Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong trường đại học khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía bắc - Pdf 10

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

Nguyễn Thị Thu Hằng
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHỐI NGÀNH KINH TẾ VÀ
QUẢN TRỊ KINH DOANH KHU VỰC PHÍA BẮC

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.01.02 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2013
Luận văn được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG


giảng dạy. Có thể khẳng định rằng, chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy trong các
trường Đại họ
c là yếu tố quyết định đối với sự phát triển giáo dục và đào tạo của
mỗi trường cũng như toàn bộ hệ thống các trường Đại học.
So với yêu cầu ngày càng cao, càng đa dạng và phong phú của sự nghiệp xây
dựng xã hội mới, thì chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy vẫn đang có một khoảng
cách đối với thực tiến hiện nay. Nh
ững vấn đề được đặt ra về chất lượng và số lượng
đội ngũ vẫn là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu trong sự nghiệp giáo dục và đào
tạo hiện nay. Do đó, làm sao để nâng cao chất lượng và phát triển về số lượng đội
ngũ giảng dạy trong các trường Đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh là một
vấn để có ý nghĩa cấp thiết, nh
ằm đáp ứng đòi hỏi mới của sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, đồng thời cạnh tranh được với
nền giáo dục của các quốc gia, dân tộc khác trong thời đại hội nhập và phát triển.
2. Tổng quan về đề tài nghiên cứu:
Từ góc độ chủ đề trực tiếp của đề tài luận văn cho đến nay, chư
a có một công
trình nghiên cứu nào trực tiếp bàn đến một cách toàn diện và có hệ thống vấn đề nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy trong các trường đại học kinh tế và quản trị
kinh doanh. Vì vậy, tác giả đã lựa chọn để tài này để nghiên cứu với tư cách là đề tài
độc lập ở trình độ luận văn thạc sỹ nhằm đóng góp phần vào việc từng bướ
c hoàn
chỉnh và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong các trường đại học ngành kinh
tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ Giảng
viên trong các trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắ
c,

quá trình nghiên cứu.
6. Đóng góp khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Trình bày có hệ thống vai trò, sự cần thiết và nội dung nâng cao chất lượng
đội ngũ giảng viên trong các trường đại học kinh tế và quả
n trị kinh doanh trong điều
kiện hiện nay ở nước ta.

3
- Đánh giá một cách khoa học thực trạng của đội ngũ giảng viên các trường đại
học kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc nước ta hiện nay.
- Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, luận văn nêu lên một số phương
hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong các
trường kinh tế và quản trị kinh doanh ở nước ta.
- K
ết quả luận văn sẽ có thêm cơ sở khoa học cho các cơ quan chức năng
trong việc hoạch định cơ chế, chính sách liên quan đến chất lượng đội ngũ giảng viên
trong các trường đại học nói chung, các trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh
nói riêng ở nước ta.
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
1.1 Giảng viên đại học và yêu cầu nâng cao chất lượng
1.1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực trong tổ chức
Nguồn nhân lực (NNL) – hay còn được gọi là “ nguồn nhân lực con người”
được hiểu ở tầm vĩ mô là một nguồn nhân lực đầu vào quan trọng cho sự phát triển
của đất nước.
Khái niệm “nguồn nhân lực” ( Humman resources) được sử dụng nhiều hơn
vào thập kỷ 60 của thế
kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước châu Á, khi
khoa học “ quản trị nguồn nhân lực”phát triển. Hiện nay khái niệm này được sử dụng

