Hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại với các Tổng Công Ty nhà nước - Pdf 63

Hoạt động cho vay của các Ngân hàng th-
ơng mại với các Tổng Công Ty nhà nớc
I - Hoạt động cho vay của các Ngân hàng thơng mại.
1. Khái niệm và đặc trng hoạt động cho vay của các NHTM:
1. 1. Khái niệm:
Theo nghĩa thông thờng, cho vay là việc chuyển giao một số tiền hay tài
sản nhất định cho ngời khác sử dụng với điều kiện có hoàn trả lại. Khái niệm phổ
biến này đợc dùng rộng rãi trong đời sống thờng ngày, từ những món tiền hay tài
sản có giá trị lớn cho tới những món tiền lớn hay đồ vật có giá trị nhỏ. Với khái
niệm này, hoạt động cho vay hay quan hệ vay mợn nói chung có 2 đặc điểm chính
là:
- Thứ nhất, trong quan hệ ấy, chỉ có sự chuyển giao quyền sử dụng (tiền, tài
sản) mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu các tài sản hay số tiền đó.
- Thứ hai, ngời cho vay đợc hoàn trả lại sau một thời gian nhất định theo sự
thoả thuận giữa hai bên: ngời cho vay và ngời đi vay.
Ngời cho vay có nhận đợc một khoản lãi nào hay không cũng phụ thuộc
vào sự thoả thuận này, và trong đời sống thờng ngày không phải bao giờ ngời cho
vay cũng lấy lãi.
Còn đối với các NHTM hay là các tổ chức tín dụng nói chung thì cho
vay là một nội dung nghiệp vụ. Đó là việc NHTM giao cho khách hàng một
khoản tiền nhất định trong một thời gian nhất định với điều kiện là họ phải
hoàn trả lại cùng với một khoản tiền vợt trội đóng vai trò là tiền lãi. Với một
khoản vay mợn thông thờng, ngời cho vay có thể không đòi hỏi một khoản lãi
nào, điều này có thể xuất phát từ những mối quan hệ cá nhân, hoặc ngời cho
vay không phải là ngời kinh doanh tiền... Song đối với các NHTM, bao giờ họ
cũng phải thu lãi, ít nhất là phải đủ để trả lãi cho ngời gửi tiền vào ngân hàng,
bởi vì họ cũng là những ngời kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận.
ở Việt Nam, theo Quy chế cho vay ban hành kèm Quyết định 324/1998/
QĐ - NHNN1, thì Cho vay là một hình thức cung cấp tín dụng, theo đó tổ chức
tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời
gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi.

phục vụ. Khi đã có yêu cầu xin vay vốn, điều đầu tiên cán bộ tín dụng (CBTD)
phải làm là hớng dẫn khách hàng về thủ tục và điều kiện đợc xin vay vốn. Nếu
khách hàng đã nhất trí với các điều kiện và thủ tục ấy thì CBTD hớng dẫn họ
lập hồ sơ vay vốn để ngân hàng chính thức nghiên cứu, thẩm định. Mục đích
của thẩm định tín dụng là xác định khả năng và ý muốn của ngời vay trong
việc hoàn trả tiền vay phù hợp với các điều khoản của hợp đồng tín dụng, nói
cách khác là ớc lợng rủi ro không hoàn trả. Từ đó đa ra quyết định cho vay hay
không, và nếu cho vay thì cho vay bao nhiêu? Với kỳ hạn, lãi suất và phơng
thức cho vay nào? Khi tiến hành thẩm định, ngân hàng phải trả lời cho hai
loại câu hỏi lớn là phải thẩm định cái gì (thẩm định các yếu tố nào) và các
nguồn thông tin lấy từ đâu. Chúng ta sẽ đi vào xem xét cách trả lời với mỗi loại
câu hỏi trên.
Trả lời câu hỏi thẩm định cái gì ? Các ngân hàng lại thờng chia ra
thành thẩm định các yếu tố về bản thân khách hàng và thẩm định về phơng án,
dự án xin vay vốn.
a/ Các yếu tố về bản thân khách hàng:
Năng lực vay nợ: Các ngân hàng quan tâm trớc tiên đến năng lực pháp lý
và năng lực hành vi dân sự của khách hàng. Là khách hàng, cá nhân họ phải là
những công dân đến tuổi trởng thành (theo luật Việt Nam là 18 tuổi trở lên),
nếu không họ phải đợc cha mẹ hay ngời giám hộ bảo lãnh và cùng ký vào đơn
xin vay tiền. Đối với các tổ chức kinh tế (TCKT), ngân hàng xét xem nó có đủ
t cách pháp nhân không, các giấy tờ xác minh t cách ấy, tính độc lập và tự chịu
trách nhiệm trong việc đa ra các quyết định của các TCKT đó nh thế nào? Ai là
ngời có thẩm quyền đại diện cho công ty trong quan hệ vay mợn? Đây là những
yếu tố mà bắt buộc ngân hàng phải xem xét.
Uy tín của khách hàng: Uy tín ở đây không chỉ trong quan hệ của khách
hàng với ngân hàng, mà còn trong các quan hệ tín dụng cũng nh kinh tế với các
ngân hàng và đối tác khác. Lịch sử các mối quan hệ này của khách hàng trong
đó có việc thực hiện các hợp đồng tín dụng thờng rất có giá trị khi đánh giá uy
tín của họ. Tuy nhiên không phải lúc nào ngân hàng cũng nắm đợc rõ ràng các

