GIÁO TRÌNH NGHỀ MÂY TRE ĐAN
HỆ ĐÀO TẠO: SƠ CẤP NGHỀ
THỜI GIAN ĐÀO TẠO 03 THÁNG
I. Mục đích yêu cầu :
Trang bị cho học sinh những kiến thức, kĩ năng, kĩ thuật cơ bản nhất, và một số
phương pháp đan của người thợ đan mây tre
Giúp học viên rèn luyện đạo đức, tác phong công nghiệp, có khả năng tham gia
sản xuất một số mặt hàng mây tre đan, phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu .
2. Đối tượng .
3. Thời gian đào tạo: 03 tháng
Tổng số 330 tiết gồm
99 tiết lý thuyết .
231 tiết thực hành
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TOÀN KHÓA
Số tt Nội dung đào tạo Số tiết
1 Chương I: Giới thiệu cách sử dụng các loại dụng cụ 10
2 Chương II. Cách pha chế từng loại nguyên liệu 35
3 Chương III. Kĩ thuật tạo mầu và đan cơ bản 60
4 Chương IV. Kĩ thuật đan các loại hoa 90
5 Chương V. Cách dựng hình các loại mẫu 45
6 ChươngVI. Chi tiết lắp ghép sản phẩm 80
7 Kiểm tra cuối khóa 10
8 Tổng cộng 330
Đan là một nghề sử dụng nguyên liệu bằng các loại cây thực vật. Những loại tre,
nứa, cây cỏ, lá cây nào có tính chất dẻo, dai, đều có thể sử dụng vào việc đan,
được người thợ kheo
sắp xếp, đan cài, uốn lượn, phối hợp với những nguyên liệu cứng chắc, tạo lên những
sản phẩm có đường nét đẹp, được nhiều người ưa thích .
Chương trình này hướng dẫn từ những chi tiết cơ bản đến những chi tiết kết cấu có
tính logic để tạo thành một sản phẩm .
Các phần trong chương trình nhằm làm cho mọi người thợ đều biết xử lý
Đầu mài nhọn hết cỡ thì thôi , loại này thường xuyên dùng để khoan các lỗ nhỏ, dấu
đầu nguyên liệu .
Phần chuôi bằng gỗ, phần mũi bằng thép, không rỉ có độ cứng cao.
III.Các loại kim
1. Loại kim dan thường có cỡ 30cm x 0,2cm
Loại này một bộ có 2 chiếc, một chiếc có nghạch và mooyj chiếc không.
Chú ý: Chiếc không có ngạnh bé /hơn chiếc kia một chiều 0,1cm
a. Chiếc không có ngạch, mũi không không nhọn :
Có kích thước 30 cm x 0,3 cm x 0,2 cm.
b. Chiếc có ngạch, mũi nhọn:
Có kích thước: 30cm x 0,3 cm x 0,2 cm
Cả 2 loại đều làm bằng thép không rỉ hoặc in ốc trắng .
2. Loại kim nhỏ :
Loại này thường có kích cỡ 4,5 cm x 0,2 cm x 0,15 cm
Có lỗ trống từ phía đầu to sâu vào 2cm, phía đầu nhỏ mài nhọn
Loại kim này thường để cắm đầu nguyên liệu vào khoảng trống của kim, đưa qua
mảng đan kín trong sản phẩm .
IV.Kéo :
Kéo là một loại dụng cụ có hình kết cấu chung, sử dụng đa dạng ở gia đình, kéo
thường dùng vào dùng dụng cụ đan thường tốt nhất là cỡ 30cm x 2 cm x 0,2cm.
Nó có tác dụng cắt các đầu nban và cắt chia các mảng đan lớn thành hình sản
phẩm ta muốn.
V. Bàn kéo sợi mỏng
Bàn kéo sợi mỏng là loại dụng cụ để xử .lý các loại nguyên liệu thành sợi mỏng có
các kích cỡ khác nhau khi lắp ghép thành sản phẩm .
Bàn kéo sợi mỏng làm bằng gỗ dẻo thường ở cỡ (45em x 30 em x 15 em) cán d i,à
theo hình như mẫu .
2
a, Cách lắp bàn kéo
Ta đóng dùi vuông góc 90 độ tư ngoài mép bàn kéo vào 3mm, rồi lấy dao ngắm
CHƯƠNG II
CÁCH PHA CHẾ TỪNG LOẠI NGUYÊN LIỆU
A. HỌ MÂY.
I. Cây mây.
Loại cây leo, thân và lá có gai, cây mây có tay nhỏ vươn dài bám vào những cây
cao hơn để leo. Mỗi năm cây mây lớn từ 2m đến 3m, lâu năm có cây dài 20m đến
30m to nhất 0.7cm.