xử lý sự căng thẳng trong công việc của nhân viên.
- Đạo đức: là một phạm trù thể hiện tư tưởng, tình cảm, lối sống, thái độ và
phong cách đối xử vớ
i đồng nghiệp trong tổ chức, với mọi người trong xã hội bao
hàm cả về quan niệm về nhân dân và về đất nước mình.
* Về các mối quan hệ, tác động qua lại:
Các mối quan hệ tác động qua lại giữa các cá nhân với cá nhân, giữa các
nhóm, tổ với nhau trong tổ chức tạo ra sức mạnh tổng hợp cho tổ chức cũng như cho
bản thân họ.
Nguồn nhân lực trong tổ chức có sự khác bi
ệt về chất so với các nguồn lực
khác mà suy cho cùng là do bản chất và những đặc trưng về tâm sinh lý, năng lực làm
việc của con người quyết định. Vì vậy, quản lý NNL của tổ chức là một công tác
phức tạp và rất quan trọng, trong đó vấn đề đào tạo và phát triển NNL là một hoạt
động tất yếu vừa có ý nghĩa trước mắt vừa mang tính chiến lược lâu dài. 5
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của giảng viên
- Khái niệm:
Giảng viên là người làm công tác giảng dạy (lý thuyết và thực hành) được hiệu
trưởng công nhận chức vụ và phân công công tác giảng dạy hoặc những cán bộ khoa
học kỹ thuật làm việc trong hay ngoài trường, tham gia giảng dạy theo chế độ kiêm nhiệm
- Đặc điểm của giảng viên
Giảng viên đại học là một nhà khoa học chân chính. Cho nên, phẩ
m chất trí
tuệ là yêu cầu rất cao đối với người giảng viên. Từ chất sáng tạo đó biểu hiện trong
năng lực hoạt động giảng dạy, trong hoạt động nghiên cứu khoa học và trong toàn bộ
quá trình sáng tạo để hình thành nên toàn bộ nhân cách sáng tạo của một con người –
sản phẩm cần thiết và tất yếu của quá trình dạy học. Bởi vậy, hơn bất cứ một nghề

1.1.3 Nhiệm vụ , quyền hạn của giảng viên đại học
Nhiệm vụ chung:
- Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và
có chất lượng chương trình giáo dục;
- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy
định của pháp luật và
điều lệ nhà trường;
- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của
người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của
người học;
- Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ
chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp gi
ảng dạy, nêu gương tốt cho
người học;
- Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật;
Nhiệm vụ riêng:
- Giảng dạy được phần giáo trình hay giáo trình môn học được phân công.
- Tham gia hướng dẫn và đánh giá, chấm luận văn, đề án tốt nghiệp ĐH hoặc CĐ.
- Soạn bài giảng, biên soạn tài liệu tham khảo môn học được phân công đảm nhiệm.
- Tham gia các đề tài nghiên cứu khoa h
ọc, chủ yếu ở cấp khoa hoặc trường.
- Thực hiện đầy đủ các quy định về chuyên môn và nghiệp vụ theo quy chế
các trường ĐH.
- Tham gia quản lý đào tạo (nếu có yêu cầu): chủ nhiệm lớp, chỉ đạo thực tập.
Quyền hạn của giảng viên đại học
Theo Điều 73 Luật giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 14/ 06/2005 thì

7
nhà giáo có những quyền hạn sau đây:
- Được giảng dạy theo chuyên ngành đào tạo;

trên nhiều mặt của từng giảng viên và của toàn thể đội ngũ CBGD trong nhà trường.
Trình độ giảng viên giữa các trường đại học có sự chênh lệch khá lớn. có

8
trường không có giảng viên có trình độ tiến sĩ. Ngay trong những trường đầu ngành
của quốc gia, số giảng viên là tiến sĩ cũng chỉ chiếm từ 10-15% tổng số giảng viên.
Vì vậy, để đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp giáo dục và đào tạo, chúng ta cần tăng
cường hơn nữa những vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đội ngũ cán bộ giả
ng dạy có
trình độ trong các trường đại học khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh.
1.2.2 Tiêu chí đánh giá
Để có cơ sở đánh giá chất lượng giảng viên nói chung và đội ngũ giảng viên
trong các trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh nước ta nói riêng, theo
chúng tôi có thể xác định qua 5 nhóm tiêu chí:
Thứ nhất: Kiến thức chuyên môn của giảng viên và sự nhiệt tình với môn học.
Thứ hai: Kinh nghiệm giảng dạy, và kỹ năng sư phạm
Thứ ba: Có kỹ năng sử dụng cá hình thức kiểm tra – đánh giá phù hợp.
Thứ tư: Hỗ trợ nghề nghiệp cho sinh viên ở trong và ngoài lớp học
Thứ năm: Tham gia các hoạt động chuyên môn với các đồng nghiệp trong và
ngoài trường.
1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy
trong các trường kinh tế và quản trị kinh doanh.
Việc nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ giảng dạy trong các trường đại
học kinh tế và quản trị kinh doanh hiện nay chịu ảnh hưởng của những nhân tố sau đây:
Thứ nhất: Nhân tố trong nước
- Trước hết đó là nhân tố vĩ mô gắn với luật pháp, chính sách và cơ chế của
nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đang hoàn thành đề án đổi mới cơ chế
tài chính, đề

