Thực trạng hoạt động cho vay ở các Ngân hàng thương mại - Pdf 10


TIỂU LUẬN:
Thực trạng hoạt động cho
vay ở các Ngân hàng
thương mại

Lời mở đầu

Hệ thống các ngân hàng thương mại là một bộ phận của ngân hàng trung gian,
chiếm một vị trí quan trọng nhất về qui mô tài sản và về thành phần các nghiệp vụ. Bởi


Tổng quan về nghiệp vụ cho vay
trong Ngân Hàng thương Mại

1- vai trò của nghiệp vụ cho vay đối với Ngân hàng thương mại

NHTM huy động tiền từ các cá nhân, các doanh nghiệp và các hình thức tín dụng
khác và đương nhiên ứng với mỗi loại tiền gửi do các ngân hàng phải chi trả cho một
khoản lãi nhất định. Để đảm bảo khả năng chi trả, ngân hàng sẽ phải sử dụng phần lớn
khoản tiền huy động đưa vào các hoạt động kinh doanh như cho vay, đầu tư … . Trong
đó cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM tạo ra lợi nhuận trực tiếp cho
ngân hàng. Sở dĩ cho vay được coi là một trong những loại hình quan trọng nhất không
thể thiếu được của các ngân hàng bởi lẽ chỉ có lãi suất thu được từ cho vay mới bù đắp
mọi chi phí mà các ngân hàng phải bỏ ra như: Chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí
kinh doanh, quản lý, thuế và các chi phí rủi ro đầu tư…
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của tầng lớp dân cư các doanh nghiệp các tổ chức kinh tế ngày càng lớn. Do
vậy lượng cho vay của các NHTM càng tăng và kèm theo nó thì các loại hình cho vay
ngày càng được mở rộng và phát triển hết sức đa dạng. ở các nước phát triển hàng đầu
thế giới thì nhu cầu vay dài hạn đã dần thay thế cho nhu cầu ngắn hạn. Trong khi đó thì
ở các nước đang phát triển, hầu hết cho vay ngắn hạn vẫn chiếm tỉ lệ lớn so với cho vay
trung và dài hạn. Điều đó cũng có lẽ bởi các nước này vẫn chưa tìm được biện pháp khắc phục, hạn chế
sự thiếu an toàn cho các khoản vay dài hạn. Họ e sợ cùng với nền kinh tế đất nước còn
yếu kém, lạc hậu mà rủi ro của các khoản vay dài hạn đó xảy ra đồng thời sẽ dấn đến sự


Đây là loại vay có thời hạn trên 3 hoặc 5 năm, là loại tín dụng cung cấp để đáp
ứng các nhu cầu dài hạn như xây nhà ở, xây dựng các xí nghiệp mới, mua sắm các thiết
bị, phương tiện vận tải với quy mô lớn.Hiện nay các NHTM đang cố gắng nâng cao tỷ
trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng số dư nợ của ngân hàng. Mặc dù độ rủi ro gặp
phải là rất lớn nhưng bù lại lãi suất cho vay rất cao, có khả năng đem lại lợi nhuận lớn
cho ngân hàng.

2.2 Phân loại dựa trên mức độ tín nhiệm đối với khách hàng.
- Cho vay không có đảm bảo:
Là loại hình cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hay sự bảo lãnh của người
thứ ba mà việc cho vay được thực hiện chỉ dựa trên uy tín của bản thân khách hàng. Đối
với khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có
hiệu quả thì ngân hàng có thể tin tưởng sẵn sàng cấp tín dụng mà không cần một nguồn
thu nợ thứ hai bổ sung. Hình thức cho vay này sẽ đem lại rủi ro rất lớn cho ngân hàng
nếu như có sự nhầm lẫn, sơ ý trong việc đánh giá, phân tích, thẩm định hồ sơ khách
hàng. - Cho vay có bảo đảm
Cho vay có bảo đảm là loại cho vay được ngân hàng cung ứng nhưng phải đi kèm
theo tài sản thế chấp, cầm cố hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba. Ngân hàng
thực sự thiếu tin tưởng đối với khách hàng nên sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để
ngân hàng có thêm một nguồn thu thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất nếu như
xảy ra một sự cố nào đó trong hoạt động kinh doanh của khách hàng.

3- Quy Trình cho vay.