Đặc điểm cây mây: Cây mây ưa đất ẩm và phát triển từng đốt, da nhẵn bóng vì có
lớp bẹ bọc bảo vệ. ruột mây chứa nhiều nước hơn vỏ ngoài, khi mây khô tự nhiên có
màu trắng ngà dẻo và dai. Nếu mây không bị ẩm ướt có thể bền từ 100 năm trở lên.
1. Dụng cụ chế biến cây mây.
- Dao loại 40 cm x 5cm
- Dao loại 25cm x 3cm
- Bàn kéo
3
- Bàn tuốt
2. Thao tác chế biến
a. Lấy mẫu mây
Cây mây dù dài hay ngắn ta chỉ cắt một đoạn dài 3m, nắn cho đoạn mây thẳng rồi
mới lấy mẫu.
- Tư thế tốt nhất để đảm bảo năng suất và kỹ thuật tốt: ngồi ghế cao 20cm, hai
chân duỗi thẳng ngồi bình thường, ta đặt đoạn mây nằm theo chiều ngón cái của bàn
tay trái, ngón cái và ngón trỏ giữ thăng bằng cho đoạn mây và vê lăn theo ta muốn.
Tay phải cầm dao ta đặt dao trong lòng bàn tay, ngón trỏ dỡ đoạn mây đưa vào cùng
chiều với lưỡi dao, đưa tay mạnh về phía trước là được.
b. Chẻ mây.
Chẻ mây ngồi càng thấp càng tốt, duỗi chân thẳng hay khoanh chân cũng được,
tay trái cầm mây, dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái điều khiển cây mây để lưỡi dao
đi đúng ý định của cỡ nguyên liệu. Tay phải cầm dao kẹp chuôi vào nách làm bệ tì và
đẩy mạnh lưỡi dao tách mây ra làm hai.(chú ý nhận sự phối hợp của tay trái)
hay bị gẫy lúc còn tươi.
4
• Đặc điểm: Các đốt của hèo dài hơn đốt mây 1,5 lần, đều nhau từ gốc đến ngọn.
Nó phát triển nhanh hơn cây mây, mỗi năm nó lớn từ 3-4m, nhưng to nhất là
3,5mm. Khi khô cũng có màu vàng mơ, ánh bóng bền hơn mây, loại này chỉ
dùng vào sản phẩm đặc biệt.
Chế biến hèo cũng như chế biến mây nhưng trước khi chế biến đem phơi 2 tiếng
cho héo khô bớt, sẽ không bị gẫy vụn.
IV. Cây mái: Cây mái cùng họ với cây mây, nhưng thường to gấp 2 lần cây
mây, nó chứa nhiều nước hơn cả mây và song.
• Đặc điểm : Khi khô nó cũng dòn gẫy như tươi, dùng cây mái chỉ lên dùng cả
cây pha chế bị lãng phí nhiều.
B. HỌ TRE
I. Cây tre:
a. Tre là một loại cây mọc thẳng, Có vỏ ngoài bọc lúc còn non. Nó phát triển từng
đốt, có cây to từ 12-16cm cao từ 8-10cm, mỗi đốt cách nhau dài nhất 35-40cm.
* Đặc điểm: Tre có độ cứng cao, khô thì dòn, đặc biệt tre có chứa chất đường nên
dễ bị mọt ăn, nếu ta sử dụng vào việc đan phải xử lý chống mọt .
Cây tre xử dụng được nhiều việc, có thể để nguyên mà chỉ dùng cắt đi để ghép sản
b.Cách pha chế : Ta lấy mẫu cho nhẵn rồi cắt từng đoạn theo ý định, cạo bỏ tinh
ngoài rồi mới pha chế .
-Pha nan mỏng: Khi pha tre làm 4/2 phần của 2 bên mấu chuyển xuống, việc
làm đốt một, còn lại 2 phaanta cứ pha đôi đến khi nào cần nan cỡ bao nhiêu thì
thôi, ta lấy giao dong cho phần bụng bằng nhau , giữa cật và bụng tre ta chia
làm 3 phần, phần cật chiếm 1 phần và phần bụng chiếm 2 phần, ta pha đôi thì
tre không bị lẽo.
- Pha nan nghiêng : Pha nan nghiêng thì đơn giản hơn, ta cũng phải bỏ đốt có
mấu của nhánh tre, còn lại ta dong bỏ phần ruột tre chỉ để lại cỡ dày mà ta định
pha thôi.
- Cách vót nan: Nan tre thường dóc theo thớ, nên khi vót ta dùng dao cỡ
gạch hoặc xi măng, khi đạt ma sát nhau tieensnsex trở thành tròn và nhẵn bóng.