* Tổng quan kinh nghiệm một số nước như Úc, Nhật Bản, Trung Quốc…
Để thích nghi với xu thế hình thành nền kinh tế tri thức cho đến nay, nhiều
nước trên thế giớ
i nhưn Trung Quốc, ÚC, Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu…. Rất chú trọng
đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, trên một số mặt chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, tăng cường đầu tư cho giáo dục, xúc tiến cải cách hiện đại hóa giáo
dục nhằm đào tạo cho toàn xã hội và cho nền kinh tế một lực lượng lao động có trình
độ trí tuệ cao, có kỹ năng và tay nghề giỏi; tạo điều ki
ện để mọi người được học tập
và đào tạo thường xuyên, suốt đời. Theo xu thế này, nhiều nước đã chi vào ngân sách
hàng năm vượt quá 5% GNP của quốc gia.
Ở Nhật Bản, vấn đề đầu tư cho giáo dục và đào tạo được nhà nước đặc biệt ưu
tiên. Trong toàn bộ chi tiêu ngân sách, tỷ trọng chi cho giáo dục và văn hóa luôn giữ

10
vững ở mức khá cao đạt 12.3% . Trong khi đó, tỷ trọng chi cho quốc phòng và các cơ
quan Chính phủ lại giảm liên tục. Qua đó thấy rằng, Nhật Bản rất coi trọng giáo dục
vì cho rằng con người là yếu tố quyết định của sự tăng trưởng và phát triển kinh tế và
giáo dục . Giáo dục là công cụ có hiệu quả để dạy cho công chúng các quy tắc xã hội
, làm cho thấm nhuần tinh thần dân tộc, phát triển khả n
ăng tri thức và chuyên môn
của họ. Chính phủ đã đảm nhiệm giáo dục miễn phí và bắt buộc đối với tất cả mọi
người và tham gia sâu và quá trình giáo dục bậc cao. Các trường học được mở trên
khắp đất nước. Bộ giáo dục và đào tạo Nhật đã theo dõi chặt chẽ điều kiện giáo dục
và kết quả học tập của các trường tại các địa phương khác nhau để
có các biện pháp
hỗ trợ cần thiết. Sự kết hợp giữa giáo dục nhà trường với gia đình cũng được phát
huy với nhiều hình thức đa dạng.
Ở Trung Quốc, để phát triển kinh tế tri thức thì cần phải đề cao vai trò đội ngũ
tri thức làm việc trong lĩnh vực kinh tế và trong các trường đại học. Họ đã áp dụng

