Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ và
thu hút rất nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước. Các nhà đầu tư có thể là các
cá nhân hay các tổ chức, và họ tham gia vào thị trường theo những cách tiếp
cận khác nhau. Nhiều nhà đầu tư ưa thích rủi ro, nhiều nhà đầu tư e ngại rủi
ro, có nhà đầu tư thụ động và chủ động. Tuy nhiên tất cả các nhà đầu tư cá
nhân hay tổ chức đều với một mục tiêu là thu được lợi nhuận cao và với mức
rủi ro thấp nhất.
Trong thời gian hiện nay, với sự biến động của thị trường thì việc đầu tư cổ
phiếu khá nhiều rủi ro. Vì vậy việc thiết lập một danh mục chứng khoán đầu
tư là rất quan trọng. Mục đích củc việc đầu tư theo danh mục là giảm thiểu rủi
ro bằng việc đa dạng hóa danh mục đầu tư. Dựa trên cơ sở các tài sản đầu tư,
nhà đầu tư lập một danh mục đầu tư bao gồm các tài sản khác nhau. Trên
nguyên tắc là “không bỏ trứng vào một giỏ”, các nhà đầu tư tạo ra một danh
mục có rủi ro thấp nhất, đó là rủi ro của thị trường (rủi ro hệ thống). Khi đó,
nhà đầu tư vẫn đạt được ở tại mức lợi nhuận kỳ vọng. Vì vậy, nhà đầu tư luôn
cố gắng tạo ra một danh mục tối ưu.
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hiện nay đã mang đế cho thị
trường bất động sản một vị thế mới, một diện mạo mới. Chính vì vậy mà trên
thị trường chứng khoán hiện nay thì các cổ phiếu của ngành bất động sản
đang khá được quan tâm và đầu tư với những tên tuổi có thương hiệu của các
công ty bất động sản mạnh. Tuy nhiên với sự biến động chung của thì trường
thì cổ phiếu bất động sản là loại cổ phiếu ”nhạy cảm” đầu tư vào các loại
chứng khoán các công ty ngành bất động sản cũng mang lại nhiều rủi ro cho
các nhà đầu tư.
Phạm Thị Hải Ly_Toán Tài Chính 46
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tầm quan trọng đối với lập và quản lý danh mục đầu tư đối với nhà đầu
tư chính là bí quyết để thành công. Vì vậy mà qua thời gian thực tập tại Công
Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng trong thị trường Tài
chính, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các chứng khoán và các giấy tờ
ghi nợ chung hoặc dài hạn thường từ một năm trở lên. Thị trường chứng
khoán cũng chính là thị trường vốn mà mối quan hệ về giao lưu vốn dài hành
trên TTCK được thể hiện tập trung bằng các hoạt động kinh doanh các loại
chứng khoán đã được phát hành và đang lưu hành trên thị trường.
Việc mua bán các loại chứng khoán này được diễn ra trên thị trường sơ
cấp khi trao đổi các loại chứng khoán lần đầu được phát hành và ở thị trường
trao đổi thứ cấp khi có sự mua bán lại các loại chứng khoán đã được phát
hành trên thị trường thứ cấp.
Như vậy xét về mặt hình thức thì thị trường chứng khoán chỉ là nơi
diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán các loại chứng khoán, qua đó thay đổi
các chủ thể nắm giữ chứng khoán. Nhưng xét về mặt bản chất thì:
- TTCK là nơi tập trung và phân phối các nguồn tiết kiệm. Tập trung các
nguồn tiết kiệm để phân phối lại cho những người sử dụng sẵn sàng trả
và theo phán doán của thì trường về khả năng sinh lời từ các dự án của
người sử dụng. Chuyển tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh.
- TTCK là định chế tài chính trực tiếp cả chủ thể cung và cầu đều tham
gia vào thị trường một cách trực tiếp. TTCK thực chất là quá trình vận
động của tư bản tiền tệ, là nơi mua bán các quyền sở hữu tư bản, là
hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hóa.
Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại và phát triển của TTCK là tất
yếu khách quan. Hoạt động trên TTCK có tác động, hiệu ứng trực tiếp tới
Phạm Thị Hải Ly_Toán Tài Chính 46
33
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hiệu quả đầu tư của các cá nhân, của các doanh nghiệp và hành vi của người
tiêu dùng, và tới động thái chung của toàn bộ nền kinh tế.
Như vậy việc hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán là
bước phát triển tất yếu của nền kinh tế thị trường. Việt Nam với nền kinh tế
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
- Đánh giá các hoạt động của doanh nghiệp
- Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
2.2. Phân loại thị trường
2.2.1. Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn
Căn cứ vào sự luân chuyển các luồng vốn, TTCK được chia thành thị
trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
• Thị trường sơ cấp là thị trường mia bán các loại chứng khoán mới
phát hành. Trên thị trường này, vốn từ các nhà đầu tư sẽ được chuyển sang
nhà phát hành thông qua việc các nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát
hành.
- Vai trò của thị trường sơ cấp:
+ Chứng khoán hóa nguồn vốn cần huy động vốn của công ty được huy
động qua việc phát hành chứng khoán.
+ Thực hiện quá trình chu chuyển tài chính, trực tiếp đưa các khoản tiền
nhàn rỗi sang dạng vốn dài hạn.
• Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các loại chứng khoán đã phát
hành trên thị trường sơ cấp. Thì trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho
các chứng khoán đã phát hành.
2.2.2. Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường, TTCK được phân thành
thị trường tập trung (sở giao dịch chứng khoán ) và phi tập trung ( thị trường
OTC)
• Sở giao dịch chứng khoán: Tại sở giao dịch chứng khoán các giao
dịch tập trung tại một địa điểm, các lệnh được truyền tới sàn giao dịch và
Phạm Thị Hải Ly_Toán Tài Chính 46
55
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tham gia giao dịch và tham gia vào quá trịnh ghép lệnh để hình thành nên giá
hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ
phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần.
Khi mua cổ phiếu những người đàu tư (các cổ đông) sẽ trở thành nhữn chủ
sở hữu đối với các công ty. Mức độ sở hữu đó tùy thuộc vào tỷ lệ cổ phần mà
cổ đông đó nắm giữ. Là chủ sở hữu, các cổ đông cùng nhau chia sẻ lợi nhuận
cũng như tổn thất trong quá trình hoạt động của công ty, và chỉ nhận lại những
gì còn lại sau khi thực hiện các khoản nghĩa vụ trong trường hợp công ty phá
sản. Cổ phiếu là công cụ không có thời hạn.
Theo tính chất của các quyền mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông thì có 2
loại cổ phiếu cơ bản:
- Cổ phiếu phổ thông: là loại cổ phiếu mang lại cho người chủ sở hữu
quyền hưởng cổ tức, quyền mua cổ phiếu mới và quyền bỏ phiếu.
- Cổ phiếu ưu đãi: là loại cổ phiếu dành cho cổ đông những ưu đãi so với
cổ phiếu cổ đông phổ thông.
Cổ phiếu là tài sản có tác dụng giảm biến động lợi tức của danh mục cao
nhất do độ giao động của tài sản này không trùng khớp với chu kỳ hay thời
gian với các loại tài sản khác. Vì thế cổ phiếu là loại tài sản được đầu tư phổ
biến trên thị trường nhưng thu nhập có độ biến động cao nên đây là loại tài
sản này cũng có rủi ro cao.
Lợi ích của đầu tư cổ phiếu thông thường bao gồm: tính thanh khoản cao
của cổ phiếu, nguồn tăng trưởng dài hạn, lợi ích về thuế. Rủi ro của nhà đầu tư
trong đầu tư cổ phiếu bao gồm: cổ tức không ổn định, rủi ro phá sản công ty
phát hành , các rủi ro về ngoại hối …
3.2. Trái phiếu
Phạm Thị Hải Ly_Toán Tài Chính 46
77
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành
(người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay)
một khoản tiền nhất định, thường là trong khoản thời gian cụ thể, và phải
tiền về. Theo sự phát triển của thị trường thì hàng hóa ngày càng đa dạng và
phong phú. Trên thị trường chứng khoán hiện nay, phát triển mạnh nhất vẫn là
thị trường cổ phiếu và trái phiếu.
4. Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được
chia thành các nhóm sau: nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên
quan đến chứng khoán.
4.1. Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị
trường chứng khoán. Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán -
hàng hoá của thị trường chứng khoán.
- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu
Chính phủ và trái phiếu địa phương.
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái
phiếu, chứng chỉ thụ hưởng... phục vụ cho hoạt động của họ.
4.2. Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị
trường chứng khoán. Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá
nhân và nhà đầu tư có tổ chức.
- Các nhà đầu tư cá nhân.
- Các nhà đầu tư có tổ chức.
4.3. Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
- Công ty chứng khoán.
Phạm Thị Hải Ly_Toán Tài Chính 46
99
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Quỹ đầu tư chứng khoán.
- Các trung gian tài chính.
4.4. Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
Khi thực hiện nguyên tắc đấu giá bao giờ cũng tuân theo các thứ tự ưu tiên
về giá, về thời gian, về khác hàng và về quy mô.
II. Phân tích chứng khoán
Phân tích chứng khoán được nhà đầu tư tiến hành nhằm trả lời câu hỏi
trước khi đưa ra quyết định đầu tư
1. Phân tích vĩ mô và thị trường chứng khoán
1.1. Môi trường chính trị - xã hội và pháp luật
Đối với bất kỳ một quốc gia nào, môi trường xã hội và chính trị luôn có
những tác động đến thị trường chứng khoán nước đó.
Tình hình chính trị ảnh hưởng rất lớn đến thị trường chứng khoán. Các yếu
tố chính trị bao gồm những thay đổi về chính phủ và các hệ thống chính trị.
Thay đổi chính trị làm cho nhiều quy định và sự kiểm soát của chính phủ đối
với một số ngành được thắt chặt và một số quy định trong các ngành khác
được nới lõng. Chúng đều có tác động lớn tới kết quả kinh doanh của mỗi
ngành, mỗi công ty.
Môi trường pháp luật cũng là yếu tố cơ bản gây ra tavs động tới thị trường
chứng khoán, các cơ quan Chính phủ tác động đến thị trường chứng khoán
bằng luật. Như các quy định bằng giá cả, dịch vụ sẽ gây tác động trực tiếp đến
các ngành dịch vụ công cộng. Luật chống độc quyền thường làm giảm giá
chứng khoán của các công ty bị điều chỉnh bởi chính nó. Chính sách tiền tệ tín
dụng của Ngân hàng trung ương có thể gây tác động to lớn tới thị trường.
1.2. Ảnh hưởng kinh tế vĩ mô
Phạm Thị Hải Ly_Toán Tài Chính 46
1111
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các điều kiện kinh tế vĩ mô sẽ quyết didnhj rủi ro chung của thị trường mà
trong lý thuyết gọi là rủi ro hệ thống. Rủi ro này tác động đến toàn bộ thị
trường, đến tất cả mọi chứng khoán mà bản thân doanh nghiệp hay từng
ngành không thể tránh được. Đối với từng người đầu tư hay từng tổ chức phát
hành thì đây được coi là rủi ro khách quan. Do các điều kiện kinh tế vĩ mô
• Việc làm
• Tỷ giá hối đoái
• Thâm hụt ngân sách
• Thái độ
• Cung ứng tiền tệ và tổng chi người tiêu dùng
• Lạm phát và lãi suất
• Chu trình kinh doanh
1.3. Dự đoán tình hình kinh tế và xu hướng thị trường
Môi trường kinh tế vĩ mô quyết định xư hướng chung của thị trường chứng
khoán. Thông thường nền kinh tế phát triển tốt, thị trường chứng khoán đi lên
và ngược lại khi nền kinh tế vĩ mô sa sút, rõ nét nhất là trong khủng hoảng
kinh tế, thì thị trường xuống. Như vậy nếu ta có thể dự đoán được xu thế phát
triển của nền kinh tế thì sẽ dự đoán được xu thế phát triển chung cảu thì
trường chứng khoán. Tuy nhiên thì vì nhiều lý di kahcs nhau thi không phải
lúc nào quan hệ giữa tình hình kinh tế và diễn biến chung của thị trường
chứng khoán là diễn ra cùng chiều. Biến động giá cổ phiếu đoi khi xảy ra
trước biến động nền kinh tế. Vì vậy mà các nhà đầu tư luôn luôn cố gắn dự
đoán tình hình kinh tế để tìm ra những đỉnh điểm của chu kỳ kinh tế để tim ra
những đinihr điểm của chu kỳ kinh tế và chọn thời co tham gia hoặc rút khỏi
thị trường chứng khoán.
