HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 67

HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1. Khái niệm và vai trò của cho vay.
1.1. Khái niệm cho vay.
Thuật ngữ “tín dụng” (credit) xuất phát từ chữ Latinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm)
trong quan hệ TC. Tín dụng có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau:
- xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ
thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp dịch chuyển quỹ từ người cho
vay sang người đi vay.
- trong một quan hệ TC cụ thể, tín dụng là một giao dịch về TS trên cơ sở có hoàn
trả giữa hai chủ thể. Ví dụ như một công ty thương mại bán hàng trả chậm cho một công ty
khác, trong trường hợp này người bán chuyển giao hàng hoá cho bên mua và sau một thời
gian nhất định theo thoả thuận bên mua phải trả tiền cho bên bán. Phổ biến hơn cả là giao
dịch giữa NH, các định chế TC với các DN và cá nhân thể hiện dưới hình thức cho vay.
Tức là NH cấp tiền vay cho bên đi vay và sau một thời gian nhất định người đi vay phải
thanh toán vốn gốc và lãi.
- tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế TC cung cấp cho
KH.
- trong một số ngữ cảnh, thuật ngữ tín dụng đồng nghĩa với thuật ngữ cho vay. Ví
dụ, tín dụng ngắn hạn đồng nghĩa với cho vay ngắn hạn hoặc tín dụng tuần hoàn là một
loại cho vay cụ thể.
- trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của NH thì tín dụng được hiểu như
sau: tín dụng là một giao dịch về TS (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (NH và các
định chế TC khác) và bên đi vay (cá nhân, DN và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay
chuyển giao TS cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên
đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn
thanh toán.
Tín dụng là loại TS chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các NHTM, phản ánh hoạt
động đặc trưng của NH. Tín dụng được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau. Và theo
hình thức tài trợ, tín dụng được chia thành cho vay, cho thuê TC, chiết khấu, bảo lãnh và
một số hoạt động khác theo quy định của NHNN. Cho vay là việc NH đưa tiền cho KH với
cam kết KH phải hoàn trả cả tiền gốc và lãi trong thời gian xác định. KH phải cam kết sử

2) Sàng lọc và giám sát.
Một trong những nguyên nhân có thể dẫn đến sự vỡ nợ cho các NHTM đó là lựa
chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Lựa chọn đối nghịch xảy ra trước khi giao dịch được
thực hiện, khi những người đi vay có khả năng để lại hậu quả không mong muốn nhất (tức
là không trả được nợ) lại là những người tích cực tìm vay nhất và do vậy có nhiều khả
năng được lựa chọn để cho vay nhất. Rủi ro đạo đức xảy ra trong khi thực hiện giao dịch,
khi người đi vay thực hiện những hoạt động không đúng với ý đồ của NH và ít có khả năng
hoàn trả khoản vay. Lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức là do tình trạng thông tin bất
đối xứng gây ra.
Sàng lọc: Nhằm thực hiện việc sàng lọc một cách có hiệu quả, các NHTM phải tập
hợp thông tin tin cậy về những KH triển vọng, tiến hành phân tích, thẩm định một cách có
hiệu quả. KH là một yếu tố biến thiên trong mọi đề nghị cho vay. Với một KH cá nhân, NH
đặc biệt xem xét các khoản cho vay trong quá khứ có hoàn trả đúng thoả thuận hay không.
Với KH DN, bên cạnh việc quan tâm tới lịch sử các tài khoản, NH cần đảm bảo KH là
những người có kinh nghiệm trong công việc, có trình độ quản lý cần thiết để điều hành
DN và tái đầu tư lợi nhuận vào DN. Tuy rằng mọi đề nghị vay vốn đều phải “tự mình đứng
vững” - tức là phải đủ tốt để không cần một sự đảm bảo nào nhưng NH vẫn thường yêu
cầu KH phải thực hịên các biện pháp bảo đảm tiền vay.
Giám sát: Khi nhận được tiền vay của NH, người vay có thể sử dụng khoản tiền
cho vay vào những hoạt động KD mạo hiểm dẫn đến mất khả năng thanh toán. Chính vì
thế NH thường đưa ra các hợp đồng tín dụng trong đó quy định rõ những điều khoản nhằm
hạn chế người vay sử dụng tiền vay vào những hoạt động rủi ro. Trường hợp người vay
không tuân thủ những điều khoản ghi trong hợp đồng thì NH có thể thực hiện cưỡng chế
theo những điều khoản đã ghi trong hợp đồng.
3) Quan hệ khách hàng.
Một trong những nguyên lý quan trọng của việc quản lý NH đó là quan hệ lâu dài
với KH từ đó nắm bắt thông tin về KH một cách chính xác hơn. Nếu một KH có nhu cầu
vay tiền đã có một tài khoản hoặc các khoản cho vay khác với NH trong một thời gian dài,
thì NH sẽ dễ dàng biết nhiều thông tin về họ. Những số dư trong tài khoản séc hay tiết
kiệm sẽ cho NH biết về tiềm năng TC của KH hay việc hoàn trả các khoản vay cũ cho NH

