏi tình trạng lao động thủ
công, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, nâng cao đời sống
nhân dân và sức mạnh quốc phòng, an ninh. Chú trọng chuyển giao 19

tiến bộ kỹ thuật và thành tựu của khoa học, công nghệ cho nông
thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn [12, tr.93- 94].
Ở nước ta hiện nay có nguồn lao động dồi dào, bước vào năm 2007 lực
lượng lao động là 45,7 triệu người [17, tr.147]. Tuy nhiên, chỉ có lực lượng
lao động đông thì không đủ và không thể đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của
sự nghiệp CNH, HĐH mà vấn đề bức bách hàng đầu đặt ra hiện nay là phải
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đó là giải pháp cơ bản để tạo việc làm,
giảm thiểu thất nghiệp, là nhân tố quyết định đảm bảo vững chắc cho sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công.
- Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất vì nó
vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động, là cơ sở quan trọng hàng
đầu của sản xuất vật chất, tạo ra việc làm cho người lao động.
Lịch sử phát triển cho thấy ở đâu có điều kiện tự nhiên thuận lợi, tài
nguyên phong phú thì ở đó có điều kiện thuận lợi hơn đối với vấn đề giải

đáng kể, số lượng lao động xuất khẩu đã tăng dần hàng năm và đang có xu
hướng gia tăng. Chúng ta đã mở ra nhiều thị trường mới có thu nhập tương
đối cao như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Libi… đặc biệt là gần đây, nước ta đã bắt
đầu chuyển sang xuất khẩu lao động theo hình thức nhận thầu như ở Lào, Cô-oét,
Angiêri… Tuy nhiên, công tác xuất khẩu lao động cũng còn nhiều hạn chế,
kết quả xuất khẩu lao động chưa tương xứng với tiềm năng lao động và nhu
cầu của đất nước, sức ép về lao động, việc làm vẫn hết sức bức bách.
Trong thời gian tới, chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xuất
khẩu lao động, phát triển và mở rộng hơn nữa thị trường lao động để giải
quyết được số lao động dôi dư hiện có, tạo ra nhiều việc làm mới cho người
lao động, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xức của nhân dân.
- Chính sách giải quyết việc làm của Đảng và Nhà nước
Để giải quyết việc làm, vấn đề quan trọng hàng đầu là Nhà nước phải
tạo ra các điều kiện thuận lợi để người lao động có thể tự tạo việc làm thông
qua những chính sách KT - XH cụ thể. Các chính sách tác động đến việc làm
có nhiều loại, có loại tác động trực tiếp, có loại tác động gián tiếp tạo thành
một hệ thống chính sách hoàn chỉnh, đồng bộ có quan hệ tác động qua lại, bổ
sung cho nhau hướng vào phát triển cả cung lẫn cầu về lao động; đồng thời
làm cho cung và cầu về lao động xích lại gần nhau, phù hợp với nhau thực
chất là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấu lao động với cơ cấu kinh tế. 21

Chính sách giải quyết việc làm rất đa dạng, trong đó các chính sách
chủ yếu thường được đề cập đến là chính sách đất đai, chính sách giáo dục và
đào tạo, chính sách công nghiệp, chính sách phát triển nghề truyền thống


22

- Thực hiện tốt các chương trình quốc gia về việc làm và giải quyết việc
làm cho thanh niên, trong đó cần chú trọng và tập trung đầu tư cho công tác
dạy nghề hướng nghiệp và hỗ trợ vấn đề thanh niên lập nghiệp
- Từng bước xây dựng và hoàn thiện đồng bộ các loại thị trường nhất là
ở nông nghiệp, nông thôn.
1.1.3. Một số mô hình giải quyết việc làm chủ yếu hiện nay ở nước ta
Trên thực tế, các mô hình và theo đó là các giải pháp giải quyết việc
làm ở nước ta hiện nay rất đa dạng và phong phú. Có những mô hình theo
ngành, theo trình độ phát triển hay theo khu vực hành chính, tổ chức dân cư
Nhưng điển hình nhất và phù hợp với tiến trình CNH, HĐH vẫn là mô hình
theo ngành kinh tế.
- Ngành nông - lâm - ngư nghiệp ở nước ta hiện có hơn 70% lực lượng
lao động và dân cư sống ở nông thôn. Do đó, vai trò của nông - lâm ngư
nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến giải quyết việc làm cho người lao động nói
chung và thanh niên nông thôn nói riêng.
- Ngành công nghiệp và xây dựng nước ta đang trong quá trình CNH,
HĐH và đô thị hoá rất nhanh. Như vậy quá trình công nghiệp và xây dựng sẽ
tạo mở ra nhiều việc làm cho gnười lao động nhất là thanh niên nông thôn. Vì
vậy, việc phát triển công nghiệp, xây dựng phải gắn với giải quyết việc làm
cho người lao động ở nông thôn.
- Ngành thương mại - dịch vụ: thương mại và dịch vụ là một trong
những ngành kinh tế ở nước ta đang và sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn, nhằm
làm thay đổi căn bản cơ cấu nền kinh tế và cơ cấu lao động, nhất là cơ cấu lao
động thanh niên nông thôn. Phát triển kinh tế thương mại - dịch vụ sẽ khai
thác tốt tiềm năng nguồn lực là cơ sở để tạo mở và giải quyết việc làm cho
thanh niên nông thôn.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO

Lý do giảm là do sức ép về việc làm ở nông thôn, tác động của quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quá trình CNH, HĐH nông thôn và quá trình đô
thị hoá nông thôn, quá trình hội nhập quốc tế trong đó có xuất khẩu lao động
mà nguồn chủ yếu lao động từ nông thôn; đặc biệt là chiến lược phát triển
giáo dục đào tạo đã tác động trực tiếp đến số đông thanh niên nông thôn sau
khi tốt nghiệp phổ thông tiếp tục thoát ly gia đình, rời bỏ nông thôn để đi học
đi tìm việc làm ở các khu công nghiệp, ở các thành phố lớn và đi lao động
hợp tác, học tập ở nước ngoài. Đây cũng là những mặt tích cực trong việc 24

chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay.
Nhưng nó cũng để lại nhưng lỗ hổng trong việc phát triển KT - XH nông
nghiệp, nông thôn trở nên khó khăn, nhất là trong quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp nông thôn. Tình trạng nhiều làng quê tỷ lệ người già, lao động lớn tuổi
chiếm đa số; tỷ lệ thanh niên sống ở nông thôn quá ít đang là vấn đề phổ biến
trong lực lượng lao động, trong từng gia đình làng quê nông thôn Việt Nam.
- Về trình độ học vấn:
Kết quả điều tra về lao động và việc làm,cho thấy trình độ học vấn của
thanh niên trong những năm gần đây tăng nhanh. Số thanh niên nông thôn
được theo học và tốt nghiệp trung học phổ thông tăng mạnh. Theo số liệu điều
tra lao động việc làm năm 2006 cả nước có 5.307.034 thanh niên nông thôn
đang theo học, chiếm 88,9% trong tổng số thanh niên không hoạt động kinh tế
của thanh niên nông thôn (tỷ lệ này tương đương với thanh niên đô thị). Đặc
biệt trình độ học vấn hết trung học phổ thông của số thanh niên nông thôn

tổng hợp VAC, kinh tế trang trại theo hướng sản xuất hàng hóa. Đã xuất hiện
ngày càng nhiều, thanh niên nông thôn làm ở các công ty nông trường theo dạng
“ly nông bất ly hương”. Tình hình dịch chuyển lao động ở nông thôn (không kể
lúc nông nhàn) đến làm ăn, sinh sống ở các khu công nghiệp, khu đô thị hoặc các
địa bàn dễ làm ăn sinh sống ngày một tăng, tạo ra dòng chuyển dịch dân cư từ
nông thôn đến các khu vực trên ngày càng nhiều. Theo kết quả điều tra lao động
và việc làm toàn quốc năm 2006 số thanh niên nông thôn thiếu việc làm trong
thời điểm điều tra (đầu tháng 4/2006) là 861.000 người chiếm 7,74% trong tổng
số thanh niên nông thôn. Nhưng nhìn toàn cục thanh niên nông thôn thường còn
25 - 30% thời gian nhàn rỗi. Số thiếu việc làm nhiều là nhóm thanh niên 20 - 24
tuổi (chiếm 40%) tiếp đó thuộc nhóm thanh niên mới lớn 15 - 19 tuổi (34%) sau
cùng là nhóm thanh niên 25 - 29 tuổi (26%). Theo đánh giá của các chuyên gia,
sau khi Việt Nam gia nhập WTO tình hình lao động việc làm, thu nhập của
thanh niên nông thôn sẽ chịu nhiều áp lực.
Những điểm hạn chế của lực lượng lao động thanh niên nông thôn hiện
nay cần quan tâm.
- Lực lượng lao động thanh niên phân bố không đều giữa các vùng kinh
tế, các ngành kinh tế. Do điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc làm ăn sinh

Trích đoạn Quỏ trỡnh cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ nụng nghiệp, nụng thụn Hội nhập quốc tế Tạo việc làm cho thanh niờn nụng thụn qua xuất khẩu lao động Đẩy mạnh cụng tỏc đào tạo nghề cho thanh niờn nụng thụn giai đoạn hiện nay Tăng cường sự lónh đạo của cấp ủy đảng, quản lý của Nhà nước và vai trũ tham gia giải quyết việc làm của Đoàn Thanh niờn Cộng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status