Chuyên đề thực tập GVHD: TH.S Trần Thị Thạch Liên
LỜI MỞ ĐẦU.
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung sang nền kinh tế thị trường chịu sự tác động mạnh mẽ, sâu sắc của các
cuộc khoa học kỹ thuật, toàn cầu hoá, khu vực hoá và phân công lao động trên
toàn thế giới. Trước bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay, đặc biệt với
sự kiện Việt Nam gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới WTO, đánh dấu
bước phát triển mới với những thời cơ và thách thức to lớn. Đứng trước tình hình
đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của
mình và có chiến lược phát triển phù hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của mình.
Như vậy, chiến lược sản phẩm là bánh lái cho hoạt động cạnh tranh trong
nền kinh tế thị trường, nó định hướng cho doanh nghiệp cũng như chỉ ra những
hoạt động, mục tiêu mà đối thủ cạnh tranh đang theo đuổi, từ đó để doanh nghiệp
có những điều chỉnh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình sao cho tận
dụng được các cơ hội bên ngoài và nội lực bên trong doanh nghiệp.
Chiến lược sản phẩm là chiến lược bộ phận góp phần thực hiện thành công
của chiến lược tổng thể. Chiến lược sản phẩm giúp công ty xác định rõ cơ cấu
sản phẩm, cơ cấu sản phẩm hợp lý giúp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh,
tăng khả năng cạnh tranh của công ty. Với tầm quan trọng của chiến lược nói
chung và chiến lược sản phẩm nói riêng, hiện nay được rất nhiều các doanh
nghiệp trong nước cũng như các doanh nghiệp ngoài nước quan tâm. Trong đó
có Công ty Khoá Minh Khai. Nhận thức được tầm quan trọng đó, em mạnh dạn
đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện chiến lược sản phẩm khoá của Công
ty Cổ Phần Khoá Minh Khai” trong chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
1
Lớp: CN 45A SVTH: Vũ Thị Hương.
1
Chuyên đề thực tập GVHD: TH.S Trần Thị Thạch Liên
Kết cấu chuyên đề gồm ba phần:
Chương I: Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Khoá Minh Khai.
nặng nề nên ngừng sản xuất. Ngày 01/04/1973 nhà máy chính thức đi vào sản
xuất với các sản phẩm chính như: ke, khoá, bản lề, chốt… nhưng sản xuất theo
thiết kế của Ba Lan nên sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được do không phù
hợp với nhu cầu của Việt Nam. Năm 1975, nhà máy vừa sản xuất vừa cải tiến kỹ
thuật cho phù hợp với điều kiện và thị trường nội địa.
Giai đoạn 1981 – 1988: Nhà máy sản xuất theo kế hoạch của Bộ Xây
Dựng giao, ngoài những sản phẩm cũ còn có them giàn giáo thép, xe hoàn thiện
bị đạn nghiền… đồng thời còn sản xuất các mặt hàng kim khí phục vụ cho xây
dựng như: cửa xếp, cửa chớp lật, cửa hoa… trong giai đoạn này nhà máy thực
3
Lớp: CN 45A SVTH: Vũ Thị Hương.
3
Chuyên đề thực tập GVHD: TH.S Trần Thị Thạch Liên
hiện hai nhiệm vụ chính: tìm thị trường tiêu thụ ổn định và cải tiến công nghệ vật
tư chủ yếu được nhà nước cung ứng.
Giai đoạn 1989 – 1991: Đây là thời kỳ chuyển mạch từ cơ chế bao cấp
sang cơ chế thị trường, bước đầu có nhiều khó khăn, nhất là đối với ngành sản
xuất tiêu thụ. Không để công nhân nghỉ vì thiếu việc làm, nhà máy quyết tâm
hàng hoá sản xuất ra phải được tiêu thụ hết, đảm bảo đời sống cán bộ công nhân
viên của công ty.
Giai đoạn 1992 đến nay: Ngày 05/05/1993, Bộ trưởng Bộ Xây Dựng ký
quyết định số 163/BXD.TCLD thành lập doanh nghiệp nhà nước với tên gọi:
“Nhà máy Khoá Minh Khai trực thuộc Liên hợp các Xí nghiệp Cơ khí Xây dựng
Bộ Xây Dựng.