nghiệp, lãi suất chiết khấu của NHTW, cân đối ngân sách, cân đối thanh toán
và tỷ giá hối đoái và phân tích đợc các thông tin về lĩnh vực hoạt động của
khách hàng.
b/ Về thẩm đinh phơng án, dự án xin vay:
Trớc hết, ngân hàng phải xem xem phơng án sử dụng vốn vay có phù hợp
với kế hoạch SXKD, với điều kiện thị trờng hay không; các điều kiện để thực
hiện thành công phơng án, các định mức kinh tế - kỹ thuật, các số liệu về thu
nhập và chi phí cũng nh lợi nhuận dự kiến có hợp lý không? Điều này xuất phát
từ mối quan hệ tay ba ngân hàng - doanh nghiệp - thị trờng.
Đối với những yêu cầu xin vay vốn ngắn hạn bổ sung cho vốn lu động,
nguồn trả nợ trực tiếp nhất là doanh thu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ hình thành
từ nguồn vốn vay. Ngân hàng thờng thiết lập mối tơng quan giữa khoản tiền xin
vay với doanh thu theo kế hoạch và doanh thu thực hiện của phơng án SXKD.
Tại thời điểm xem xét, doanh thu thực hiện cha xuất hiện, nhng ngân hàng lại
phải dự đoán đợc do nó phụ thuộc trực tiếp vào tiêu thụ, tức là nhu cầu thị trờng
và sức cạnh tranh của sản phẩm. Kết hợp với các yếu tố đã phân tích về bản
thân khách hàng, ngân hàng sẽ rút ra kết luận về số tiền có thể chấp nhận cho
vay trong tổng doanh thu đó. Một vấn đề có tính nguyên tắc là chỉ những phơng
án với hiệu quả đợc tính trong khoảng thời gian một chu kỳ sản xuất hoặc năm
dơng lịch mới là đối tợng của cho vay vốn lu động.
Đối với các dự án xin vay vốn trung, dài hạn thì việc thẩm định sẽ phức
tạp hơn, bởi các khoản cho vay này chứa đựng nhiều rủi ro hơn. Các ngân hàng
thờng thẩm định dự án từ nhiều phơng diện: kỹ thuật, thị trờng và tài chính của
dự án, từ đó khẳng định tính khả thi kinh tế - kỹ thuật của dự án, xác định đợc
thời điểm thực hiện dự án, lịch trình giải ngân, trả nợ đợc trù tính trong dự án,
từ đó mà quyết định cho vay hay từ chối. Trớc tiên, ngân hàng thẩm định về thị
trờng sản phẩm, dịch vụ và sản phẩm dịch vụ sẽ cung cấp nh đối với cho vay
ngắn hạn. Thẩm định kỹ thuật dự án cũng quan hệ chặt chẽ tới phơng diện thị
trờng của dự án. ở đây, ngân hàng quan tâm tới qui mô của dự án, xem có phù
hợp vói khả năng tiêu thụ sản phẩm, khả năng cung cấp nguyên vật liệu và