3.1-Hợp đồng cho vay.
3.1.1-Khái niệm hợp đồng cho vay.

kinh doanh của khách hàng, từ việc thu nợ, hay bán các tích sản. Tuy nhiên nếu như việc
hoàn trả sớm khoản vay được thực hiện do khách hàng đi vay của ngân hàng khác thì
một mức phạt đối với hành vi đó sẽ được áp dụng.
- Xin vay và bảo đảm. ở phần này người vay sẽ trình bày và cam kết là các báo cáo tài chính mà kế
hoạch đã nộp cho ngân hàng nhằm hình thành các quyết định tín dụng là đúng và thực
sự phản ánh được tình hình tài chính hiện tại của người vay.
- Các điều kiện cho vay.
ở phần này cũng liên quan đến sự đảm bảo của khách hàng đó là tính hợp pháp
của các điều kiện phải tồn tại. Các tài liệu giấy tờ cần thiết về khách hàng phải được
giao cho người vay trước khi khoản vay được thực hiện. Đương nhiên, để suất bất cứ
khoản tiền nào cho vay thì những tài liệu đó phải đáp ứng được nhu cầu mong muốn của
cố vấn pháp lý cho ngân hàng về khách hàng cần vay vốn. Nếu như trong hợp đồng yêu
cầu cung cấp một khoản tín dụng tuần hoàn theo sau khoản vay định kỳ thì nhân viên
yêu cầu người vay phải cung cấp thêm thông tin trước mỗi lần xuất tiền để ngân hàng có
thể xác định rằng những gì đã trình bày có bảo đảm trước đây vẫn chính xác, không có
dấu hiệu nào cho thấy là khách hàng sẽ không trả được cho họ theo như thoả thuận.
- Mô tả vật thế chấp:
Các khoản vay ngân hàng có thể được đảm bảo hoặc không được đảm bảo. Nếu
như trong trường hợp khoản vay phải có bảo đảm thì hợp đồng phải mô tả chi tiết vật thế
chấp cũng như phải được xử lý như thế nào. Trong nhiều trường hợp thì vật thế chấp
được coi như phòng tuyến cuối cùng bảo vệ lợi ích của ngân hàng. Do vậy trong hợp
đồng cần có điều khoản minh bạch, rõ ràng khi nào, bằng cách nào ngân hàng có thể
chấp hữu tài sản thế chấp để thu hồi khoản vay nếu như khách hàng có nguy cơ không
trả được và khi thẩm định tài sản thế chấp cần chú ý quan tâm đến các đặc điểm sau:

chính của ngân hàng, có thể làm suy yếu khả năng chi trả của người vay.
- Các điều khoản hạn chế.
Các điều khoàn này cho phép các hành động nhất định nhưng giới hạn phạm vi
của chúng. Để đảm bảo nâng cao năng lực tài chính trong kinh doang, các doang nghiệp
vay sẽ giữ lại một phần lợi tức, các giới hạn thường được đặt trên số cổ tức có thể được
chi trả. Nếu như ngân hàng nhận tháy doanh nghiệp vay cần vốn ngắn hạn để thoả mãn
nhu cầu theo thời vụ thì những khoản vay như thế được cho phép nhưng thông thường
một giới hạn được áp dụng đối với tổng số tiền vay cả dài hạn lẫn ngắn hạn. Nếu người
vay mắc nợ các người khác những khoản nợ dài hạn , sự giới hạn cũng được áp dụng đối
với số lượng được dùng để chi trả hàng năm. Mục đích của nó là ngăn ngừa tình trạng
đặt ngân hàng vào vị trí người cuối cùng được chi trả cũng như là việc doanh nghiệp sử
dụng vốn của ngân hàng để trả hết cho một người cho vay khác. - Trường hợp không trả được nợ.
Tất cả các khoản cho vay định kỳ có các điều khoản về việc không trả được nợ
khiến cho toàn bộ khoản cho vay lập tức hết hạn và có thể được trả dưới các địa chỉ nhất
định. Nếu các địa chỉ nhất định không được đáp ứng thì toàn bộ khoản cho vay lập tức
được coi là đáo hạn. Việc này sẽ tiết kiệm ít phiền hà hơn là chờ cho đến khi mỗi khoản
tích góp đáo hạn mới áp dụng hành động pháp lý.

