Đặt vấn đề
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra đờng lối đổi mới kinh tế theo
hớng phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị tr-
ờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN. Theo đó, chúng ta
khuyến khích sự phát triển mạnh mẽ của tất cả các thành phần kinh tế. Đặc
biệt kinh tế Nhà nớc mà nòng cốt là các doanh nghiệp Nhà nớc (DNNN), phải
đủ mạnh để giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
Sức mạnh của DNNN không chỉ thể thể hiện ở quyền lực hành chính của
Nhà nớc mà còn ở sức mạnh kinh doanh thực sự của doanh nghiệp. Thí điểm
thành lập các Tổng công ty Nhà nớc theo hớng hình thành và phát triển các
tập đoàn kinh tế mạnh là một chủ trơng đúng đắn của Nhà nớc ta nhằm tổ
chức lại khu vực kinh tế Nhà nớc, tạo nền tảng cho sự ổn định và phát triển
kinh tế đất nớc. Thực tế hoạt động của các Tổng công ty Nhà nớc trong những
năm qua đã đạt đợc những thành tựu rất đáng khích lệ, ngày càng khẳng định
đợc vai trò chủ đạo của DNNN trong nền kinh tế. Tuy nhiên về mô hình tổ
chức Tổng công ty Nhà nớc vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn. Để nâng cao sức
cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của Tổng công ty, tiến tới xây dựng một số
Tổng công ty đạt đợc các yêu cầu cơ bản của một tập đoàn kinh tế, cần phải
tổng kết, đánh giá lại mặt mạnh, mặt yếu của mô hình Tổng công ty, từ đó có
biện pháp, chính sách tăng cờng, củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của
Tổng công ty, lựa chọn các Tổng công ty Nhà nớc quan trọng, hoạt động có
hiệu quả, có khả năng và điều kiện để xây dựng thành lập đoàn kinh tế mạnh.
Trong bài viết này em xin đề cập đến một số phơng hớng, biện pháp nhằm giải
quyết vấn đề trên.
1
Nội dung
I. Sự cần thiết phải xây dựng các Tổng công ty thực sự trở thành các tập đoàn
kinh tế lớn mạnh.
1. Các Tổng công ty Nhà nớc có quy mô lớn (Tổng công ty 91,90) là
công cụ quan trọng để Nhà nớc điều tiết nền kinh tế theo định hớng xã
hội chủ nghĩa.
2. Thành lập các Tổng công ty Nhà nớc là một biện pháp để sắp xếp
lại các DNNN.
Nhằm khắc phục sự dàn trải và nâng cao hiệu quả hoạt động của các
DNNN, thời gian qua Nhà nớc ta đã ban hành nhiều chính sách sắp xếp lại
DNNN. Đặc biệt, ngày 7/3/1994, thủ tớng Chính phủ đã ra quyết định số
s90/Ttg và 91 Ttg thành lập 18 - Tổng công ty có quy mô quốc gia và 73 Tổng
công ty có quy mô nhỏ hơn. Gọi tắt là các Tổng công ty 91,90. Theo các quyết
định này thì tất cả các Tổng công ty (đợc thành lập trớc đó) không đủ điều
kiện về vốn, tài sản phải hạ cấp. Hiện nay, các Tổng công ty Nhà nớc này thu
hút gần 1100 DNNN là thành viên hạch toán độc lập hoặc phụ thuộc, chiếm
khoảng 30% tổng số DNNN đang hoạt động và khoảng 70% doanh nghiệp do
trung ơng quản lý. Tính đến cuối năm 1999, cả nớc có 5.925DNNN, mặc dù
số lợng DNNN giảm gần 50% so với năm 1989 song DNNN vẫn giữ vị trí
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
3. Thí điểm thành lập các Tổng công ty Nhà nớc theo hớng hình
thành và phát triển các tập đoàn kinh tế mạnh là một chủ trơng đúng
đắn của Nhà nớc ta.