chủ yếu của toàn Đảng, toàn dân ta thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam, nhằm thực
hiện nhiệm vụ chung là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Quy mô đào tạo tăng lên không ngừng của các trường kinh tế và quản trị kinh
doanh đ
ã khiến cho quy mô đào tạo của toàn hệ thống tăng gấp nhiều lần. Chẳng hạn,
tại Trường Đại học KTQD, trước thời kỳ chuyển đổi, quy mô đào tạo khoảng 4.000-
5.000 sinh viên, những năm gàn đây tăng lên 25.000 – 30.000 sinh viên, tức là tăng
tới 6-7 lần.
Xu hướng đào tạo sau đại học trình độ tiến sỹ, thạc sỹ đang tăng lên rất nhanh
trong những năm gầ
n đây. Ví dụ trường đại học KTQD những năm 1980-1989 tuyển
vào 144 nghiên cứu, thì trong giai đoạn 1990-1999 tuyển thêm vào 560 nghiên cứu
sinh và 1016 học viên cao học, hiện nay quy mô này còn lớn hơn.
2.1.2 . Đặc điểm đội ngũ giảng viên các trường đại học kinh tế và quản trị
kinh doanh.
Xét về phẩm chất đạo đức, chính trị, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nước ta
đại đa số là con em công, nông, binh, có tinh thần yêu nướ
c, có truyền thống tốt đẹp của
quê hương và gia đình, tuyệt đối tin tưởng vào đường lối cách mạng của Đảng và dân
tộc, mong muốn học hỏi để vươn lên ngày càng cao , nắm bắt tri thức khoa học hiện đại,

12
phụng sự cho Tổ quốc và cho nhân dân.
Mặt khác, về năng lực, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của ta có đặc
điểm là thích nghi nhanh với cái mới, có khả năng và tinh thần tiếp thu tri thức và
khoa học công nghệ hiện đại, có nhiều khả năng sáng tạo, để từ đó có nhiều đóng
góp cho đất nước. Chính đội ngũ cán bộ trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩ
nh vực
kinh tế và quản trị kinh doanh, đã đóng góp hết sức có hiệu quả cho sự phát triển

- Thứ ba: Năng lực đào tạo của đội ngũ cán bộ giảng viên trong các trường
Đại học khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh ngày càng ở trình độ cao như đào
tạo tiến sỹ và thạc sỹ với số lượng ngày càng lớn. Có thể nhận thấy, đó là quá trình
phát triển vượt bậc về chất lượng đào t
ạo, đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng và đào tạo nhân
tài, đào tạo cán bộ đầu đàn cho sự phát triển của giáo dục và khoa học cho bản thân
các trường đại học cũng như yêu cầu của xã hội.
- Thứ tư: Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế thế giới.
Ngày nay vấn đề phát triển số lượng, chất lượng và các l
ĩnh vực đào tạo phản ánh yêu
cầu bức thiết của xã hội ngày nay: đó là một xã hội đa dạng hóa các quan hệ về kinh
tế xã hội, một xã hội năng động và sáng tạo, phát triển theo chiều sâu và xu hướng
chính là nền kinh tế tri thức, hội nhập và hợp tác để cùng phát triển. Đó không chỉ là
nhu cầu tự thân của các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau trong đời sống xã hội, mà
còn phản ánh yêu c
ầu khách quan của sự phát triển khoa học và giáo dục đào tạo.
Đồng thời, trong mối quan hệ thống nhất của lý luận và thực tiễn, sự gắn bó giữa đào
tạo của các trường đại học với thực tiễn xã hội ngày càng tăng lên.
* Công tác đào tạo lại và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ
CBGV trong các trường đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh có những m
ặt
thành công và cũng còn nhiều mặt hạn chế.
Trước hết, xin nêu những mặt thành công:
- Các trường luôn tạo điều kiện để đội ngũ CBGV được đi đào tạo sau đại
học, lấy bằng thạc sỹ hoặc tiến sỹ ở trong nước và nươc ngoài. Từ nhiều năm nay, tại
nhiều trường Đại học khối Kinh tế và quản trị kinh doanh, hầ
u như mọi nguyện vọng
được đi đào tạo sau đại học của các CBGV đều được đáp ứng. Số lượng các BCGV
được cử đi đào tạo tiến sỹ và thạc sỹ ở trong và ngoài nước ngày càng đông.
- Các trường luôn tạo điều kiện để đội ngũ CBGV được tham gia các chương