3.2- Lãi suất cho vay ở các Ngân hàng Thương mại.

3.2.1- Khái niệm lãi suất cho vay.
Lãi suất cho vay là tỉ lệ % giữa số tiền mà người đi vay phải trả thêm cho người
cho vay sau một thời hạn nhất định sử dụng số tiền vay đó. Lãi suất cho vay có thể được
tính theo tháng hoặc theo năm ( ở Việt Nam thường tính theo tháng còn hầu hết các

ổn định, các khoản dự trữ thặng dư gia tăng, lãi suất cho vay sẽ giảm khi các ngân hàng
tìm kiếm các tích sản sinh lợi. Tuy nhiên nếu có nhu cầu mạnh được tín dụng ngân hàng
và khoản dự trữ thặng dư tiếp tục ổn định hay phát triển chậm hơn nhu cầu tin dụng, lãi
suất sẽ tăng lên. Thái độ con người cũng ảnh hưởng đến lãi suất. Nếu người ta có cái
nhìn bi quan về kinh tế thì các giám đốc Ngân hàng không hạ mức lãi suất mặc dù nguồn
vốn cho vay có thể bảo đảm. Nếu lạc quan nghĩa là họ thấy rằng hệ thống dự trữ sẽ cấp
thêm vốn cần đến, lãi suất không bị tăng lên một cách rõ rệt, mặc dù dự trữ thặng dư
tương đối thấp lãi suất thị trường cũng chịu sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước theo
chính sách tiền tệ thắt chặt hay mở rộng. Nếu Ngân hàng Nhà nước muốn mở rộng tiền
tệ thì lãi suất thị trường giảm để thu hút người vay và ngược lại khi Ngân hàng Nhà
nước muốn thắt chặt tiền tệ thì lãi suất sẽ tăng lên để hạn chế tín dụng. Ngoài ra, lãi suất
còn chịu sự chi phối của kỳ hạn vay. Kỳ hạn càng dài thì rủi ro càng cao, thanh toán khó
khăn nên lãi suất cao để bù đắp những khó khăn có thể xảy ra.

3.3 Quy trình cho vay

Quy trình cho vay của các ngân hàng thông thường diễn ra qua 5 bước sau:

a) Hướng dẫn khách hàng làm thủ tục xin vay vốn Nếu lần đầu xin vay thì khách hàng phải cung cấp cho ngân hàng những tài liệu
chứng minh tính pháp lý của mình. Gửi đơn xin vay, trong đó điền đầy đủ những thông
tin cần thiết . Ngoài ra, người xin vay phải nộp kế hoạch sản xuất kinh doanh để xác
định nhu cầu, cung cấp cho ngân hàng những hợp đồng kinh tế liên quan đến việc thực
hiện kế hoạch, dự án để xác định tính khả thi của dự án. Nộp báo cáo tài chính kinh
doanh hiện tại của khách hàng, kèm theo những tài liệu chứng minh về đảm bảo an toàn

Việc đánh giá chính xác thông tin phản ánh trong những báo cáo tài chính là rất
quan trọng trong phân tích tín dụng. Ngân hàng dựa trên báo cáo tài chính để đánh giá
các khoản mục tài sản, tài sản và vốn tự có, đánh giá báo cáo lãi lỗ, những thay đổi tình
hình tài chính.
Nếu không chấp nhận thì gửi giấy báo từ chối trong vòng 10 ngày. Chấp nhận thì ra
quyết định cho vay.

c)Ra quyết định cho vay
Khi ra quyết định cho vay thì ngân hàng sẽ ấn định mức cho vay căn cứ vào nhu
cầu xin vay vốn của khách hàng và khả năng có thể đáp ứng được của ngân hàng, xác
định thời hạn cho vay, kỳ hạn trả nợ và mức trả nợ của những kỳ hạn. Những đIều này
thể hiện trên hợp đồng cho vay được ký kết giữa ngân hàng với khách hàng.

d) Giải ngân
Việc tiến hành cho vay diễn ra căn cứ vào mức cho vay đã được xác định. Ngân
hàng mở tài khoản xin vay vốn của khách hàng. Rồi tiền hành chuyển tiền cho khách
hàng một lần hoặc nhiều lần.