Các Tổng công ty hiện nay về cơ bản là doanh nghiệp 100% vốn Nhà n-
ớc, vận hành theo cơ chế công ty mẹ, công ty con. Đây chính là bớc khởi
đầu cho việc hành thành cáctập đoàn kinh tế lớn, kinh doanh đa ngành, có
hiệu quả và sức cạnh tranh cao. Tại hội nghị sơ kết mô hình Tổng công ty Nhà
nớc, nhìn chung, lãnh đạo các Tổng công ty đều tán thành ý kiến thí điểm mô
hình công ty mẹ, công ty con. Tổng giám đốc Tổng công ty dệt may, ông
3
Bùi Xuân Khu nói: công ty mẹ - công ty con là mô hình rất linh hoạt và hoạt
động theo dạng tập đoàn lớn. Mô hình này sẽ đem lại hiệu quả và sự hợp tác
cao hơn trong công việc. Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Thuỷ sản Việt Nam
cho biết: công ty mẹ- công ty con là mô hình tập đoàn kinh tế có quy mô lớn
về vốn, lao động, doanh thu và thị trờng. áp dụng mô hình này, Tổng công ty
Thủy sản Việt Nam sẽ có phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh đa ngành, đa
Hiên nay, cả nớc có 17 Tổng công ty 91, 74 Tổng công ty 90. Các Tổng
công ty này đã dung nạp gần 1100 DNNN làm thành viên, tơng đơng 70% số
DNNN đo trung ơng quản lý; chiếm s80% tổng số vốn và giá trị sản lợng của
DNNN. Do đó, các Tổng công ty Nhà nớc không những chi phối cơ bản khu
vực DNNN mà còn chi phối cả nền kinh tế. Kết quả bớc đầu nh sau:
* Các Tổng công ty Nhà nớc đã đi vào ổn định, khắc phục khó khăn, vơn
lên đạt kết quả đáng kể về sản xuất, kinh doanh.
Hầu hết các Tổng công ty đều đạt mức tăng trởng đợc giao về tổng sản l-
ợng sản xuất, tổng doanh thu, nộp ngân sách, lãi, lỗ, thu nhập bình quân ngời
lao động, kim ngạch xuất khẩu nhập khẩu và một số chỉ tiêu quan trọng khác
đầu tăng trởng qua các năm. Có một số Tổng công ty ngày càng lớn mạnh, có
thêm lực phát triển, hoạt động có hiệu quả, ổn định, vững chắc; nh Tổng công
ty Bu chính - Viễn thông, Tổng công ty dầu khí, Tổng công ty Than, Tổng
công ty điện lực, Tổng công ty Hàng Không, Tổng công ty Xi măng, Tổng
công ty Thuốc lá, Tổng công ty Rợu bia, nớc giải khát, Tổng công ty Xăng
dầu.
Các Tổng công ty này không chỉ đạt đợc các chỉ tiêu hiện tăng trởng mà
thị phần của ngành ngày càng đợc mở rộng, tỷ lệ huy động năng lực sản xuất
cao.
* Các Tổng công ty ngày càng thể hiện đợc sức mạnh kinh tế và kinh
doanh, khẳng định vai trò, tác dụng của nó trên thực tế đối với hầu hết các
ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng của nền kinh tế nớc ta.
5
Các Tổng công ty có sức mạnh cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh và
thị trờng tiêu thụ sản phẩm trong nớc. Một số loại sản phẩm của một số ngành
kinh tế do các Tổng công ty sản xuất đã và đang có vị trí đứng ở thị trờng nớc
ngoài, tạo khả năng tự cân đối đợc kim ngạch xuất nhập khẩu nhh ngành Rợu
- bia - nớc giải khát, thuốc lá, Than, May mặc, Dầu khí.