Phạm Thị Hải Ly_Toán Tài Chính 46
1313
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2. Phân tích ngành.
Các ngành có khả năng phản ứng khác nhau với những thay đổi kinh tế
trong chu kỳ kinh doanh. Triển vọng của một ngành trong môi trường kinh tế
quyết định kết quả mà mỗi công ty có thể đạt được vì vậy mà việc phân tích
ngành diễn ra trước việc phân tích công ty.
Quy trình phân tích:
- Xác định hệ số rủi ro β của ngành từ đó tính toán lợi suất yêu cầu theo
trọng của công ty trong các năm.
Các hệ số tài chính có thể cho chúng ta thấy tiềm năng phát triển cũng như
điểm yếu của một công ty. Tuy nhiên thì những hệ số tài chính này cũng sẽ
không đưa ra những câu trả lời xác định, nó cũng không đưa ra các dự đoán.
Vì thế chúng ta cần thận trọng và chỉ sử dụng chúng vào những thời điểm
thích hợp. Tức là cần phải sử dụng các hệ số này trong mối tương quan với
các yếu tố và các phân tích khác.
Các hệ số tài chính:
- Các hệ số về khả năng thanh toán
- Các hệ số về hiệu quả hoạt động
- Các hệ số về cơ cấu vốn
- Các hệ số về khả năng sinh lời
3.2. Phân tích rủi ro
Phân tích rủi ro là chúng ta tiến hành xem xét sự bất ổn của tổng thể các
dòng thu nhập của công ty. Mức độ biến động của các dòng thu nhập càng cao
thì rủi ro đối diện với các nhà đầu tư càng lớn.
Rủi ro của công ty thường bao gồm 2 loại rủi ro: Rủi ro kinh doanh và Rủi
ro tài chính.
3.2.1 Rủi ro kinh doanh
Rủi ro kinh doanh là sự bất ổn về thu nhập mà nguyên nhân cơ bản của nó
là xuất phát từ lĩnh vực ngành mà công ty đó trực thuộc. Sự bất ổn là kết quả
sự thay đổi doanh số bán hàng của công ty. Và thu nhập của một công ty sẽ
phụ thuộc doanh số bán hàng và chi phí sản xuất. Rủi ro kinh doanh thường
được tính bằng mức độ biến động của thu nhập phát sinh từ hoạt động sản
Phạm Thị Hải Ly_Toán Tài Chính 46
1515
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
xuất của công ty. Rủi ro kinh doanh được định lượng một cách tổng quát là
một hàm số của hệ số tương quan của biến động thu nhậphoatj động.
Rủi ro kinh doanh = f (Hệ số tương quan biến động của thu nhập hoạt
doanh nghiệp đó. Chủ doanh nghiệp hiểu rằng giá trị của doanh nghiệp phụ
thuộc vào sự tăng trưởng các khoản thu nhập và cổ tức trong tương lai.
Các nhà tín dụng rất quan tâm đến khả năng tăng trưởng của một dianh
nghiệp vì nó có ý nghĩa quan trọng đối với thành công trong tương lai của
doanh nghiệp đó và là nhân tố chủ yếu để quyết định khả năng thanh toán nợ
của doanh nghiệp đó. Cơ sở lý luận cho việc tính toán là giả định trong trường
hợp bị mất khả năng thanh toán, doanh nghiệp có thể bán các tài sản và dùng
số tiền thu được để trả nợ.