- Công tác bồi dưỡng năng lực nghiên cứu chủ yếu vẫn mang tính chất tự
thân mà chưa mang tính tổ chức, tính bắt buộc hoặc được sắp xếp theo quy định
hoạch và kế hoạch của các trường.
- Nhiều chương trình bồi dưỡng, chuyên đề bồi dưỡng năng lự
c nghiên cứu
vẫn chưa được cải tiến và tổ chức một cách khoa học
2.2.2 Tiêu chí đánh giá cụ thể trình độ chuyên môn đội ngũ cán bộ giảng dạy
Thực tế trình độ chuyên môn đội ngũ cán bộ giảng dạy các trường đại học
khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh được đánh giá cụ thể ở các mặt sau đây:
- Về kiến thức kinh tế thị trườ
ng.
- Về trình độ lý luận khoa học:

15
- Về phương pháp giảng dạy:
- Trách nhiệm nghề nghiệp và đạo đức:
- Về khả năng hướng dẫn sinh viên trong nghiên cứu khoa học.
2.2.3 Thực trạng năng lực nghiên cứu của đội ngũ cán bộ giảng viên các
trường đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh.
Dựa vào hai căn cứ chủ yếu là: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp
vụ và nh
ững kết quả nghiên cứu đã thực hiện; chúng ta có thể rút ra một số nhận xét
sau đây về năng lực nghiên cứu của đội ngũ cán bộ giảng viên của các trường Đại học
khối Kinh tế và Quản trị kinh doanh như sau:
Trước hết, xin đề cập đến những mặt mạnh:
Thứ nhất - Đội ngũ CBGD của các trường có một khả năng nghiên cứu ti
ềm tàng.
Thứ hai - Đội ngũ CBGD của các trường đã hoàn thành một khối lượng lớn
các công trình nghiên cứu.
Thứ ba- Đội ngũ CBGD của các trường đac hoàn thành các công trình nghiên cứu ở

Hà Nội, hay trường đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh.
- Thứ ba, đội ngũ cán bộ giảng dạy rất tâm huyết với nghề nghiệp, có hoài
bão ước mơ và lý tưởng cống hiến cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Lòng nhiệt
tình yêu nghề và say mê với nghề nghiệp, cống hiến tài năng và sức lực cho chiến
lược trồng người củ
a Đảng và dân tộc ta là một nét nổi bật của đội ngũ giảng viên
trong các trường đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh .
- Thứ tư, trong môi trường đổi mới và phát triển hiện nay, đội ngũ giảng viên
khối kinh tế và quản trị kinh doanh có điều kiện tham gia ngày một hiệu quả hơn vào
hoạt động thực tiễn, tham gia vào các chương trình xã hội, để gắn nhà trường với xã
h
ội. Trong quá trình đào tạo và nghiên cứu khoa học thống nhất giữa nhà trường và
xã hội, các cán bộ giảng viên sẽ có điều kiện tốt để phát huy năng lực lý luận và năng
lực thực tiễn, từ đó hoàn thiện nhân cách của ngời giảng viên một cách tích cực và tự giác.
2.3.2 Tồn tại và nguyên nhân
Trước hết, tỷ lệ giáo viên cơ hữu so với số lượng sinh viên rất thấp. Do quy
mô đào t
ạo tăng nhanh, trong khi biên chế đội ngũ giảng viên tăng chậm, làm cho tỷ
lệ giảng viên so với sinh viên ngày càng giảm ở tất cả các trường đại học, nhất là các
trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh. Tỷ lệ này đang ở mức báo động và hết
sức gay gắt. Tính chung cả 5 trường kinh tế khu vực phía Bắc thì phổ biến tỷ lệ một
giáo viên có tới gần 100 sinh viên, gấp 3 lầ
n so với cấp tiểu học và gấp nhiều lần so
với tỷ lệ này ở các đại học khác trong khu vực và trên thế giới.