Nhìn chung các Tổng công ty có khả năng và thực lực để thực hiện các
nhiệm vụ và chiến lợc phát triển ngành do Chính phủ giao. Các Tổng công ty
ty hầu nh rất mờ nhạt. Có một số Tổng công ty đã hoạt động vài năm rồi mà
vẫn cha đủ số lợng thành viên HĐQT. Cá biệt, có Tổng công ty cho tới tận đầu
năm 1999 mới có chủ tịch HĐQT. Theo báo cáo của ban đổi mới quản lý
doanh nghiệp trung ơng thì Qua thực tế hoạt động cho thấy một số thành viên
HĐQT không đủ năng lực dù thiếu am hiểu chuyên môn quản lý, cha gắn bó
với hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty. Và chức danh Chủ tịch
HĐQT cũng gây nhiều tranh cãi trong giới doanh nghiệp. Nhiều ngời cho
rằng, Chủ tịch HĐQT là một chức danh hữu danh vô thực, là nơi để giải
quyết chính sách cho các cán Bộ đã quá tuổi nhng cha về hu Phát biểu tại
hội nghị tổng kết mô hình Tổng công ty, hầu hết ý kiến của các đại biểu đều
cho rằng, thời gian qua HĐQT đã không khẳng định đợc vị trí của mình trong
Tổng công ty. Điều đó một phần do cơ chế, chính sách cha rõ ràng, nhng phần
chủ yếu vẫn là cán Bộ thành viên của HĐQT không đủ năng lực để đảm nhận
nhiệm vụ mới mẻ này, đặc biệt là chức danh HĐQT.
3.1.2. Mối quan hệ giữa HĐQT và ban Tổng giám đốc.
Cho đến nay vẫn còn nhiều vớng mắc trong các quyết định về quyền đại
diện chủ sở hữu tài sản Nhà nớc trong DNNN, vai trò và trách nhiệm của Chủ
tịch HĐQT cha đợc xác định rõ nên đôi khi vẫn cha có sự phối hợp nhịp
nhàng giữa HĐQT và ban TGĐ. Cùng một số vốn đợc giao nhng cả Chủ tịch
HĐQT và TGĐ đều phải ký nhận. Nh vậy, trách nhiệm thì tập thể nhng ngời
điều hành chỉ là Tổng giám đốc. HĐQT tuy có trách nhiệm giám sát nhng vốn
của các DNNN lại không thuộc quyền sở hữu của mình. Do đó, trách nhiệm
và quyền hạn của HĐQT cũng bị giới hạn. Hiện nay, giám đốc của các doanh
nghiệp thành viên chủ lực hầu hết cha tham gia HĐQT của Tổng công ty vì
7
muốn tách chức năng quản lý và chức năng điều hành, nhng thực tế hai chức
năng này gắn bó tới hiệu quả kinh doanh của Tổng công ty. Có nơi HĐQT
trong khi cha thực hiện tốt chức năng. Chủ yếu nh xây dựng chiến lợc, quyết
định dự án đầu t, lựa chọn cán bộ nhng lại sa vào lĩnh vực điều hành của Tổng
giám đốc. Có nơi Tổng giám đốc quyết định các vấn đề thuộc quyền hạn của
Điều này cho thấy, sự điều hành của Tổng công ty với các công ty thành
viên cha đem lại hiệu quả cao, cha hội tụ đợc các anh tài từ các công ty về với
Tổng công ty. Hiện tại có không ít ý kiến đề nghị trực tiếp hoặc gián tiếp xem
xét lại mô hình tổ chức Tổng công ty và điều lệ hoạt động của nó.
Ngoài ra, chính t tởng độc lập theo nghị định 388/HĐBT đã làm một số
đơn vị thành viên của các Tổng công ty không liên kết đợc với nhau, hoạt
động rời rạc, cha phát huy đợc sức mạnh tổng hợp của toàn Tổng công ty.
Thậm chí các doanh nghiệp thành viên còn cạnh tranh lẫn nhau, gây thiệt hại
đến lợi ích của Nhà nớc.
* Khác với các tập đoàn kinh tế của nớc ngoài, mối quan hệ giữa công
ty mẹ và công ty con là mối quan hệ mang tính hữu cơ chặt chẽ, công ty
mẹ chi phối hoạt động của công ty con bằng các quan hệ tài chính, thị trờng,
ở các Tổng công ty của Việt Nam, mối quan hệ này chỉ mang tính hành
chính, cơ học. Tổng công ty điều hành hoạt động của các doanh nghiệp
thành viên bằng các quyết định, bằng các ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ
của doanh nghiệp với Tổng công ty. Điều này phản ánh một thực trạng là, nếu
Tổng công ty thực hiện vai trò của mình thì vô hình chung nó đã biến mình
thành cấp chủ quản cản trở hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thành
viên.