Ngày 20/11/1995, Nhà máy Khoá Minh Khai được đổi tên thành Công ty
Khoá Minh Khai theo quyết định số 993/BXD.TCLD của Bộ trưởng Bộ Xây
Dựng, trở thành đơn vị trực thuộc của Tổng Công ty Cơ khí Xây Dựng.
Ngày 07/11/2006, theo Quyết định số 1524/QĐ – BXD, Công ty Khoá
Minh Khai chuyển thành Công ty Cổ phần Khoá Minh Khai, hoạt động trong các
lĩnh vực:
tiếp cận được các thị trường mới, khách hàng mới thì công ty phải tiếp tục cải
tiến thêm về mẫu mã, kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi đem bán trên thị
trường, nghiên cứu thêm thị trường, từ đó có những đổi mới thích hợp, yếu tố kỹ
thuật công nghệ cũng là một trong những nhân tố quan trọng giúp công ty giành
được ưu thế trong cạnh tranh để phát triển thị trường hiện tại cũng như tương lai.
Hiện tại, công ty có gần 100 mẫu khoá các loại chủ yếu phục vụ cho xây
dựng và tiêu dùng. Cụ thể như sau:
5
Lớp: CN 45A SVTH: Vũ Thị Hương.
5
Chuyên đề thực tập GVHD: TH.S Trần Thị Thạch Liên
Khoá các loại gồm 15 kiểu khác nhau
Ke các loại theo 7 kích cỡ và chủng loại.
Bản lề gồm 6 loại
Chốt cửa gồm 6 loại
Cremon gồm 4 loại
Dàn giáo, ống chống cho xây dựng.
Ngoài ra, hiện nay công ty còn tìm cách đa dạng hoá sản phẩm của mình
nhằm tận dụng năng lực sản xuất và tăng doanh thu, phục vụ cho việc mở rộng
quy mô sản xuất.
2. 1.2. Đặc điểm nguyên vật liệu.
Trong thời kỳ bao cấp, công ty được cung cấp nguyên vật liệu theo chỉ tiêu,
sản phẩm sản xuất ra được phân bố tiêu thụ theo kế hoạch của nhà nước. Sự không
đồng bộ, không thường xuyên liên tục trong khâu cung cấp nguyên vật liệu đầu
vào chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sản phẩm đầu ra có chất lượng kém và
không đúng theo tiêu chuẩn. Ở thời kỳ này, do chính sách chung của nhà nước ta
nên việc tiêu thụ sản phẩm không phải là vấn đề lớn đối với công ty. Khi chuyển
sang cơ chế thị trường, tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh đều phải tự tìm đầu ra
cho sản phẩm của mình, nhưng trước tiên, họ phải tìm được nguồn cung ứng của
nguyên vật liệu đầu vào để sản xuất ra sản phẩm, đây là móc xích đầu tiên có ảnh
Một số sản phẩm khác có giá trị lớn, khối lượng sản xuất ít thì khách hàng trực
tiếp đến công ty để mua hàng. Ngoài ra công ty còn có các đại lý trên cả ba miền
Bắc, Trung, Nam.Tại Miền Bắc có khoảng 22 đại lý như: Hà nội, Ninh Bình, Hải
Dương, Tuyên Quang..., Miền Trung có khoảng 6 đại lý như: Huế, Đà Nẵng, Hà
Tĩnh, Quảng Bình, Vinh, Quảng Trị. Miền Nam có khoảng 3 đại lý như: Phú
Xuyên, Đắc Lắc, Pleiku. Hiện tại công ty cũng đang tìm kiếm và mở rộng thêm
thị trường nhưng số lượng vẫn còn hạn chế.
7
Lớp: CN 45A SVTH: Vũ Thị Hương.
7
Chuyên đề thực tập GVHD: TH.S Trần Thị Thạch Liên
Kênh phân phối sản phẩm của công ty.
2. Đặc điểm cơ sở vật chất - kỹ thuật chủ yếu của công ty.