ở một ngân hàng thờng có sự phân cấp uỷ quyền trong việc quyết định
cho vay. Điều này càng thấy rõ ở mức phán quyết mà chi nhánh của NHTM (ở
ngân hàng có chi nhánh) có thể quyết định cho vay. Nhiều khi một hội đồng
gồm nhiều thành viên đợc thành lập để thẩm định và quyết định cho vay đối với
các dự án lớn, có tính phức tạp cao.
2.2. Giải ngân, quản lý món vay và thu nợ:
Mục đích của khâu này là phát tiền vay đúng tiến độ, đúng đối tợng,
kiểm soát và quản lý chặt chẽ món vay để đảm bảo khách hàng sử dụng vốn
vay đúng mục đích, thực hiện đợc kế hoạch trả nợ, đồng thời có thể phát hiện
sớm nhất những khó khăn phát sinh để có biện pháp xử lý nhằm hạn chế tới
mức thấp nhất rủi ro đối với ngân hàng. Các công việc cụ thể là:
Khi phát tiền vay, CBTD tuân thủ nguyên tắc phải có vật t, tài sản tơng
đơng là đối tợng ghi trong hợp đồng tín dụng kết hợp với các phơng thức thanh
toán, ngân hàng có thể thanh toán trực tiếp với ngời cung cấp của khách hàng
mà không qua trung gian.
Sau khi phát tiền vay, CBTD vẫn thờng xuyên quản lý kiểm tra việc sử
dụng vốn vay của khách hàng. Ngoài việc liên tục theo dõi sự vận động của
vốn, ngân hàng còn chú ý cả tới tình hình kinh doanh chung của khách hàng và
tình hình thị trờng giá cả... Phát hiện sớm nhất những dấu hiệu của khoản cho
vay có vấn đề, ngân hàng có thể có biện pháp thích hợp. Ngân hàng có thể thu
hồi khoản vay trớc hạn, nếu khách hàng sử dụng vốn sai mục đích. Ngân hàng
cũng có thể yêu cầu thêm tài sản thế chấp, cầm cố khi giá trị thị trờng của các
tài sản này giảm ngoài dự kiến... Đối với những khó khăn mang tính khách
quan, ngân hàng sẽ cùng khách hàng giải quyết, giúp doanh nghiệp thu hồi các
hoá đơn chậm trả, thanh toán hàng tồn kho hay giảm bớt dự trữ quá mức; sắp
xếp, cấu trúc lại các khoản vay bằng định lại kỳ hạn nợ hay rút bớt mức chi trả
định kỳ trong một thời gian... Để việc thu nợ diễn ra thuận lợi, CBTD có các
biện pháp nhắc nhở, đôn đốc; định kỳ tổng kết việc thực hiện kế hoạch trả nợ
của khách hàng.
2.3. Thanh lý hợp đồng tín dụng và lu giữ hồ sơ khách hàng:

hoặc một số chuyên ngành kinh tế kỹ thuật chính do Nhà nớc thành lập nhằm tăng
cờng tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất để thực
hiện nhiệm vụ Nhà nớc giao, nâng cao khả năng và hiệu quả kinh doanh của các
đơn vị thành viên và của toàn Tổng Công ty đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.
Tổng Công ty Nhà nớc hoạt động theo mô hình quy định tại Quyết định số
91/TTg ngày 07/3/1994 của Thủ tớng Chính phủ gọi tắt là Tổng Công ty 91. Tổng
Công ty Nhà nớc hoạt động theo mô hình quy định tại Quyết định số 90/TTg ngày
07/3/1994 của Thủ tớng Chính phủ gọi tắt là Tổng công ty 90.
Các đơn vi đợc lựa chọn theo Quyết định 91 là một số Tổng Công ty, Công
ty lớn có mối liên hệ theo ngành và vùng lãnh thổ không phân biệt doanh nghiệp
do Trung ơng hay do địa phơng quản lý có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân, bảo đảm những yêu cầu cần thiết cho thị trờng trong nớc và có triển vọng mở
rộng quan hệ kinh doanh ra nớc ngoài, phải có 7 doanh nghiệp thành viên trở lên
và có vốn pháp định ít nhất là 1.000 tỷ đồng.
Các Tổng Công ty đợc thành lập theo Quyết định 90 là các Liên hiệp Xí
nghiệp, Tổng Công ty có ít nhất 5 đơn vị thành viên quan hệ với nhau về công
nghệ, tài chính, chơng trình đầu t phát triển, dịch vụ về cung ứng, vận chuyển, tiêu
thụ, thông tin, đào tạo. Toàn Tổng Công ty có vốn pháp định trên 500 tỷ đồng,
trong những ngành đặc thù thì vốn pháp định có thể thấp hơn nhng không đợc ít
hơn 100 tỷ đồng.
1.2. Hoàn cảnh ra đời của Tổng Công ty ở nớc ta:
Trong nền kinh tế thị trờng, dới sự chi phối của các quy luật kinh tế
khách quan nh quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật tích tụ và tập trung
sản xuất... diễn ra một xu hớng cơ bản là sự tập trung sản xuất kinh doanh để
hình thành các tập đoàn kinh doanh dới nhiều hình thức và mức độ khác nhau.
Hiện nay, các tập đoàn kinh doanh có vai trò chi phối nhiều nền kinh tế
trên thế giới nh các cheabol ở Hàn Quốc, các tập đoàn kinh doanh của Mỹ,
Nhật. Các Công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia cũng là những dạng tập đoàn
kinh doanh. Ngay ở các nớc láng giềng với Việt Nam ta, nhiều tập đoàn kinh
doanh đã hình thành và phát triển, đóng vai trò lớn trong nền kinh tế quốc dân

ơng xoá bỏ dần chế độ bộ chủ quản và cấp hành chính chủ quản, sự phân biệt
giữa các doanh nghiệp Trung ơng và địa phơng. Việc thành lập các Tổng Công
ty Nhà nớc là một bộ phận của quá trình đổi mới, tổ chức và sắp xếp lại các
DNNN, hình thành các tập đoàn kinh doanh mạnh của Nhà nớc.
Sau những năm đầu hoạt động, các Tổng Công ty đã phát huy nhiều tác
dụng tích cực: Tập hợp đợc sức mạnh toàn Tổng Công ty trong tham gia đấu
thầu, bảo lãnh vay vốn tín dụng thực hiện chiến lợc đầu t phát triển và đổi mới
công nghệ (rõ nhất là các TCT 91), xây dựng và mở rộng thị trờng, giảm thiểu
sự cạnh tranh hỗn loạn giữa các DNNN với nhau trên thị trờng trong nớc, bình
ổn giá cả. Nhng việc thành lập Tổng Công ty mang tính chủ quan lại bộc lộ một
số nhợc điểm một loạt Tổng Công ty đợc thành lập trên cơ sở gom các doanh
nghiệp cùng chức năng lại thành một Tổng Công ty, vốn giao cho Tổng Công ty
là tổng vốn các thành viên nắm giữ, dẫn tới tình trạng Tổng Công ty chỉ nắm
vai trò quản lý hành chính; tình trạng độc quyền trong kinh doanh tăng lên đặc
biệt đối với các Tổng Công ty 91; quan hệ giữa Tổng Công ty - đơn vị thành
viên còn nhiều trục trặc.
2. Địa vị pháp lý và tổ chức một Tổng Công ty:
2.1. Địa vị pháp lý:
Các Tổng Công ty ra đời trực tiếp từ các quyết định 90/TTg, 91/TTg
ngày 07/3/1994 của Thủ tớng Chính phủ. Ngoài việc chịu chi phối bởi các văn

Trích đoạn Tính cạnh tranh trong môi trờng hoạt động của ngân hàng:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status