Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
Khoa Thương Mại và Kinh tế quốc tế
ĐỀ ÁN KINH TẾ THƯƠNG MẠI
Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm bánh
kẹo của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà trên thị
trường Việt Nam.
Họ và tên: Dương Thị Thu Trang
Lớp: QTKD Thương Mại 48A
Mã sv: CQ 483045
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Đinh Lê Hải Hà
Hà Nội, 2009
Lời mở đầu
Ngay từ khi nền kinh tế nước ta bắt đầu đổi mới, chuyển sang nền kinh tế
thị trường, thì cạnh tranh và năng lực cạnh tranh đã được các doanh nghiệp
coi như một mục tiêu quan trọng để có thể tồn tại và phát triển.
Trong điều kiện hiện nay, một bước ngoặt quan trọng đối với sự phát triển
của nền kinh tế và một môi trường cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt hơn, thì
vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp càng
trở nên quan trọng, trở thành mục tiêu sống còn để duy trì thị phần và mở
rộng thị trường tiêu thụ.
Không nằm ngoài quy luật đó, công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà cũng là
một trong những công ty nằm trong lĩnh vực, ngành hàng chịu ảnh hưởng sâu
sắc từ hội nhập. Chuyên sản xuất kinh doanh các loại bánh kẹo, Hải Hà từ lâu
đã được người tiêu dùng biết đến như một nhãn hiệu bánh kẹo hàng đầu.
Trong những năm qua, Công ty đã biết chăm lo phát huy các nhân tố nội lực
để vượt qua các thử thách của thời kỳ chuyển đổi, phát triển sản xuất kinh
doanh ngày càng có hiệu quả. Với mục tiêu trở thành một trong những doanh
nghiệp sản xuất bánh kẹo lớn nhất tại Việt Nam.
Vậy làm thế nào để có thể tiếp tục giữ vững thị phần của mình? Biện
pháp nào giúp Hải Hà có thể cạnh tranh với các đối thủ khác? Muốn làm đựơc
như vậy, công ty cần có những chính sách nhất định trong việc hoạch định các
doanh và nâng cao giá trị của “đầu ra” sao cho mức chi phí thấp nhất.
Như vậy, trên quy mô toàn xã hội, cạnh tranh là phương thức phân bổ các
nguồn lực một cách tối ưu và do đó trở thành động lực bên trong thúc đẩy nền
kinh tế phát triển. Mặt khác, đồng thời với tối đa hóa lợi nhuận của các chủ
thể kinh doanh, cạnh tranh cũng là quá trình tích lũy và tập trung tư bản
không đồng đều ở các doanh nghiệp. Và từ đó, cạnh tranh còn là môi trường
phát triển mạnh mẽ cho các chủ thể kinh doanh thích nghi được với điều kiện
thị trường.
1.1.2 Phân loại
Có nhiều tiêu thức phân loại cạnh tranh, tuy nhiên, một số cách phân loại
cơ bản đó là:
- Xét theo phạm vi ngành kinh tế, cạnh tranh được chia thành 2 loại:
+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng
sản xuất, kinh doanh một loại hàng hóa, dịch vụ. Trong đó, các doanh nghiệp
4
yếu kém phải thu nhỏ hoạt động kinh doanh, thậm chí bị phá sản, các doanh
nghiệp mạnh sẽ chiếm ưu thế. Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cuộc cạnh
tranh tất yếu xảy ra, tất cả đều nhằm vào mục tiêu cao nhất là lợi nhuận của
doanh nghiệp.
+ Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm
mục tiêu lợi nhuận, vị thế và an toàn. Cạnh tranh giữa các ngành tạo ra xu
hướng di chuyển của vốn đầu tư sang các ngành kinh doanh thu được lợi
nhuận cao hơn và tất yếu sẽ dẫn tới sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
- Xét theo mức độ cạnh tranh:
+ Cạnh tranh hoàn hảo: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường mà ở
đó có rất nhiều người bán sản phẩm tương tự nhau về phẩm chất, quy cách,
chủng loại, mẫu mã. Giá cả sản phẩm là do cung – cầu trên thị trường quyết
định. Các doanh nghiệp được tự do gia nhập, rút lui khỏi thị trường. Do đó,
trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, các doanh nghiệp tham gia kinh doanh
trường, rút ra được những bài học thực tiễn, bổ sung vào lý luận kinh tế thị
trường của nước ta.
- Đối với doanh nghiệp
Đối với mỗi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị
trường, cạnh tranh có những vai trò sau:
+ Cạnh tranh được coi như là cái “sàng” để lựa chọn và đào thải những
doanh nghiệp.
+ Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Cạnh
tranh tạo ra động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh
nghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
+ Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đưa ra các sản phẩm có chất lượng
cao hơn để đáp ứng được nhu cầu thường xuyên thay đổi của người tiêu dung.
Muốn vậy, các doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật
mới vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cường công tác quản lý, nâng cao
trình độ tay nghề của công nhân… từ đó làm cho doanh nghiệp ngày càng
phát triển hơn.