Công ty Cổ phần Khoá Minh Khai được thành lập tương đối lâu, máy
móc, thiết bị công nghệ chủ yếu do Ba Lan tài trợ vào năm 1974. Cho đến nay,
phần lớn máy móc thiết bị đã cũ, lạc hậu và đã hết khấu hao nhưng chúng vẫn
được sử dụng để phục vụ sản xuất. Cụ thể như sau:
Trong mấy năm gần đây, công ty đã thay thế một số máy móc thiết bị cũ,
lạc hậu bằng những máy móc thiết bị mới và hiện đại hơn. Chủ yếu số máy móc
thiết bị này được nhập từ Nhật Bản, Đài Loan... Mặc dù Công ty đã cố gắng nỗ
lực đầu tư nâng cấp máy móc công nghệ nhưng dây chuyền công nghệ vẫn chưa
được đồng bộ, điều này không những ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, khó
có thể cải tiến mở rộng danh mục sản phẩm, nâng cao năng suất lao động, hạ giá
thành sản phẩm vì lượng tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu, giờ công rất lớn mà còn
ảnh hưởng tới môi trường, an toàn lao động cho công nhân viên. Trước tình hình
sản xuất kinh doanh hiện tại cũng như trong thời gian tới để đảm bảo đứng vững
và cạnh tranh thắng lợi trên thị trường đòi hỏi công ty phải có lượng vốn lớn
(ước tính vài chục tỉ đồng).
8
Lớp: CN 45A SVTH: Vũ Thị Hương.
4. Máy dập PMS – 40 Ba Lan 1974 8.808 8.808 0
5. Máy mài mòn SWA –
10
Ba Lan 1974 55.383 55.383 0
6. Máy chuốt BT – 753 Ba Lan 1974 8.266 8.266 0
7. Máy nén khí WE – 52 Ba Lan 1974 13.591 9.638 3.953
8. Máy báo 7A – 36 Ba Lan 1976 31.413 31.413 0
9. Máy hàn CO
2
–
Panasonic
Nhật 1980 31.098 31.098 0
10. Máy xọc 7A – 420 Liên Xô 1982 35.480 35.480 0
11. Máy khoan lỗ lõi
khoá
Đài Loan 1994 82.254 14.680 67.574
12. Máy khoan đứng 2A –
125T
Liên Xô 1996 15.500 6.217 8.734
13. Máy cưa cần 85 – 72 Liên Xô 1997 12.670 3.936 8.734
14. Máy chuốt lõi Đài Loan 1997 268.951 48.033 220.910
( Nguồn: Phòng Kỹ thuật )
Đây là một thực tế hết sức khó khăn đối với Công ty vì khoản lợi nhuận
hàng năm từ sản xuất kinh doanh còn rất khiên tốn, doanh thu tập trung chủ yếu
vào những tháng cuối năm, còn những tháng đầu năm( khoảng tháng 2) sản xuất
thường bị ngưng trệ do sản phẩm khó tiêu thụ hơn. Từ đó có thể thấy, nếu công
ty không có sự hỗ trợ của nhà nước, tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi trong và
9
Lớp: CN 45A SVTH: Vũ Thị Hương.
9
phân công hoặc uỷ quyền.
Phòng kỹ thuật:
Chức năng chủ yếu của bộ phận này là quản lý công
tác kỹ thuật sản xuất trong toàn công ty. Nhiệm vụ cụ thể là:
10
Lớp: CN 45A SVTH: Vũ Thị Hương.
10
Chuyên đề thực tập GVHD: TH.S Trần Thị Thạch Liên
- Nghiên cứu chế tạo và thiết kế các sản phẩm khuôn mẫu, nghiên cứu
khoa học kỹ thuật sản xuất, xây dựng chiến lược sản phẩm của công ty.
- Xây dựng và quản lý các định mức kinh tế kỹ thuật, tiêu chuẩn, chất lượng
sản phẩm, quy cách mặt hàng. Tổ chức quản lý và đánh giá các sáng kiến cải tiến
kỹ thuật, kiểm tra xác định trình độ tay nghề cho công nhân trong công ty.
- Lập kế hoạch đầu tư trang thiết bị sản xuất, kế hoạch sửa chữa, tu bổ
máy móc trong toàn công ty.
Phòng Tài vụ:
Tham mưu cho Giám đốc về công tác quản lý, huy động
và sử dụng vốn, công tác quản lý và hạch toán của công ty, kiểm tra giám sát
toàn bộ hoạt động kế toán trong toàn công ty. Nhiệm vụ cụ thể là:
- Xây dựng kế hoạch tài chính, tổ chức thực hiện các nguồn vốn phục vụ
sản xuất kinh doanh.
- Tổ chức công tác hạch toán kế toán trong công ty theo pháp lệnh về kế
toán thống kê do Nhà nước quy định.