Sở dĩ có mâu thuẫn trên là vì các Tổng công ty Nhà nớc đợc thành lập
chủ yếu bằng con đờng hành chính tổ chức chứ không áp dụng những yếu tố
của kinh tế thị trờng. Theo cách thức này, các DNNN trong cùng một ngành
đợc gom góp lại và đợc tham gia vào một tổ chức gọi là Tổng công ty Nhà n-
ớc. Có những DNNN tham gia vào Tổng công ty không phải là tự nguyện mà
bị gò ép, họ thậm chí không có quyền quyết định vận mệnh của chính mình.
Tất cả những điều này đã không tạo ra đợc sự gắn kết cần thiết giữa các đơn vị
thành viên với Tổng công ty và do đó không phát huy đợc sức mạnh tổng hợp
của Tổng công ty.
9
3.3. Thiếu sự phân công, phân cấp cụ thể, rõ ràng về quản lý Nhà nớc và
ớng Ngô Xuân Lộc nêu rõ chuẩn bị tốt về mặt nhân lực. Nâng cao chất lợng
hoạt động của HĐQT để đủ sức gánh vác nhiệm vụ. Chủ tịch HĐQT và các
thành viên của HĐQT phải là những ngời thuộc lĩnh vực hoạt động của Tổng
công ty, có kiến thức chuyên môn sâu rộng, am hiểu nội tình của doanh
nghiệp mà mình đang quản lý. Tham gia vào HĐQT có một số các giám đốc
của các công ty đầu đàn của Tổng công ty. Tổng giám đốc Tổng công ty Dệt -
May Việt Nam Bùi Xuân Khu nói: Mô hình HĐQT cần hết sức gọn nhẹ.
Thành viên HĐQT phải là những ngời giỏi chuyên môn, am hiểu ngành nghề
thì mới có thể xây dựng các chiến lợc, chính sách đúng đắn. Bên cạnh đó có
thể lập hội đồng cố vấn để giúp đỡ cho HĐQT.
Theo ý kiến của Thủ tớng chính phủ và của ban đổi mới quản lý doanh
nghiệp trung ơng thì trong thời gian tới nên thí điểm mô hình chủ tịch HĐQT
kiêm Tổng giám đốc Tổng công ty. Một số Tổng công ty đồng tình với giải
pháp này. Việc chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Tổng công ty là hoàn
toàn đúng ông chủ tịch HĐQT Tổng công ty xây dựng số 1 nói. Nhng cũng
có ý kiến cho rằng, chủ tịch HĐQT không nên kiêm nhiệm Tổng giám đốc.
Tổng giám đốc Tổng công ty điện lực Việt Nam Hoàng Trung Hải đề nghị:
HĐQT nên chỉ có một số ít thành viên chuyên trách nh: chủ tịch và trởng ban
kiểm soát, còn các thành viên khác nên kiêm nhiệm. Chủ nhiệm HĐQT phải
là ngời quản lý có nhiều kinh nghiệm, năng động, có khả năng quản lý, đã
kinh qua công tác lãnh đạo doanh nghiệp ít nhất 3 năm. Tổng giám đốc không
nhất thiết là thành viên HĐQT và do HĐQT chọn và đề cử để chính phủ phê
chuẩn. Đối với DNNN, chủ tịch HĐQT không nên kiêm nhiệm Tổng giám
đốc để thực hiện đợc các chức năng khác nhau mà không bị chồng chéo và
công tác giám sát đợc tốt hơn. Tổng giám đốc Tổng công ty hàng không
cũng nói: Đối với Tổng công ty hàng không Việt Nam đề nghị không áp
dụng mô hình chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm Tổng giám đốc để tránh sự lẫn lộn
giữa đại diện sở hữu Nhà nớc và ngời điều hành trong Tổng công ty.