e)Kiểm tra giám sát khách hàng
Sau khi trao tiền vào tay khách hàng, ngân hàng vẫn phải tiếp tục thường xuyên
theo dõi hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Ngân hàng cần kiểm tra xem
người vay có sử dụng tiền đúng mục đích như đã cam kết hay không? kinh doanh có
hiệu quả không? Nếu có dấu hiệu của thua lỗ, khó có thể vớt vát được thì lập tức còn rút
vốn về nhằm hạn chế những tổn thất có thể xảy ra, và có những hình phạt thích đáng đối
với những cá nhân vì lợi ích của bản thân mà đang tâm lừa đảo chiếm đoạt. biến động thời vụ và chu kỳ thì tín dụng sẽ bị co hẹp lại. Các khoản ký thác trong nền
kinh tế không ổn định thường chao đảo , biến động mạnh so với các khoản ký thác trong
một nền kinh tế ổn định, điều kiện kinh tế có thể thể hiện qua toàn bộ hoạt động kinh tế
cũng có thể thể hiện ở các ngành kinh tế, lĩnh vực kinh tế.

4.4 Chính sách tiền tệ và chính sách tài chính
Chính sách tiền tệ và tài chính của Nhà nước bao gồm các chính sách như dự trữ
pháp định, chính sách chiết khấu, chính sách thị trường mở…Những chính sách này
mang tính cưỡng chế của pháp luật, áp dụng lên toàn bộ nền kinh tế nên các NHTM
buộc phải tuân theo. Nếu các chính sách tài chính tiền tệ được mở rộng thì hệ thống
NHTM được cấp thêm vốn dự trữ, khả năng cho vay của ngân hàng được gia tăng.
Ngược lại, khi Nhà nước muốn hạn chế tín dụng, sử dụng chính sách thắt chặt thì buộc
các ngân hàng cũng phải hạn chế tín dụng.

4.5 Khả năng và kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên
Yếu tố con người luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu để vạch ra các chính sách
kinh doanh của ngân hàng nói chung và chính sách tín dụng nói riêng. Tùy thuộc vào
khả năng chuyên môn, khả năng quản lý của nhân viên mà các NHTM mở rộng tín dụng
vào những phạm vi mà nhân viên của mình có thể quản lý được. Bởi lẽ, cho vay luôn đi
liền với những rủi ro nếu như các nhân viên không đủ trình độ, khả năng đánh giá sự
trung thực của các hồ sơ khách hàng, tính khả thi của các dự án xin vay thi sẽ đem lại rủi
ro rất lớn cho hoạt động của ngân hàng.

4.6 Nhu cầu của khu vực phục vụ
Các ngân hàng muốn đực cấp giáy phép hoạt động thì cần phải đáp ứng phục vụ

được vốn để trả nợ cho ngân hàng.
Rủi ro là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động cho vay của ngân hàng, đến sự
tồn tại, phát triển của ngân hàng. Do vậy, các ngân hàng thường xuyên phải tìm kiếm
các giải pháp để hạn chế đến mức thấp nhất những tác động của rủi ro nhằm bảo đảm an
toàn cho các khoản vốn cho vay của mình.

5. Nguyên tắc quản lý tiền cho vay
Rủi ro xảy ra là điều khó có thể tránh khỏi trong hoạt động cho vay của ngân
hàng nhưng không phải là không có cách để hạn chế nó. Quản lý tiền cho vay bao gồm
sàng lọc và giám sát khách hàng, thế chấp tài sản và số dư bù, hạn chế tín dụng, quan hệ
khách hàng lâu dài và quy tắc tính dụng là một trong những cách mà các ngân hàng luôn
luôn sử dụng để kìm chế sự xuất hiện của các loại rủi ro.

5.1 Sàng lọc và giám sát
Thông tin không cân xứng có mặt trong các thị trường cho vay bởi những người
đi vay thường không muốn cung cấp đầy đủ, chính xác về thực trạng hoạt động sản xuất
kinh doanh hiện nay của mình cho người cho vay. Tình trạng này đưa đến hai hoạt động
sản xuất thông tin do các ngân hàng thực hiên: Sàng lọc và giám sát.