- Đối với người tiêu dùng:
Có cạnh tranh, hàng hóa sẽ có chất lượng ngày càng tốt hơn, mẫu mã
ngày càng đẹp, phong phú đa dạng hơn để đáp ứng các yêu cầu của người tiêu
6
dùng trong xã hội. Vì vậy, đối với người tiêu dùng, cạnh tranh có các vai trò
sau:
+ Người tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản
phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của mình.
+ Những lợi ích mà họ thu được từ hàng hóa ngày càng được nâng cao, thỏa
mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ các dịch vụ kèm theo được
quan tâm nhiều hơn.
Bên cạnh những tác dụng tích cực, cạnh tranh cũng làm xuất hiện những
hiện tượng tiêu cực như làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế… gây nên sự bất ổn
trên thị trường, làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước và của người tiêu dùng.
Yếu tố nhân lực được coi là tài sản vô cùng quý báu cho sự phát triển
thành công của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp.
Với một đội ngũ nhân lực tốt sẽ làm tăng các nguồn lực khác cho doanh
nghiệp lên một cách nhanh chóng. Nó tạo ra những sản phẩm chất lượng cao,
ưu việt hơn với giá thành thấp nhất, đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng, đưa
doanh nghiệp vượt lên trên các đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó nguồn nhân
lực của một doanh nghiệp phải đồng bộ, sự đồng bộ này không chỉ xuất phát
từ thực tế đội ngũ công nghiệp của doanh nghiệp mà còn xuất phát từ năng
lực tổng hợp riêng thu được từ việc kết hợp nguồn nhân lực về mặt vật chất,
tổ chức trình độ tay nghề, ý thức kỹ luật, lòng hăng say lao động sẽ là nhân tố
quan trọng đảm bảo tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Nguồn lực vất chất
Một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cùng với một công nghệ
tiên tiến phù hợp với qui mô sản xuất của doanh nghiệp chắc chắn sẽ nâng cao
năng lực sản xuất, làm tăng khả năng của doanh nghiệp lên rất nhiều với một
cơ sở vật chất tốt , chất lượng sản phẩm sẽ được nâng lên cao hơn cùng với
việc hạ giá thành sản phẩm kéo theo sự giảm giá bán trên thị trường. Khả
năng chiến thắng trong cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ rất lớn, ngược lại
không một doanh nghiệp nào lại có khả năng cạnh tranh cao khi mà công
8
nghệ sản xuất lạc hậu, máy móc thiết bị cũ kỹ sẽ làm giảm chất lượng sản
phẩm, tăng chi phí sản xuất.
Nguồn lực tài chính
Nguồn lực tài chính là yếu tố quan trọng trong quyết định khả năng
sản xuất cũng như là chỉ tiêu hàng đầu để đánh giá qui mô của doanh nghiệp.
Bất cứ một hoạt động đầu tư, mua sắm trang thiết bị , nguyên liệu hay
phân phối, quảng cáo cho sản phẩm... đều phải được tính toán dựa trên thực
trạng tài chính của doanh nghiệp, một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính
mạnh mẽ sẽ có khả năng trang bị công nghệ máy móc hiện đại. Bởi vì bất cứ
một hoạt động đầu tư mua sắm trang thiết bị nào cũng phải được tính toán dựa
ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng,
tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì… hơn hẳn so với những
sản phẩm cùng loại. Nhưng năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa lại
được định đoạt bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Sẽ không có năng
lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa cao khi năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó thấp.
Ở đây cũng cần phân biệt năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa và
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đó là 2 phạm trù khác nhau nhưng có
quan hệ hữu cơ với nhau. Năng lực cạnh tranh của hàng hóa có được do năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra, nhưng năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp không chỉ do năng lực cạnh tranh của hàng hóa quyết định mà còn phụ
thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của hàng
hóa có ảnh hưởng rất lớn và thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.2.2 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của sản phẩm bánh kẹo
Chất lượng sản phẩm:
Chất lượng sản phẩm được hình thành từ khâu thiết kế tới tổ chức sản
xuất và ngay cả sau khi tiêu thụ hàng hóa và chịu tác động của nhiều yếu tố:
công nghệ dây chuyền sản xuất, nguyên vật liệu, trình độ tay nghề lao động,
10
trình độ quản lý… Chất lượng sản phẩm có thể được hiểu là mức độ đáp ứng
các tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật hoặc là khả năng thỏa mãn nhu cầu của người
tiêu dùng. Nâng cao chất lượng thì phải giải quyết được cả hai vấn đề trên.