11
* Xét cả về phơng diện pháp lý và trên thực tế, thì vị trí, chức năng,
đồng Bộ giữa các doanh nghiệp chứ không điều hành và thu phụ phí nh các
Tổng công ty Nhà nớc hiện nay. Về mặt kinh doanh, công ty mẹ, công ty con
là bình đẳng, quan hệ với nhau trên cơ sở hợp đồng kinh tế, hai bên đều có lợi
không ép buộc nhau. Việc quản lý và chỉ đạo công ty con hoạt động cho đúng
phơng hớng đã định là do hội đồng quản trị của công ty mẹ chỉ đạo.
Ngoài ra có thể tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp thành viên của
Tổng công ty với điều kiện Nhà nớc nắm cổ phần chi phối và Tổng công ty đ-
ợc uỷ quyền đại diện nắm giữ. Nh vậy, các doanh nghiệp đã cổ phần hoá vẫn
nằm trong thành phần Tổng công ty trên cơ sở ràng buộc bằng mối quan hệ
tài chính, quan hệ khai thác thị trờng. Tổng công ty đợc tập trung nguồn vốn
khấu hao cơ bản, lãi sau thuế, vốn thu đợc qua quá trình cổ phần hoá doanh
nghiệp thành viên và thực hiện việc điều hoà vốn trong quá trình sản xuất kinh
doanh của toàn Tổng công ty.
3. Hoàn chỉnh đồng bộ cơ sở pháp lý quy định về quản lý Nhà nớc,
thực hiện quyền chủ sở hữu Nhà nớc đối với DNNN nói chung và các
Tổng công ty 90, 91 nói riêng.
Phơng hớng và nội dung quan trọng về sự quản lý Nhà nớc, thực hiện
quyền chủ sở hữu Nhà nớc đối với DNNN là:
- Thực hiện sự phân công, phân cấp quản lý Nhà nớc đối với DNNN về
nội dung, phạm vi, mức độ với cấp chính phủ, cấp Bộ, cấp UBND tỉnh, huyện.
- Phân công, phân cấp và uỷ quyền thực hiện quyền chủ sở hữu Nhà nớc
đối với DNNN cần quy định: trách nhiệm, quyền hạn cụ thể của Bộ tài chính
trong việc quản lý vốn và tài sản của Nhà nớc tại DNNN. Phạm vi, mức độ
trách nhiệm, quyền hạn của Bộ quản lý ngành hay UBND cấp tỉnh, huyện.
Mối quan hệ giữa Bộ Tài chính và Bộ quản lý ngành (hay UBND các cấp)
trong việc phối hợp thực hiện các chức năng trên. HĐQT đợc uỷ quyền thực
hiện quyền chủ sở hữu Nhà nớc đối với DNNN thế nào?
13
ở đây cũng cần quy định rõ các Tổng công ty 91 và 90 đều không có khái
niệm trực thuộc Thủ tớng chính phủ và về nguyên tắc Tổng công ty nào cũng
không thể đợi đến khi Tổng công ty tích tụ đủ vốn mới đầu t, do đó Tổng công
ty phải tìm cách huy động vốn từ các nguồn khác. Cổ phần hoá các DNNN là
một biện pháp huy động vốn quan trọng đang đợc Nhà nớc ta đẩy mạnh tiến
hành. Thực hiện cổ phần hoá, các doanh nghiệp có thể thu hút đợc vốn từ bên
trong (cán Bộ công nhân viên trong doanh nghiệp) và bên ngoài doanh nghiệp.
Đây là những nguồn lực rất lớn cần đợc triệt để khai thác, sử dụng. Ngoài ra
còn có các kênh huy động vốn khác: vay ngân hàng, phát hành trái phiếu, liên
doanh, liên kết
IV. Phơng hớng, biện pháp xây dựng các Tổng công ty thành các tập đoàn kinh
tế lớn mạnh.
Xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi của việc phát triển bền vững nền kinh tế
Việt Nam đối với các Tổng công ty trong thời kỳ mới, các Tổng công ty cần tổ
chức thực hiện đầy đủ Nghị quyết hội nghị trung ơng lần thứ 4 (khoá VIII) và
nghị quyết của quốc hội khoá X kỳ họp thứ 2 về đổi mới DNNN.