Chú ý: Nếu ta cho nan giang trắng thì giang từ một phần cho đến phần 4 ta cư mấu
đánh tinh song đều đư vào sấy lưu huỳnh lúc còn tươi giang sẽ trắng.
III. Cây nứa
Cây nứa cùng họ với tê, nhưng nó to hơn giang, mình mỏng
Nứa có nhiều loại nhưng tốt nhất dùng vào đan mĩ nghệ là loại to từ 10 đến 12cm, dài
từ 1-1,5cmmootj đốt
Đặc điểm : Cây nứa cứng nhưng dòn, nếu dùng vào nguyên liệu uốn thì dùng vào loại
nứa từ 6-8 tháng là tốt nhất .
Pha chế nứa hoàn toàn giống với giang, nhưng sấy khô là có mầu đẹp nhất.
IV.Cây trúc
Trúc là một loại cây cùng họ với tre, nhưng có rất nhiều loại trúc, nói đến trúc thì loại
nào cũng sử dụng vào nguyên liệu làm mĩ nghệ, đặc biệt là phải dùng cả cây .
Chế biến trúc rất đơn giản, chỉ cần phơi cho trúc khô rồi tùy theo màu ta muốn chế
biến. Chế biến màu ở bài tạo sắc độ cho nguyên liệu .
V.Cây mai
Cây mai cùng họ với cây tre, Song mai to hơn tre 1,5 lần, đốt mai cũng dài hơn đốt
tre, mấu lặn hơn.
* Đặc điểm : Mai cứng và vỏ ngoài nhẵn, khi ta dùng làm nguyên liệu không đánh
bỏ tinh ngoài .
Cách chế biến : Chế biến mai hoàn toàn giống tre, nhưng nếu uốn cho mai có độ
cong thì phải ngâm nước rồi uốn qua lửa.
C. Các loại lá
Các loại lá cấy trong thiên nhiên, loại lá nào là lá không tích nước, có sương hoặc
tơ là chế biến làm hàng mỹ nghệ được. Nhưng ta thường dùng những loại lá dưới
đây:
1. Lá Buông : Lá buông là một loại lá có chiều dài từ 8-10cm, trong lá có hiều
sống cắt chia lá làm nhiều phần khác nhau .
* Đặc điểm: Lá buông rất mỏng, khi khô có mầu trắng, không ưa nhiều nước, khi
đã khô chú ý chống ẩm cho lá thường xuyên.
- Cách sấy: Ta đưa nguyên liệu vào lò sấy, chú ý không bó chặt các nguyên liệu
với nhau, rồi đạy kín nắp lồng sấy không để hơi nước thoát ra ngoài, cứ 0,8 m ta
sấy 0.2 kg lưu huỳnh , thời gian 2 tiếng .
- Lò đốt ở phần 4 ta để lưu huỳnh vào một bát bằng gốm dầy đốt lưu huỳnh để vào
rồi đậy kín là được.
2. Sấy rơm khô.
Sấy rơm khô hoặc cỏ cũng được đều tạo mầu da cam và đảm bảo độ bền. Lò sấy
rơm cũng như lò sấy lưu huỳnh, nhưng khi sấy không xếp như sấy lưu huỳnh mà
treo nguyên liệu hoặc dựng đứng thì nguyên liệu sẽ đều màu.
Lò sấy rơm khác phần lò sấy lưu huỳnh là phần 4 dày trống, đào sâu xuống đất
45cm, rồi làm một lwps bằng xi măng để trống một lỗ bằng 20cm để khỏi lên ống
dẫn vào lồng sấy.
• Cách chế biến rơm hoặc cỏ để làm thuốc sấy.
Rơm hay cỏ lúc còn tươi đem ủ kín 48 tiếng, nếu trời lạnh phải thêm 92 tiếng sau
đó mới đem phơi khô.
Khi sấy ta cắt nhỏ rơm hay cỏ rồi rảy nước cho ẩm tay rồi đốt rơm để xuống hồ đã
đào, cứ 10 kg rơm hay cỏ ta cho 0,3 gam lưu huỳnh cộng vào đốt mỗi lần 4 tiếng.
Khi nào thấy màu ở nguyên liệu thì thôi .
3. Nhuộm bằng các loại hóa chất màu ( tên thông thường gọi là phẩm màu )
Ta cho nước vào màu đun sôi khoảng 100 độ C thì pha thuốc với tỉ lệ sau:
0,05 gam + 0,5 gam muối
7
1 lít nước
Khi pha thuốc song ta để sôi 1 phút cho tan đều mới cho nguyên liệu vào và để sôi
tiếp 1 phút nữa là được.
Chú ý : Khi bỏ nguyên liệu ra ta đưa vào nước sát kĩ khi nào không thấy màu phai ra
thì đem phơi, cho đến khi nguyên liệu khô thì thôi.