3.3.2. Các nhân tố quyết định tăng trưởng
Sự tăng trưởng của một doanh nghiệp phụ thuộc vào:
(1) Giá trị những nguồn lực được giữ lại tái đầu tư vào doanh nghiệp
(2) Tỷ lệ lợi nhuận thu được từ các nguồn lực được giữ lại
Doanh nghiệp tái đầu tư càng nhiều thì tiềm năng tăng trưởng càng lớn.
Mặt khác với một mức tái đầu tư nhất định, doanh nghiệp tăng trưởng nhanh
hơn nếu mức sinh lời từ dự án tái đầu tư cao hơn.
Mức tăng trưởng được tính theo công thức
g = b * ROE
g: tốc độ tăng trưởng
b: Tỷ lệ thu nhập giữ lại
ROE: Lợi nhuận trên vốn cổ phần của doanh nghiệp
Ngoài cách phân tích các hệ số chỉ số thì chúng ta cần đề cập đến sự phát
triển của kinh tế và của ngành cũng như các doanh nghiệp cạnh tranh khác.
Tóm lại: Việc phân tích báo cáo tài chính của bất kỳ một công ty nào là
một quá trình gồm nhiều công đoạn có quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau. Khả
năng thanh toán nợ ngăn hạn sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh lời; khả năng
Phạm Thị Hải Ly_Toán Tài Chính 46
1717
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sinh lời lại bắt đầu từ doanh số bán hàng, và doanh số bán hàng lại lêi quan
đến tính thanh khoản của tài sản. Hiệu quả của ciệc quản lý tài sản sẽ ảnh
đổi tỷ trọng các loại trài sản trong danh mục khi có những thông tin ảnh
hưởng đến thị trường hay tài sản mà nhà đầu tư đang nắm giữ. Việc đó được
gọi là cơ cấu lại danh mục đầu tư. Khi nhà đầu tư cảm thấy triển vọng về một
tài sản nào đó tốt, nhà đầu tư có thể điều chỉnh danh mục đầu tư của mình
bằng cách giảm tỷ trọng vào các tài sản không có triển vọng và tăng đầu tư
vào các tài sản có triển vọng tốt hơn.
Danh mục đầu tư phụ thuộc vào các yếu tố như trình độ của các nhà đầu
tư, tâm lý của từng nhà đầu tư, mức thuế suất của từng đối tượng nhà đầu tư,
tính chất của từng nhà đầu tư, lứa tuổi của nhà đầu tư…
Thực tế thì danh mục đầu tư có trình độ khác nhau, mức độ chấp nhận rủi
ro thua lỗ là không giống nhau, thái độ cũng khác nhau. Vì vậy mà danh mục
đầu tư của các nhà đầu tư là khác nhau. Do các nhà đầu tư khác nhau thì mức
độ chấp nhận rủi ro là khác nhau. Vì vậy, rủi ro của các danh mục đầu tư phụ
thuộc vào các nhà đầu tư. Tương ứng với mức chấp nhận rủi ro khác nhau là
lợi suất kỳ vọng danh mục của từng nhà đầu tư cũng khác nhau. Các nhà đầu
tư ưa thích rủi ro thì chấp nhận một mức rủi ro cao nhưng lợi nhuận kỳ vọng
cao. Ngược lại, các nhà đầu tư là e ngại rủi ro thì mức chấp rủi ro là thấp
tương ứng với lợi nhuận kỳ vọng thấp hơn. Từ đó, các tài sản trong từng danh
mục là khác nhau. Các nhà đầu tư ưa thích rủi ro thì đầu tư vào các tài sản có
rủi ro cao như cổ phiếu. các nhà đầu tư e ngại rủi ro thì danh mục sẽ có tỷ
trọng các tài sản ít rủi ro như trái phiếu cao hơn.