- Giám sát các hoạt động kinh tế - tài chính, các hợp đồng kinh tế về giá
bán sản phẩm.
- Thực hiện công tác thanh toán trong nội bộ, các đối tác có quan hệ kinh
Bộ phận Bảo vệ:
Có chức năng và nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho toàn bộ
tài sản của công ty. Xây dựng kế hoạch, biện pháp bảo vệ, tổ chức công tác dân
quân tự vệ và phòng cháy chữa cháy của công ty.
Trạm y tế:
Có nhiệm vụ chăm lo sức khoẻ cho toàn bộ cán bộ công nhân viên,
tổ chức khám chữa bệnh cho nhân viên và con em, theo dõi bệnh nghề nghiệp,
thực hiện giải quyết việc nghỉ ốm cho người lao động, tham gia công tác vệ sinh
môi trường, công tác kế hoạch hoá gia đình.
12
Lớp: CN 45A SVTH: Vũ Thị Hương.
12
Chuyên đề thực tập GVHD: TH.S Trần Thị Thạch Liên
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÔNG TY.
TỔNG GIÁM ĐỐC
Phó Tổng giám đốc
Kỹ thuật
Phòng
Kế hoạch
Phòng
Tổ chức
Phòng
Kế toán
Phòng
Kỹ thuật
động có tay nghề càng tăng lên. Điều này chứng tỏ công ty đã không ngừng nâng
cao trình độ của đội ngũ cán bộ và đội ngũ lao động, việc đào tạo tay nghề cho
người lao động luôn là tiêu chí hàng đầu trong chính sách phát triển chung của
công ty. Bên cạnh đó, công ty còn khuyến khích tất cả các thành viên tham gia
các lớp học và đào tạo ngắn hạn nhằm nâng cao tay nghề cho lao động đồng thời
mở rộng tâm hiểu biết, từ đó có cái nhìn mới mẻ hơn về thị trường, khách hàng
và sự vận động chung của nền kinh tế, điều này cũng đã góp phần đáng kể vào
việc tìm hiểu, nghiên cứu và tiếp cận thị trường mới, về sản phẩm, khách hàng
và về phương thức quản lý, tổ chức tiêu thụ sản phẩm một cách hợp lý. Đây cũng
là một trong những thế mạnh mà các nhà quản trị cần khai thác, nhằm tận dụng
tối đa thế mạnh, phát triển thị trường bằng chính năng lực và trình độ của mình.
Bảng 2: KẾT CẤU TRÌNH ĐỘ CÔNG NHÂN SẢN XUẤT TRỰC TIẾP.
14
Lớp: CN 45A SVTH: Vũ Thị Hương.
14
Chuyên đề thực tập GVHD: TH.S Trần Thị Thạch Liên
Năm
Bậc thợ
2002 2003 2004 2005
SL % SL % SL % SL %
Bậc 1 108 40.5 123 40.33 124 44.84 127 41.81
Bậc 2 50 18.73 59 19.34 45 15.05 44 14.47
Bậc 3 46 17.23 51 16.72 40 13.37 51 16.77
Bậc 4 45 16.85 48 15.74 48 16.05 40 16.11
Bậc 5 8 2.99 10 3.28 16 5.35 17 5.59
Bậc 6 6 2.25 10 3.28 10 3.34 10 3.28
Bậc 7 4 1.45 4 1.31 6 2 6 1.97
Bậc TB 2.36 2.374 2.341 2.32
Tổng LĐSXTT 290 341 299 304
( Nguồn: phòng TC – HC )
đoạn gia công là các chi tiết dưới dạng hoàn chỉnh chuyển sang bộ phận lắp ráp.
Giai đoạn lắp ráp (giai đoạn hoàn thiện sản phẩm): Các chi tiết được lắp
ráp tạo thành sản phẩm, đưa đi đóng gói và chuyển vào kho thành phẩm.
16
Lớp: CN 45A SVTH: Vũ Thị Hương.
16
Chuyên đề thực tập GVHD: TH.S Trần Thị Thạch Liên
Phân xưởng cơ điện làm nhiệm vụ sửa chữa thường xuyên, trung đại tu
máy móc cả phần cơ và phần điện. Phân xưởng này đảm bảo cho các phân
xưởng kia làm việc thường xuyên.