Ta đặt công tròn rồi cứ một lan cứng lại một nan mềm.
• Cách pha mầu :
-Màu đỏ thắm: Ta dùng nguyên màu đỏnhư bài hướng dẫn
liệu có màu vàng là được. Nếu chư vàng cứ 3 tiếng kiểm tr một lần
Nguyên liệu đã được ta rũ sạch, rồi đưa vào lò sấy lưu huỳnh Sây một lần .
Với công thức này không bao giờ mốc và đổi .màu nữa .
II. ĐAN CƠ BẢN
8
1. Đan nóng mốt đều Đan nóng mốt ddeeuf tất cả nan đều bằng nhau, các loại
nan đều qua bàn kéo để nan bằng nhau loại to thì dùng dao vót (như nan rổ )
2. Loại nóng mốt đan chéo
Hình thức cũng như trên ta đặt nan chéo nhau cũng tạo ta một nối khác đi, cách
đan cả 2 loại đều như nhau
• Cách đan: Ta xếp công một chiều về phía trước có khoảng cách bằng chiều
rông của nan, rồi ta cất lên một để lại một cho đến hết nan thì thôi, đường thứ 2
trở đi cất nan phía dưới và để lại nan phía trên cứ như thế cho đến hết.
3. Lóng mốt nan khác nhau
Đan lóng mốt nan khác nhau ta thường dùng 2-3 .loại nan khác nhau nhưng vần
trên cơ sở cất 1 để lại một, nan nhỏ thường bằng 1/3 đan cùng chiều và bằng ¼
đan chéo .
4. Đan kết hợp nan to và nan nhỏ
Hai nan to và 2 nan nhỏ đan có khoảng cách trống đều nhau cũng trên cơ sở để
một cất một theo hình bên, cứ một công to ta đặt một công nhỏ
5. Đan kết .hợp 2 .nan to và 4 nan nhỏ
Nó tạo thành hoa .văn khác nhau mà vẫn trên cơ sở nâng lên 1 và để lại một, đan
luồn từ bên dưới lên
6. Vẫn lối đan kết hợp 2 nan to và 4 nan nhỏ. Nhưng đan luồn từ trên xuống
nó cũng tạo hoa văn khác nhau.
7. Đan lóng mốt ghép
Đan lóng mốt ghép là tập 4 nan chẻ nghiêng làm một chặp nan, rồi cứ một cặp cất
lên thì một cặp để lại khoảng trống là tùy ý mình tạo nên . Hình trên là khoảng
trống bằng chặp nan, đưa khoảng trống bé hơn sẽ đẹp hơn .
8. Đan lóng mốt tạo hình quả trám
- Đường 4 ta để lại 1
- Đường 5 ta để lại 3
- Đường 6 ta quay lại đường 1
13.Đan lóng 3.
Đan lóng 3 là sử dụng 3 nan nhỏ làm một chặp rồi tẽ ra một lĩa để luân chuyển
đường chạy của nan. Cách đan này ta cứ nâng lên 3 và để lại 3 đường 1.
Đường 2 ta nâng lên 2để lại phía tay trái của chặp nang lên ở đường một, nâng lên
một phía giáp công, nâng lên ở chặp để lại ở đường một, cứ như thế cho đến khi ta
muốn.
14.Đan lóng ba điểm hoa
Cách đan này cũng lấy tâm làm điểm xuất phát của đường đan như đan quả trám ở
lóng 2 trước, nhưng nó biến đổi cách đan ở tâm khi ta đan hoa, chúng ta chú ý ở
hình vẽ bên .
Đan loại này cũng sử dụng loại đan cỡ 0,2cm x 0,02cm .
Cách đan ta theo dõi himhf trên từ trái sang phải cách đan như sau:
1. Lấy từ tâm ta để lại 1 hai bên cất lên 3
2. Ta để lại 3 và hai bên cất lên 3
3. Ta cất lên 1vaf hai bên để lại 3
4. Ta cất lên 1 và hai bên để lại 3
5. Ta cất lên 3 và hai bên để lại 3
6. Cất lên 5 và 2 bên để lại 3
7+8+9 ta trở về cách đan từ 1 đến 3
10. Ta để lại 3 và 2 bên cất lên 5
11. Ta để lại một cất 3 ở 2 bên và ta để tiếp ở 2 bên là một để thêm hai
hoa nữa.
Và cách thu như thế ta chỉ cần thuộc từ số 1-10 ta có thể đan toàn diện.
15.Đan đường gấm
Đan đường gấm rất phức tạp, vì lối chạy của nó phải nhớ 22 đường khác nhau mới
tạo ra một hội, nếu ta đan mảnh lớn thì các hội ăn liên kết với nhau.
16.Đan lóng bốn