Xuất phát từ quan điểm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, khi đời
sống của con người ngày càng cao thì việc cải thiện chất lượng sản phẩm trở
thành vấn đề cấp bách đối với mỗi hàng hóa muốn xâm nhập sâu, rộng vào thị
trường, đặc biệt là những thị trường mang tính quốc tế. Hiệp định thương mại
Việt – Mỹ được ký kết tháng 7 năm 2000 đã mở ra những cơ hội lớn cho các
doanh nghiệp Việt Nam. Song để xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ, các sản phẩm
của ta phải tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn về công nghệ, hàm lượng
dinh dưỡng, an toàn vệ sinh, cũng như về bao gói, bảo quản…
thành vấn đề nên nó đóng vai trò quan trọng trong quyết định lựa chọn của
người tiêu dùng.
Nhãn mác, uy tín sản phẩm:
Cùng một loại sản phẩm, cùng chất lượng tương đương nhau nhưng người
tiêu dùng có xu hướng lựa chọn những mặt hàng có tiếng trên thị trường để
tiêu dùng. Vì theo họ, độ tin cậy của các sản phẩm đó sẽ cao hơn. Ngoài ra,
một số thương hiệu sản phẩm còn thể hiện được phong cách, cá tính của
người tiêu dùng.
1.3 Khái quát về thị trường bánh kẹo Việt Nam
Trong xu thế toàn cầu hoá, các sản phẩm của Việt Nam đã và đang xuất
hiện ngày càng nhiều trên thị trường thế giới, trong đó có thực phẩm, bánh
kẹo. Theo nhận định của ông Perter Becker, Chủ tịch Hiệp hội các nhà sản
xuất bánh kẹo Cộng hoà Liên bang Đức, bánh mỳ, bánh nướng đang dần trở
thành những đồ ăn quen thuộc, thường xuyên của nhiều người dân Việt Nam.
Vì vậy, thị trường bánh kẹo của Việt Nam đang có tiềm năng phát triển hàng
đầu Đông Nam Á và trên thế giới.
12
Theo ước tính của Công ty Tổ chức và điều phối IBA (GHM), sản lượng
bánh kẹo tại Việt Nam năm 2008 đạt khoảng 476.000 tấn, đến năm 2012 sẽ
đạt khoảng 706.000 tấn, tổng giá trị bán lẻ bánh kẹo ở thị trường Việt Nam
năm 2008 khoảng 674 triệu USD, năm 2012 sẽ là 1.446 triệu USD. Tỉ lệ tăng
trưởng doanh số bán lẻ bánh kẹo ở thị trường Việt Nam trong giai đoạn từ
năm 2008-2012 tính theo USD ước tính khoảng 114,71%/năm, trong khi con
số tương tự của các nước trong khu vực như Trung Quốc là 49,09%,
Philippines 52,35%; Indonesia 64,02%; Ấn Độ 59,64%; Thái Lan 37,3%;
Malaysia 17,13%…
Thị trường bánh kẹo Việt Nam phát triển kéo theo nhu cầu sản xuất, tiêu
thụ tăng, đòi hỏi phải có công nghệ, máy móc, thiết bị phù hợp để sản xuất ra
các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
hơn 80 triệu dân, cơ cấu dân số trẻ với thu nhập bình quân đầu người tăng
nhanh, tỷ lệ tăng trưởng của kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2008-2010 ước
tính đạt bình quân trên 8%. Trong khi đó, tỷ lệ tiêu thụ bánh kẹo theo bình
quân đầu người ở Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Ở thời điểm
hiện nay, dù đã được cải thiện nhưng tỷ lệ tiêu thụ bánh kẹo của Việt Nam
cũng mới chỉ ở vào khoảng 2 kg/người/năm. Chính những đặc điểm này đã
khiến thị trường bánh kẹo Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn bao giờ hết.
14
Chương 2: Phân tích năng lực cạnh tranh của sản phẩm bánh
kẹo của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà
2.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải
Hà.
2.1.1 Giới thiệu chung về công ty
Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà được thành lập ngày 25/12/1960 đã trải
qua quá trình phát triển gần nửa thế kỷ, từ một xưởng làm nước chấm và ma-
gi đã trở thành một trong những nhà sản xuất bánh kẹo hàng đầu Việt Nam
với qui mô sản xuất lên tới 20.000 tấn sản phẩm/năm.
Các thành tích trong những năm vừa qua của Công ty đã được nhà nước
đánh giá cao thông qua việc được nhận huân chương Độc lập hạng Ba và các
huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.
Trong thời kỳ sau năm 2000 trở lại đây đứng trước những thách thức mới
15
nảy sinh trong quá
trình hội nhập, Công ty đã chủ động đầu tư máy móc thiết
bị tiên tiến sản xuất ra những sản
phẩm có giá trị dinh dưỡng cao như Kẹo
chew, Bánh kem xốp, Bánh xốp có nhân Miniwaf, Bánh dinh dưỡng dành cho
học sinh theo chương trình hợp tác với tổ chức quốc tế Gret và Viện dinh
dưỡng Bộ Y tế, các sản phẩm bổ sung canxi, vitamin hợp tác sản xuất với
hãng Tenamyd