Kho vật tư
Kho bán thành phẩm
Kho bán thành phẩm
Chi tiết BTP gia công
Kho thành phẩm
Khoá là sản phẩm mang tính tiêu chuẩn hoá cao trong toàn bộ quá trình sản
xuất, từ chủng loại, kích cỡ, mẫu mã cho đến chất lượng. Để tạo ra được một sản
phẩm khoá hoàn chỉnh thì cần mất nhiều thời gian, qua nhiều công đoạn và nhất là
đòi hỏi người công nhân phải có trình độ và tay nghề cao. Chính vì vậy, vai trò của
bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm là hết sức quan trọng, đòi hỏi người giám
định chất lượng phải có kiến thức chuyên môn nhất định, tỉ mỉ cặn kẽ về kỹ thuật, tỉ
mỉ từ chi tiết nhỏ nhất đến chi tiết lớn nhất để khi sản phẩm hoàn thành sẽ giảm
thiểu được đến mức thấp nhất những sai sót do lỗi kỹ thuật gây ra.
III. KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH.
1. Tình hình sản xuất kinh doanh
Tình hình tài chính của công ty đã có sự chuyển biến tăng dần, cơ cấu vốn
tương đối ổn định. Vốn ngân sách cấp không thay đổi nhưng vốn tự bổ sung thì
tăng dần qua các năm. Công ty cần tìm hướng giải quyết sao cho giảm dần vốn
vay để giảm đi việc phải trả lãi vay vốn.
Bảng 3: NGUỒN VỐN KINH DOANH CỦA CÔNG TY
8.070.098,66
8.599.253,33
4
10.120.430
2 Vốn cố định
5.319.265,32
5
5.997.133,85
1
5.739.433,011 10.305.072
2.1
Vốn ngân sách
cấp
1.868.668 1.868.668 1.868.668 1.868.668
2.2 Vốn vay đầu tư 2.036.383 2.456.714 2.012.639 3.636.683
2.3 Vốn vay khác 635.459 843.193 997.201 1.135.495
2.4 Vốn tự bổ sung 778.455,324 808.531.851 857.295,011 3.664.262
Trong kinh doanh thì lợi nhuận là kết quả cuối cùng của doanh nghiệp, là
cơ sở để xác định các chỉ tiêu chất lượng nhằm đánh giá quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực, các yếu tố đầu vào. Từ đó
có những biện pháp điều chỉnh nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Bảng 4: KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY
Đơn vị tính: 1000 đ
STT Các chỉ tiêu
Năm
2001 2002 2003 2004 2005
1 Doanh thu
14.044.882
16.038.75
0 480.784 476.259 412.325 512.683
9 LN từ HĐTC
52 -480.784 -475.197 -410.802 -510.670
10 TN bất thường
105.821 0 0 104.236 0
11 CP bất thường
0 0 0 69.312 0
12 LN bất thường
105.821 0 0 31.924 0
13 Tổng LNTT
70.323 92.884 101.112 345.691 355.654
14 Thuế TNDN
17.580 23.221 25.278 96.793 99.583
15 LN sau thuế
52.742 69.663 75.834 248.898 256.071
( Nguồn: Phòng TC – KT )
Những năm qua, tuy gặp phải không ít những khó khăn nhất định nhưng
với bề dày kinh nghiệm và sự cố gắng nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân
viên, công ty đã khắc phục được những tồn tại và đạt được những kết quả khả
quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
19
Lớp: CN 45A SVTH: Vũ Thị Hương.
19
Chuyên đề thực tập GVHD: TH.S Trần Thị Thạch Liên
Qua biểu trên ta có thể thấy doanh thu của công ty trong những năm qua
đều tăng với tỉ lệ đáng kể đặc biệt là từ năm 2003 đến 2004, đây là dấu hiệu đáng
mừng đối với công ty, nó cho thấy các chính sách mà công ty đưa ra là đúng đắn
và phù hợp với đặc điểm của công ty cũng như nhu cầu của thị trường.
Chi phí bán hàng là khoản chi phí trực tiếp liên quan đến hoạt động bán hàng
của công ty và cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty.
Trả tiền phạt vi phạm
Quỹ dự phòng TC
10%
Chia lãi cổ phần
22%
Quỹ đầu tư PT
58%
Trích lập các quỹ của DN
Quỹ khen thưởng phúc lợi
10%
21
Lớp: CN 45A SVTH: Vũ Thị Hương.