5.1.1 Sàng lọc
Bởi lẽ ngân hàng luôn phải đối đầu với những thông tin bất đối xứng, do vậy
ngân hàng phải tiến hành sàng lọc những khách hàng có nhu cầu vay vốn để cho ra
những khách hàng có đủ độ tin cậy để cho vay. Để sàng lọc thì ngân hàng phải tổ chức,
thu thập nắm giữ những thông tin từ tất cả các khách hàng có nhu cầu vay vốn ( tài sản

chấp tại thời điểm cho vay.
Khi người vay nhận được tiền vay, NHTM yêu cầu người vay phải giữ một số tối
thiểu bắt buộc trong các tài khoản ở ngân hàng gọi là “số dư bù”. Đây là một dạng riêng
của vật thế chấp bắt buộc khi một ngân hàng cho vay thương mại. Nếu khách hàng
không trả được nợ thì Ngân hàng sẽ thu nợ từ “số dư bù”. Cho vay “số dư bù” thì người
vay phải có tài khoản tại ngân hàng cho vay. Do vậy có lợi cho ngân hàng là có thể giám
sát được khách hàng vay thông qua hoạt động tài khoản của họ. Bất kỳ thay đổi quan
trọng nào trong các thủ tục thanh toán của người vay đều là một tín hiệu báo cho Ngân
hàng vay phải tiến hành điều tra.

5.3- Hạn chế tín dụng
Đây là một phương pháp cũng giúp cho ngân hàng đối phó với lựa chọn đối
nghịch về rủi ro đạo đức. Hạn chế tín dụng có hai dạng: Dạng thứ nhất là ngân hàng
hoàn toàn từ chối một khoản cho vay nếu qua sàng lọc kiểm tra thấy độ rủi ro cao, khách
hàng không đáng tin cậy với số lượng bất kỳ nào đối với người vay, ngay cả khi người
vay này sẵn lòng thanh toán một lãi suất cao hơn. Dạng thứ hai diễn ra khi một ngân hàng không từ chối hoàn toàn, vẫn cho vay nhưng hạn chế mức vay đó dưới mức mà vay
muốn. Với khoản cho vay nhỏ như thế thì ngân hàng vẫn có thể thu lãi suất và người đi
vay cũng có đủ khả năng thanh toán.

5.4- Quan hệ khách hàng lâu dài và quy tắc tín dụng
Để thu nhập được thông tin về người vay tiền, ngân hàng có thể dựa trên quan hệ
khách hàng lâu dài. Người vay tiền có tài khoản séc hay tài khoản tiết kiệm hoặc đã từng
vay ở ngân hàng trong một thời gian dài thì ngân hàng sẽ biết được nhiều thông tin về họ
bởi người phụ trách việc cho vay sẽ căn cứ vào hoạt động quá khứ đối với tài khoản đó


Chương hai



Khối ngân hàng 12/ 96 12/ 97 12/ 98 12/ 99 12/ 00
NHTMQD 39,6 37,9 46,2 45,9 49,3
NHTM ngoàiQD

Trong đó:
NHTM CP
NHNg & NHLD
60,434,4
26,0
62,128,6
33,5
53,824,4
29,4
54,122,5
31,6
50,7

17,0
50.0
65,817,1
48,6
68,015,3
52,7

Chú thích: Ngân hàng thương mại cổ phần:NHTHCP
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: NHNg
Ngân hàng liên doanh: NHLD

NHTMQD mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn bị NHTM ngoài QD chén ép, chưa
giành giật được ưu thế cạnh tranh về phía mình. ở TP HCM năm 2000, các NHTMQD đã
vươn lên xấp xỉ gần 50% thị phần cho vay. Trong khi đó ở TP Hà Nội, 4 năm liên tiếp
chưa lần nào vượt quá 40%.
-Về tỷ trọng cho vay:
Tín dụng ngân hàng tập trung vào các ngành công nghiệp tăng 21%, nông lâm ngư
nghiệp tăng 16%, thương nghiệp và dịch vụ tăng 18%(số liệu năm 1995 so với năm