Các nhà đầu tư khác nhau thì mức thuế cũng khác nhau. Các nhà đầu tư
có mức thuế cao thường không mong muốn trong danh mục của mình co
những chứng khoán giống với các nhà đầu tư có mức thuế thấp.
Phạm Thị Hải Ly_Toán Tài Chính 46
1919
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tính chất của các nhà đầu tư khác nhau thì danh mục đầu tư khác nhau.
Đó là danh mục đầu tư cá nhân hay nhà đầu tư có tổ chức. Ví dụ, các nhà đầu
trên thị trường thường tính đến đầu tư với lợi nhuận là hưởng chênh chênh
mình có thể đầu tư vào chứng khoán. Câu trả lời phụ thuộc vào khả năng tài
chính của nhà đầu tư, họ cần xác định được lượng vốn có thể đầu tư vào tài
sản ngắn hạn, lượng vốn để đầu tư vào tài sản dài hạn. Đối với tổ chức đầu
tư, việc xác định được khả năng tài chính lại càng quan trọng.
Cùng với đó, nhà đầu tư cần xác định mục đích đầu tư và mức độ rủi ro
của đầu tư có thể chấp nhận. Cũng như trong các lĩnh vực đầu tư khác, đầu tư
chứng khoán luôn tồn tại mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa lợi nhuận và rủi ro. Thu
nhập càng cao, mức thu nhập tiềm ẩn càng cao. Các nhà đầu tư thường kì
vọng vào hai loại thu nhập là thu nhập từ cổ tức và thu nhập từ mức tăng của
giá cổ phiếu (lãi vốn). Thu nhập từ cổ tức phụ thuộc vào tình hình kinh doanh
của doanh nghiệp của công ty và quyết định của hội đồng quản trị. Khi nhà
đầu tư kỳ vọng về tình hình phát triển của công ty, nhà đầu tư sẽ mua cổ phiếu
với hy vọng giá của cổ phiếu sẽ tăng trong tương lai. Khác với nhà đầu tư cá
nhân trên thị trường, nhà đầu tư có tổ chức đầu tư với tư cách là một nhà đầu
tư chiến lược. Do đó họ quan tâm tới tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
trong quá khứ và tương lai thông qua các dự án dự định thực hiện trong tương
lai của công ty. Từ đó, phần thu nhập từ cổ tức sẽ cao. Khi này các nhà đầu tư
có tổ chức quan tâm tới các công ty kinh doanh trong các lĩnh vực công cộng
như điện lực, viễn thông, dầu khí… hoặc các cổ phiếu thượng hạng.
Để lựa chọn được cổ phiếu thích hợp, nhà đầu tư cần quan tâm tới tất cả
các thông tin liên quan tới công ty họ muốn đầu tư. Các thông tin này bao
gồm các thông tin quá khứ và đặc điểm của công ty, tình hình tài chính, các
chi tiết của đợt phát hành và tổ chức bảo lãnh phát hành. Nhà đầu tư có thể
tìm được các thông tin này trong bản cáo bạch, thông cáo phát hành, trong
Phạm Thị Hải Ly_Toán Tài Chính 46
2121
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dịch vụ tư vấn đầu tư. Các quyết định về lựa chọn đầu tư khi các nhà đầu tư có
đủ cơ sở thông tin về khoản đầu tư của mình.
2.2. Quyết định quy mô đầu tư
không thể thu được những khoản lợi nhuận lớn. Tuy nhiên, bằng lòng với
những khoản thu nhập vừa phải để tránh những thua lỗ quá mức là hoàn toàn
hợp lý.
2.3. Quản lý danh mục đầu tư
Quản lý danh mục đầu tư là một nghiệp vụ quan trọng trong kinh doanh
chứng khoán, là công cụ hữu hiệu để hạn chế rủi ro và tối đa hoá lợi nhuận.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để quản lý danh mục đầu tư một cách tối ưu nhất.
Một danh mục đầu tư có thể bao gồm các chứng khoán được giao dịch trên thị
trường như: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, quyền chọn….