Trừ các
khoản
chi phí
đã phát
sinh
Lợi nhuận sau thuế
21
Chuyên đề thực tập GVHD: TH.S Trần Thị Thạch Liên
Chương II.
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC SẢN
PHẨM KHOÁ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KHOÁ MINH KHAI.
I. PHÂN TÍCH QUY TRÌNH XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH
SẢN PHẨM KHOÁ CỦA CÔNG TY KHOÁ MINH KHAI.
1. Vị trí chiến lược sản phẩm tại Công ty Khoá Minh Khai.
Chiến lược sản phẩm là chiến lược trung tâm của chiến lược phát triển
doanh nghiệp, nó đóng vai trò quyết định sự phát triển và khả năng cạnh tranh
của công ty. Chiến lược sản phẩm chỉ ra các chương trình, kế hoạch cũng như
tầm nhìn của Công ty tới năm 2010.
tranh với đối thủ của mình, đồng thời nó cũng chứng tỏ những thách thức với các
đối thủ cạnh tranh.
Không chỉ là tận dụng các cơ hội bên ngoài mà phải phát huy tối đa các
nguồn lực bên trong doanh nghiệp nhằm tạo lợi thế cho riêng mình, phát huy
được các ưu điểm của doanh nghiệp đồng thời hạn chế các khuyết điểm. Một
doanh nghiệp khi mất lợi thế thì sản phẩm cũng sẽ bị mất đi tính cạnh tranh. Như
vậy việc tiêu thụ sản phẩm sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều vì các đối thủ cạnh
tranh của mình luôn tranh thủ mọi cơ hội để có thể loại bỏ doanh nghiệp ra khỏi
thị trường và chiếm lấy thị phần mà doanh nghiệp mình đang chiếm giữ. Đó đó,
các doanh nghiệp phải luôn cố gắng nỗ lực, không chỉ để mở rộng thị trường mà
còn để giữ được phần thị trường hiện tại.
23
Lớp: CN 45A SVTH: Vũ Thị Hương.
23
Chuyên đề thực tập GVHD: TH.S Trần Thị Thạch Liên
5. 2.2. Chủ động tìm kiếm cơ hội và dự báo trước nhu cầu tương lai.
Ngày nay áp lực từ việc cạnh tranh là hết sức lớn, nó biểu hiện ở việc nếu
doanh nghiệp không đứng vững được trước những áp lực đó thì sẽ bị loại khỏi
cuộc chơi và sản phẩm biến mất khỏi thị trường. Với áp lực không chỉ tạo ra bởi
các đối thủ cạnh tranh của mình mà còn từ các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và nhất
là từ các sản phẩm thay thế, từ nhà cung ứng, mức độ tập trung hay phân tán của
khách hàng. Tất cả những yếu tố trên buộc doanh nghiệp phải luôn chủ động
trong mọi tình huống, để có thể kịp thời phát hiện ra tất cả những áp lực đó và
chuyển thành các cơ hội cho doanh nghiệp mình.
Ngày nay, nhu cầu càng ngày càng đa dạng, các sản phẩm sản xuất ra ngày
càng phong phú về chủng loại hình thức cũng ứng, chất lượng cũng ngày càng
cao, kiểu dáng mẫu mã phong phú, song khồn phải vậy là các doanh nghiệp có
thể thoả mãn được hết toàn bộ thị trường, một doanh nghiệp biết phát hiện cơ hội
tức là phải biết tìm ra được những thị trường ngách mà đổi thủ cạnh tranh chưa
thâm nhập vào. Chỉ có thế thì doanh nghiệp mới dần có thể đương đầu được với
để công ty có thể tập trung vào nghiên cứu, tìm kiếm những cơ hội mới, thị
trường mới mà đối thủ chưa kịp vươn tới.
Song việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh phải gắn liền
với vấn đề nâng cao về chất lượng sản phẩm cũng như kiểu dáng, mẫu mã của
sản phẩm đó, đồng thời do nhu cầu ngày càng đa dạng về snả phẩm nên công ty
cũng phải đa dạng hoá các chủng loại sản phẩm để thoả mãn các đoạn thị trường
khác nhau của doanh nghiệp.
25
Lớp: CN 45A SVTH: Vũ Thị Hương.
25