17
Thứ hai, do tình trạng thiếu giáo viên dẫn đến hệ số giờ đứng lớp của giáo
viên ở các trường đại học kinh tế hiện nay là khá cao. Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng
tới chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên. Hiện nay, hệ số tải giảng (đứng lớp) của một
số giáo viên trong 1 tuần lên đến 50 tiết, một số trường hệ số này còn cao hơn, đặc

18
Nguyên nhân:
Một là- Do trong một thời gian khá dài, vấn đề chiến lược nói chung, đặc biệt
là chiến lược đào tạo giáo dục nguồn lực con người, chúng ta chưa chú ý coi trọng để
đào tạo đội ngũ xứng đáng với yêu cầu nhiệm vụ kinh tế xã hội. Sự quan tâm chưa
đúng mức này đã dẫn tới sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ giảng viên trong khối các trường
đạ
i học kinh tế và quản trin kinh doanh.
Hai là- Mặt khác, do chúng ta chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp, sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự chuyển đổi mô hình
kinh tế đó đã làm cho thực tiễn xã hội thay đổi nhanh chóng mà nhiều yếu tố khác
không phát triển tương xứng, không theo kịp, trong đó có vấn đề đào tạo giáo dục con
người, giáo dục đào tạo nói chung đã ch
ưa đáp ứng được thì tất yếu trong lĩnh vực đào
tạo bồi dưỡng cán bộ giảng dạy đại học khối ngành kinh tế vầ quản trị kinh doanh cũng
không thể đáp ứng với nhu cầu thực tiễn đã đặt ra. Trong giai đoạn hiện nay, sự đòi hỏi
của thực tiễn càng gay gắt, vì vậy chúng ta cần có chiến lược vừa lâu dài , vừa cấp
bách để giải quyết tình trạng thiếu hụt đội ngũ cán bộ giảng dạy.
Ba là – Do điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn vì vậy chúng ta chưa đầu tư
tương xứng cho vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ một cách căn bản có kế hoạch.
Vấn đề xây sựng và phát triển đội ngũ còn tự phát, lựa chọn cán bộ giảng dạy t

những trí thức đã có chứ không phải chủ động đào tạo, phát triển đội ngũ có định
hướng và kế hoạch cụ thể từ ban đầu. Do đó, chúng ta chưa thật sự tập trung toàn bộ
nguồn nhân lực, vật lực cho sự phát triển để đào tạo và lựa chọn nhân tài. Vì không
có kinh phí nên không có điều kiện đào tạo ở nước ngoài và cũng không thể nâng cao
chất l
ượng đào tạo đội ngũ theo ý muốn, dẫn tới thiếu hụt lực lượng giảng viên trong
các trường đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh.
Bốn là – Về mặt chủ quan: công tác bồi dưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ giảng

Thứ ba, thường xuyên bồi dưỡng, nâng cấp trình độ cho đội ngũ cán bộ giảng dạy
bằng nhiều hình thức theo các tiêu chí chất lượng đã được chuẩn hóa.
Thứ tư, t
ạo điều kiện để cán bộ giảng dạy tham gia nghiên cứu khoa học và
thâm nhập vào thực tiễn kinh tế và quản trị kinh doanh.
Thứ năm, tăng cường cơ sở vật chất phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy của
đội ngũ cán bộ giảng dạy theo hướng hiện đại ngang tầm với các trường đại học kinh
tế và quản trị kinh doanh trong khu vực và vươn lên trình độ
chung trên thế giới. Đây
là nhiệm vụ đòi hỏi một quá trình lâu dài, vì nó không chỉ là nhân tố vật chất thuần
túy, mà chính là sự kết tinh của năng lực con người thông qua nhân tố vật chất.

20
Thứ sáu, thực hiện tốt chế độ sử dụng và đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ giảng
dạy trên cả hai động lực vật chất và tinh thần. Vấn đề này liên quan đến lợi ích của cá
nhân trong xã hội là động lực để thúc đẩy sự phát triển. Vì vậy, thực hiện chế độ đãi
ngộ và sử dụng một cách xứng đáng là chìa khóa dẫn
đến thành công trong việc đào
tạo cán bộ giảng dạy.
Thứ bảy, mở rộng và nâng cao chất lượng liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa
học và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy giữa trường với các trường khác trong
nước, khu vực và quốc tế.
* Các quan điểm cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy
trong các trường đại h
ọc khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh.
Thứ nhất: Chất lượng đội ngũ giảng viên phải đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn
nhân lực bậc đại học cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước
phát triển kinh tế tri thức gắn với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới.
Thứ hai: Chất lượng độ
i ngũ cán bộ giảng dạy phải đáp ứng nhu cầu đào tạo