Tổng kết mô hình Tổng công ty Nhà nớc, trên cơ sở đó có phơng án
xây dựng các Tổng công ty thực sự trở thành những tập đoàn kinh tế mạnh, có
hiệu quả và sức cạnh tranh cao, thực sự là xơng sống của nền kinh tế.
Tập đoàn kinh tế mạnh của Việt Nam, theo các chuyên gia kinh tế, phải
do chính phủ quản lý và đạt đợc các tiêu chuẩn sau đây:
- Có quy mô sản xuất kinh doanh lớn, sản xuất kinh doanh một ngành
hàng, một nhóm ngành hàng hoặc nhiều ngành hàng có quan hệ chặt chẽ với
nhau, có vị trí quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân nớc
ta. Đó là những ngành then chốt, mũi nhọn, trọng điểm, là xơng sống của nền
kinh tế quốc dân trong từng thời kỳ phát triển của đất nớc.
- Có công nghệ, phơng tiện và phơng pháp kinh doanh, quản lý hiện đại
để đạt năng suất lao động cao, chất lợng hàng hoá tốt, giá thành sản phẩm
hàng hoá, dịch vụ rẻ, đứng vững và cạnh tranh thắng lợi trên thị trờng trong n-
15
ớc, khu vực và quốc tế. Đạt đợc chữ tín với khách hàng, có thị trờng tiêu thụ
ổn định và rộng lớn trong nớc, trong khu vực và quốc tế. Có đội ngũ lao động,
căn cứ vào nhu cầu của thị trờng về hàng hoá và dịch vụ; căn cứ vào khả năng
hiện tại và tơng lai của Tổng công ty. Dựa vào các căn cứ đó, Tổng công ty
quyết định đúng đắn ba vấn đề cơ bản là: sản xuất kinh doanh mặt hàng, chất
lợng và quy mô theo yêu cầu của thị trờng; Hai là lựa chọn các đầu vào:
nguyên vật liệu, công nghệ, phơng pháp, phơng tiện, nguồn nhân lực, nguồn
vốn phù hợp với quyết định sản xuất kinh doanh; Ba là sản xuất kinh doanh
dịch vụ cho ai, tiêu thụ hàng hoá dịch vụ ở thị trờng nào, thu nhập và lợi
nhuận phải đợc phân phối hợp lý giữa Nhà nớc, Tổng công ty và các đơn vị
thành viên, ngời lao động trong đó phải u tiên đúng mức cho lao động quản lý,
điều hành, đầu ngành, lao động lành nghề. Chiến lợc kinh doanh và phát triển
Tổng công ty phải đồng Bộ theo lĩnh vực chủ yếu: sản xuất - kỹ thuật - tài
chính - kinh doanh. Trong đó đặc biệt quan tâm đến chiến lợc sản phẩm, chiến
lợc đổi mới công nghệ, đầu t, xuất nhập khẩu. Căn cứ vào chiến lợc kinh
doanh và phát triển của Tổng công ty, các công ty thành viên xây dựng đúng
đắn chiến lợc kinh doanh và phát triển của mình. Chỉ khi có chiến lợc kinh
doanh và phát triển đúng đắn, Tổng công ty và công ty thành viên mới có căn
cứ để chủ động tiến hành, chuẩn bị tốt nhất, thuận lợi nhất những điều kiện
trong sản xuất kinh doanh và phát triển có hiệu quả.
2. Tổ chức lại cơ cấu sản xuất kinh doanh và cơ cấu quản lý phù hợp
với chiến lợc kinh doanh và phát triển Tổng công ty đã xác định:
Trên cơ sở tổng kết mô hình Tổng công ty đã đợc thành lập trong những
năm qua, Nhà nớc cần tiến hành tổ chức lại mô hình của Tổng công ty,
chuyên ngành, nhóm ngành, đa ngành và theo chức năng: kinh doanh, công
ích vừa công ích vừa kinh doanh. Nhà nớc cần rà soát để xác định rõ hơn, cụ
thể hơn vai trò, vị trí, nhiệm vụ chủ yếu của từng loại mô hình Tổng công ty.