Quản lý danh mục đầu tư là nhu cầu cần thiết của người đầu tư, có trường
hợp giá cả của mọi chứng khoán được định giá đúng nhưng mỗi chứng khoán
vẫn chứa đựng những rủi ro và những rủi ro này có thể san sẻ thông qua việc
đa dạng hoá danh mục đầu tư. Đồng thời, việc lựa chọn danh mục đầu tư phải
tính đến ảnh hưởng của thuế. Nhà đầu tư phải chịu mức thuế cao thường
không muốn trong danh mục của mình có những chứng khoán giống như danh
mục của những người chịu thuế thấp. Các nhà đầu tư ở các lứa tuổi khác nhau
thì nhu cầu đầu tư và mức chấp nhận rủi ro cũng khác nhau. Thông thường,
nhà đầu tư lớn tuổi có nhu cầu đầu tư vào các loại chứng khoán có độ an toàn
cao. Ngược lại, các nhà đầu tư trẻ tuổi lại có nhu cầu đầu tư vào các loại
chứng khoán có độ rủi ro cao nhưng mức lợi nhuận kỳ vọng cũng cao.
Do đó, sau khi tiến hành lựa chọn được một danh mục đầu tư theo nhu
cầu của mình, nhà đầu tư cần tiến hành quản lý danh mục đầu tư. Nhà đầu tư
cần theo dõi những biến động giá của các chứng khoán trên thị trường và mức
lợi nhuận mong đợi. Từ đó, trong quá trình theo dõi các biến động của danh
Phạm Thị Hải Ly_Toán Tài Chính 46
2323
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mục, nhà đầu tư tiến hành điều chỉnh danh mục cho phù hợp với diễn biến của
thị trường và mục tiêu đã đề ra.
2.4. Sự cần thiết của đầu tư chứng khoán theo danh mục
Các tổ chức kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán nhằm
mục đích thu được nguồn lợi nhuận từ hoạt động đầu tư chứng khoán. Đó là
phần doanh thu từ hoạt động tài chính của công ty. Vì vậy, trong khi thị trường
chứng khoán ngày càng phát triển và hoàn thiện, đầu tư chứng khoán là một
lĩnh vực mà các tổ chức kinh doanh tăng nguồn lợi nhuận.
Công ty tài chính là một tổ chức kinh doanh phi ngân hàng hoạt động
trong lĩnh vực tài chính. Vì vậy, hoạt động đầu tư chứng khoán là một trong
những hoạt động chính của công ty tài chính.
Công ty tài chính là một tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động độc lập
do tổng công ty hoặc công ty mẹ lập ra. Với chức năng là thực hiện các chức
năng đầu tư, cho vay cho các công ty thuộc tổng công ty ( hoặc công ty mẹ).
Do đó trong lĩnh vực hoạt động của mình, công ty tài chính luôn phải bảo đảm
an toàn hoạt động đối với nguồn vốn của mình. Trong lĩnh các lĩnh vực hoạt
động, công ty tài chính phải được sự chấp thuận phê duyệt, giám sát của tổng
công ty sao cho bảo đảm an toàn vốn.
Đầu tư tài chính là một hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho các đối
tượng tham gia thị trường chứng khoán. Đối với công ty tài chính, đầu tư
chứng khoán mở rộng phạm vi hoạt động của công ty. Đầu tư chứng khoán
giúp công ty thu được một khoản lợi nhuận lớn, phát huy được nguồn vốn
dùng để đầu tư trong công ty ngoài đầu tư dự án và cho vay…
Đầu tư vào thị trường tài chính tạo cho công ty một khoản lợi nhuận cao,
phù hợp với yêu cầu về khả năng an toàn vốn nhờ vào việc đa dạng hoá danh
mục đầu tư. Khi đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán, với khả năng quan hệ của
công ty trên thị trường, công ty tài chính có thể đầu tư bằng cách góp vốn vào
công ty cổ phần với tư cách là cổ đông sáng lập của công ty, hoặc cũng có thể
Phạm Thị Hải Ly_Toán Tài Chính 46
2525