 Cho vay ngắn hạn
Năm 1999: đến hết ngày 31/12/1999, dư nợ cho vay của ngân hàng đạt 1106 tỷ đồng,
tăng 27% so với cuối năm 1998 và chiếm 68% tổng dư nợ cho vay ( dư nợ cho vay tăng
chủ yếu ở phần cho vay bằng ngoạI tệ với dư nợ đạt 37 triệu USD, tăng 17 triệu USD so
với cuối năm 1998).
Năm 2001:dến 31/12/2001, dư nợ cho vay của ngân hàng đạt 1513 tỷ Việt Nam đồng
tăng 102 tỷ( 7,23%) so với cùng kỳ năm trước); trong đó dư nợ nội tệ là 1077 tỷ đồng
tăng 328 tỷ đồng(44%),dư nợ ngoạI tệ là 29 triệu USD, giảm 17 triệu USD. So với năm
2000, doanh số cho vay năm 2001 tăng 14,6% đạt 3900 tỷ đồng, doanh số thu nợ tăng
15,6% đạt 3717 tỷ đồng.
 Cho vay trung dài hạn.
Năm 1999: dư nợ cho vay trung dài hạn tính đến 31/12/1999 chỉ bằng 41% năm
1998.
Năm 2001: dư nợ cho vay trung dàI hạn quy VND tạI thời đIúm 31/12/2000 chỉ có 767 tỷ
đồng. Sang năm 2001 số dư nợ tăng đều qua các tháng ,đến tháng 7 năm 2001 thì đạt
1000 tỷ đồng và trong quý 3 dao động ở mức 1100 tỷ đồng và tăng mạnh trong quý 4 đạt
1596 tỷ đồng vào ngày 31/12/2001.
 Nợ quá hạn.
Năm 1999: tổng số nợ quá hạn đến 31/12/1999 là 76569 triệu đồng, giảm 4,82%
so với năm trước và chiếm 4,69% tổng số dư nợ cho vay.
Tình hình xử lý: tổng nợ quá hạn, khó đòi đã thu được từ con nợ là 522.000 USD,
bán tàI sản thế chấp thu được 4 tỷ đồng.
Năm 2001: trong năm 2001 nợ quá hạn là 89.000 USD.
Giải quyết nợ tồn đọng: trong năm 2001 đã thu hồi được 71 tỷ đồng và
415.000USD nợ quá hạn.

ruộng của mình. Bằng nghiệp vụ cho vay, các NHTM đã và đang thực hiện chức năng
xã hội của mình, gián tiếp làm cho sản phẩm xã hội tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng,
nhiều ngàng nghề sản xuát được củng cố, ổn định, được cải tạo và phát triển, làm tăng
GDP trong nền kinh tế, mức sống của dân cư được cải thiện rõ rệt.
Chính quá trình phân phối lại vốn tiền tệ của Ngân hàng Thương mại thông qua
hoạt động cho vay đã góp phần bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận trong toàn bộ nền kinh
tế, tạo nên sự chuyển dịch vốn từ ngành có lợi nhuận thấp sang nghành có lợi nhuận cao. Do tính chuyên môn hoá trong kinh doanh, hoạt động cho vay của NHTM đã phát
huy được vai trò quan trọng của mình đối với lĩnh vực sản xuất lưu thông hàng hoá,
trong việc đáp ứng nhu cầu về vốn để duy trì và mở rộng quá trình tái sản xuất, được sử
dụng như một công cụ tài trợ cho những ngành kinh tế kém phát triển, và các ngành kinh
tế mũi nhọn theo yêu cầu phát triển kinh tế của Nhà Nước. Đối với lưu thông tiền, thông
qua hoạt động cho vay của hệ thống NHTM,Ngân hàng Nhà Nước sẽ kiểm soát được
lượng tiền cung ứng bằng việc thực thi các công cụ của chín sách tiền tệ như tỷ lệ dự trữ
bắt buộc, lãi suất tái cấp vốn, hạn mức tín dụng…Những công cụ này tác động trực tiếp
đến hoạt động tín dụng của NHTM làm ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng cho lưu
thông.

2.2 Hạn chế
Mặc dù có nhiều mặt tích cực nhưng bản thân ngân hàng vẫn còn tốn tại nhiều
hạn chế làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động cho vay đối với nền kinh tế.
Thứ nhất: Giữa cung và cầu vẫn chưa có sự ăn khớp. Sau khi luật doanh nghiệp
ra đời, thực sự có hiệu lực thì hàng nghìn doanh nghiệp được thành lập, hoạt động với
quy mô vừa và nhỏ. Do mới đựoc thành lập nên các doanh nghiệp luôn ở trong trình
trạng thiếu vốn cho sản xuất kinh doanh nhưng họ không được vay vốn từ các ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status