i cá nhân và tổ chức toàn xã hội tham gia phát
triển giáo dục đại học một cách bình đẳng.
- Thứ ba, đổi mới giáo dục đại học phải được tiến hành đồng bộ, từ mục tiêu,
quy trình, nội dung đến phương pháp mở rộng quy mô đào tạo giải quyết tốt mối
quan hệ giữa nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô đào tạo, giữa thực hiện công
bằng xã hội và
đảm bảo hiệu quả đào tạo.
- Thứ tư, đổi mới giáo dục đại học là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và nhân
dân. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục phát huy vai trò chủ thể của các trường đại học
trong công cuộc đổi mới mà nòng cốt là đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và sự
hưởng ứng tham gia tích cực của toàn xã hội, trước hết là các nhà khoa học, nhà hoạt
độ
ng xã hội, các nhà sử dụng lao động, sinh viên và gia đình.
- Thứ năm, mở rộng quy mô đào tạo đạt tỷ lệ 450 sinh viên / 1vạn dân vào
năm 2020 trong đó 70-80% tổng số sinh viên theo học các chương trình nghề nghiệp
ứng dụng và khoảng 40% tổng số sinh viên theo học các chương trình nghề nghiệp
ứng dụng và khoảng 40% tổng số sinh viên thuộc các cơ sở giáo dục đại học ngoài
công lập.
- Thứ sáu, xây d
ựng đội ngũ đảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học đủ
về số lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên
môn cao, phong cách giảng dạy và quản lý tiên tiến, đảm bảo tỷ lệ sinh viên trên
giảng viên của cả hệ thống giáo dục đại học không quá 20. Đến năm 2012 có ít nhất
60% giảng viên đạt trình độ thạc sỹ và 35% giảng viên đạt trình độ tiế
n sỹ.

22
- Thứ bảy, nâng cao rõ rệt quy mô và hiệu quả hoạt động khoa học và công
nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học lớn phải là trung tâm nghiên cứu khoa học
mạnh cả nước; nguồn thu từ các hoạt động khoa học và công nghệ, sản xuất và dịch

- Gắn hoạt động nghiên cứu với việc giải quyết những vấn đề phục vụ phát

23
triển kinh tế xã hội góp phần tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế đất nước. Đề
tài nghiên cứu phát xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội.
- Thúc đẩy mối liên hệ giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp
nhằm gắn kết đào tạo, khoa học sản xuất và kinh doanh. Hoàn thiện chế độ kiêm
nhiệm tham gia giảng dạy trong các trường đại h
ọc của cán bộ khoa học làm việc ở
viện nghiên cứu.
- Đặc biệt, Bộ Giáo dục và Đào tạo nên có sự ưu tiên phát triển đối với các
trường đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh một cách toàn diện, bởi vì các
trường đó có vai trò trực tiếp trong nền kinh tế xã hội ở Việt Nam.
3.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên thuộc về các
trường
đại học khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh.
- Rèn luyện phẩm chất đạo đức nhà giáo.
- Bồi dưỡng trình độ chuyên môn:
- Đào tạo sau đại học.
- Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và tiếp xúc thực thế đối với đội ngũ cán bộ giảng
dạy.
KẾT LUẬN
Đề tài nghiên cứu của luận văn có khể khái quát ở một số nội dung sau đây:
Thứ nhất: Luận văn đã làm rõ, sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hiện
nay đang đòi hỏi ngày càng cao hơn vai trò của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong các
trường đại học, kinh tế, quản trị kinh doanh. Vì vậy, vấn đề xây dựng và phát triển
đội ngũ giảng viên ngày càng đông về s
ố lượng, mạnh về chất lượng là yêu cầu có ý
nghĩa cấp thiết hiện nay đối với các trường đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh.
Thứ hai: Luận văn đã phân tích nội dung và sự tác động của các nhân tố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status