17
Căn cứ vào chiến lợc kinh doanh và phát triển của từng công ty, cần tiến hành
tổ chức lại cơ cấu sản xuất kinh doanh và cơ cấu quản lý một cách hợp lý theo
hớng.
a. Tổ chức lại một cách hợp lý, đồng Bộ hơn quá trình sản xuất - kinh
tiền tệ - đâu t - tiêu thụ v.v cơ cấu và quy mô của cơ quan điều hành phải
phù hợp với đặc điểm, yêu cầu phát triển của Tổng công ty.
3. Xác định đúng đắn định hớng đầu t phát triển và đổi mới công
nghệ chủ lực của Tổng công ty.
Căn cứ vào định hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá chiến lợc kinh
doanh và phát triển Tổng công ty, từng công ty thành viên, cần xây dựng chiến
lợc, kế hoạch dài hạn đúng đắn về đầu t phát triển và đổi mới công nghệ.
Các Tổng công ty phải quản lý những hoạt động chủ yếu về sản xuất
kinh doanh của Tổng công ty và quản lý các công ty thành viên: vì vậy các
Tổng công ty phải xác định đúng phơng hớng phát triển và phơng hớng đầu t
đổi mới công nghệ cho phù hợp.
Nhu cầu phát triển của toàn Bộ Tổng công ty đòi hỏi trớc hết phải đầu t
cho sản xuất - kinh doanh và quản lý, đặc biệt là công nghệ, phơng tiện, phơng
pháp sản xuất - kinh doanh và quản lý, đầu t cho đào tạo và bồi dỡng cho công
nhân lành nghề, cán Bộ công nghệ đầu ngành, cán Bộ quản lý chủ chốt các
cấp trong Tổng công ty, đầu t cho quá trình phát triển thị trờng tiêu thụ và
xuất nhập khẩu. Trong phơng hớng đầu t đợc xác định cần luôn luôn đảm bảo
tính đồng Bộ giữa các mặt quan trọng sau đây:
- Gắn chặt việc sản xuất hàng hoá, dịch vụ của Tổng công ty với phát
triển thị trờng tiêu thụ trong nớc và nớc ngoài. Một số hàng hoá và dịch vụ
cung lớn hơn cầu, không tiêu thụ đợc, gây ứ đọng vốn nh hiện nay là một
minh chứng của mâu thuẫn giữa thị trờng và sản xuất cha đợc một số Tổng
công ty giải quyết tốt.
- Gắn chặt việc phát triển quy mô sản xuất kinh doanh và nâng cao chất
lợng hàng hoá của Tổng công ty với sự phát triển các nguồn vốn sản xuất kinh
doanh hiện có. Thực trạng về nguồn vốn hiện nay của Tổng công ty cho thấy
19
nhu cầu vốn cho đầu t phát triển rất lớn, nhng mức độ đáp ứng còn thấp, thiếu
vốn là tình trạng phổ biến và nghiêm trọng. Đây là mâu thuẫn mà Tổng công
ty và Nhà nớc cha giải quyết đợc .
của các công ty thành viên và Tổng công ty. Cần khuyến khích cả về tinh
thần và vật chất đúng mức căn cứ vào kết quả mà ngời lao động và các tổ chức
trong Tổng công ty đã thực hiện và đóng góp, đặc biệt là khuyến khích vật
chất.
5. Quản lý chặt chẽ thống nhất có hiệu quả hoạt động tài chính của
Tổng công ty.
Muốn vậy cần giải quyết các vấn đề sau:
a. Chủ động có biện pháp huy động nhiều nguồn vốn cho phát triển: vốn
Nhà nớc, vốn nớc ngoài, vốn vay trong nớc và nớc ngoài, vốn vay cán Bộ và
nhân dân. Điều hoà và phân phối nguồn và tài sản cho các công ty thành viên
thực hiện kế hoạch phát triển kinh doanh, bảo đảm phát triển đồng Bộ trong
Tổng công ty, hỗ trợ giúp đỡ các công ty thành viên có khó khăn.