KH sẽ nhận thấy khả năng quản lý yếu kém của NH, hình ảnh của NH đó sẽ bị mờ đi, hoạt
động huy động vốn vì thế mà sẽ không thu hút được KH và ảnh hưởng đến hoạt động cho
vay của NH. Thông thường, NH phải đứng trước lựa chọn là một DA có tính khả thi nhiều
khi không có đủ TSĐB nhưng một DA có đủ TSĐB nhiều khi lại không khả thi. Như vậy,
lựa chọn bất kỳ một DA nào cũng có nguy cơ xảy ra rủi ro cho NH. Do đó NH phải xác
định được mức độ rủi ro mà mình có thể chấp nhận để lựa chọn DA thích hợp.
Trong một số trường hợp NH không đòi hỏi đảm bảo dưới hình thái hàng hoá hay
bảo lãnh. Các loại đảm bảo này đều gắn liền với thủ tục phức tạp, không có lợi cho NH lẫn
KH. Hơn nữa, NH dự tính, nếu rủi ro xảy ra cho KH thì tổn thất cũng chỉ chiếm một phần
giá trị của món vay. Trong trường hợp này NH có thể yêu cầu đảm bảo bằng tiền gửi ký
quỹ (số dư bù). Đảm bảo bằng ký quỹ thủ tục đơn giản, tuy nhiên lại làm đọng vốn của KH
và trong trường hợp món vay lớn, ngân quỹ của KH nhỏ hoặc cần thiết để lưu chuyển, tỷ lệ
ký quỹ cao hơn thì hình thức này lại không phù hợp.
5) Hạn chế tín dụng.
Một phương pháp giúp cho các NHTM đối phó với lựa chọn đối nghịch và rủi ro
đạo đức là hạn chế tín dụng. Hạn chế tín dụng có 2 dạng: thứ nhất diễn ra khi NH từ chối
bất kỳ một yêu cầu vay vốn nào của KH, thứ hai diễn ra khi NH sẵn lòng cho vay nhưng
hạn chế dưới mức mà KH mong muốn.
6) Vốn ngân hàng và tính tương hợp.
Trong các nguyên tắc đã đề cập ở trên, tất cả chỉ nhằm hạn chế rủi ro cho bản thân
các NHTM. Song trên thực tế thì ngay cả NH cũng có thể gây ra rủi ro cho người gửi tiền.
Do vậy, làm thế nào để những người gửi tiền có thể tin rằng NH – nơi họ gửi tiền sẽ trả
tiền lãi, vốn hoặc các dịch vụ mà NH đã hứa. Để giải quyết vấn đề này có 3 cách:
Thứ nhất: Vốn tự có của NHTM. NH sẽ mất mát nhiều hơn khi xảy ra phá sản nếu
lượng vốn tự có lớn và do vậy NH sẽ phải cố gắng thực hiện những hoạt động thích hợp để
có lợi nhuận và thanh toán đủ cho người gửi tiền. NH thực hiện cung cấp những thông tin
như những người gửi tiền mong đợi và những người có tiền sẵn lòng gửi tiền vào NH như
NH mong muốn.
Thứ hai: Đa dạng hoá. Bất kỳ hoạt động KD nào cũng chứa đựng rủi ro nhất là
trong lĩnh vực KD tiền tệ như các NHTM. Chính vì thế mà NH muốn thu hút được KH gửi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status