b. Thực hiện các biện pháp sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả các
nguồn vốn để bảo toàn và phát triển vốn. Tăng nhanh vòng quay vốn, tăng lợi
nhuận trên một đồng vốn là cơ sở vững chắc để nâng cao hiệu quả sử dụng
các nguồn vốn, bảo toàn và phát triển vốn. Muốn vậy, phải quản lý các định
mức, tiêu chuẩn về sử dụng vốn và tài sản; tiết kiệm và chống lãng phí, tham ô
tài sản, tiền vốn trong từng khâu, từng lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh
và quản lý.
c. Từng bớc thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh thống nhất của toàn
Bộ Tổng công ty. Tập đoàn kinh tế đợc xác định là một tổ chức kinh doanh
thì nó phải là một tổ chức hạch toán kinh tế độc lập còn các công ty thành viên
hạch toán phụ thuộc. Nhng trong quá trình kinh doanh, các Tổng công ty cần
có cơ chế uỷ quyền cho các công ty thành viên đợc thực hiện một số quyền
21
hạn nhất định, về tài chính. Có nh vậy mới vừa bảo đảm tính tập trung thống
nhất, vừa phát huy tính chủ động trong kinh doanh của các công ty thành viên.
6. Phối hợp đồng bộ và nâng cao hiệu lực hoạt động của hội đồng
quản trị, cơ quan Tổng giám đốc và ban kiểm soát.
Hội đồng quản trị của Tổng công ty, đứng đầu là chủ tịch Hội đồng quản
nguồn nhân lực trong công ty cổ phần và liên doanh cha chặt chẽ, thậm chí
còn buông lỏng. Nhà nớc cha quy định cho cơ quan nào quản lý đầy đủ nguồn
vốn này. Vì vậy, cần thực hiện các biện pháp sau:
a. Nâng cao trách nhiệm trong việc phát triển nguồn lực của nguồn nhân
lực đặc biệt là đội ngũ cán Bộ chủ chốt đại diện cho Nhà nớc hoạt động trong
công ty cổ phần và liên doanh để có các hình thức khen thởng về tinh thần và
vật chất. Cần quy định rõ trách nhiệm vật chất và tinh thần của họ đối với
nhiệm vụ bảo toàn và phát triển vốn, phát triển nguồn lực của Nhà nớc.
b. Giao cho các Tổng công ty và cơ quan quản lý vốn tài sản của Nhà nớc
quản lý chặt chẽ nguồn vốn và tài sản, nguồn nhân lực đặc biệt là ngời đại
diện của Nhà nớc trong công ty cổ phần và liên doanh với các thành phần kinh
tế khác. Nhà nớc cần có cơ chế kiểm tra, kiểm soát về kinh tê - tài chính của
các công ty cổ phần và liên doanh với các thành phần kinh tế khác, hạn chế,
khắc phục tình trạng trong liên doanh với nớc ngoài có công ty mẹ đã chuyển
dịch giá, nâng giá đầu vào để làm cho liên doanh bị lỗ giả để nhà đầu t lãi
thật, phía Việt Nam lỗ thật.
c. Xây dựng đúng đắn quy hoạch ngành, kết hợp với lãnh thổ để tạo điều
kiện thuận lợi cho các nhà đầu t nớc ngoài, trong nớc liên doanh với các Tổng
công ty Nhà nớc, khuyến khích các nhà đầu t nớc ngoài, trong nớc liên doanh
với các Tổng công ty Nhà nớc, yêu cầu các nhà đầu t nớc ngoài thực hiện
nghiêm túc các cam kết về xuất khẩu hàng hoá. Cần thực hiện các biện pháp
cần thiết khi bên nớc ngoài không thực hiện cam kết trong giấy phép. Có nh
vậy mới đảm bảo thực hiện trật tự kinh tế trong liên doanh và hạn chế những
tiêu cực có thể xảy ra gây tổn thất cho Nhà nớc.
8. Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các Bộ, Tỉnh,
Thành phố trong việc quản lý Nhà nớc đối với các Tổng công ty.
23
Sự phối hợp chặt chẽ và đồng Bộ giữa các Bộ, tỉnh, thành phố trong việc
quản lý Nhà nớc đối với các Tổng công ty là đòi hỏi rất cấp bách và quan
trọng, nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi, thông thoáng cho các Tổng công