1
Luận văn
Chính sách chất lượng của Công ty may Thăng
Long là cung cấp các sản phẩm tốt nhất thông
qua việc liên tục đổi mới hệ thống quản lý chất
lượng nhằm không ngừng nâng cao sự thoả
mãn của các bên có liên quan2
Lời nói đầu
Công ty may Thăng Long được thành lập ngày 08/05/1958. Đây là công ty
may mặc xuất khẩu đầu tiên của Việt Nam. Trải qua những khó khăn gian khổ
nhưng công ty đã đạt được nhiều thành công qua từng chặng đường cùng Thủ đô Hà
Nội và cả nước, Công ty may Thăng Long ngày càng phát triển và trưởng thành.
Trước đây, trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, công ty là đầu tàu của
ngành may mặc Việt Nam luôn hoàn thành những chỉ tiêu kế hoạch mà nhà nước
giao cho. Sau khi nhà nước thực hiện chính sách mở cửa, xoá bỏ cơ chế cũ chuyển
sang cơ chế thị trường thì các doanh nghiệp nói chung và Công ty may Thăng Long
nói riêng vừa có thêm nhiều cơ hội vừa phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt và
quyết liệt. Do vậy để tồn tại và phát triển Công ty may Thăng Long phải năng động
sáng tạo tìm ra những giải pháp riêng phù hợp với môi trường kinh doanh mới.
Hiện nay ngành may mặc ở nước ta là một trong những ngành mũi nhọn. Số
lượng các doanh nghiệp may tham gia vào thị trường ngày càng nhiều, tốc độ tăng
ngày càng lớn, do đó quy mô hoạt động của thị trường đã tăng lên và có sự cạnh
phe XHCN lúc bấy giờ, đó là bức “thông điệp” cụ thể giới thiệu sự năng động, tài
hoa, cần cù chịu khó của công nhân Việt Nam, báo hiệu một triển vọng và tương lai
tươi sáng của ngành may mặc Việt Nam trong tương lai. Ngoài ra, công ty cũng còn
thu hút được nhiều lao động thủ công làm ăn cá thể, bước đầu làm quen với quan hệ
sản xuất mới XHCN, đề cao vai trò tập thể, mọi người gắn bó trách nhiệm với công
ty.
2. Khó khăn và thuận lợi ban đầu:
Sau ngày thành lập Ban chủ nhiệm công ty xác định 3 nhiệm vụ trọng tâm:
- Liên hệ các khu nội, ngoại thành Hà Nội tổ chức các cơ sở gia công may mặc
cho công ty.
- Chuẩn bị điều kiện vật chất như: Vốn, nguyên vật liệu, dụng cụ sản xuất và
nhân lực có tay nghề bổ sung vào công ty.
- Mang mẫu sản phẩm gửi sang Liên Xô chào hàng để sớm kí kết hợp đồng
xuất khẩu.
Lúc bấy giờ, công ty đã tập hợp được từ các cơ sở gai công khoảng 2.000 thợ
may và khoảng 1.700 máy may. Và thành lập các tổ may, mỗi tổ có từ 12 đến 15
máy. Chọn thợ có trình độ khá và có tinh thần trách nhiệm bố trí vào những bộ phận
yêu cầu kĩ thuật cao phụ trách tổ. 4
Ngay từ ban đầu Ban lãnh đạo công ty đều thống nhất biện pháp lấy chất
lượng sản phẩm là vấn đề sống còn của một cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu. Do vậy
chính sách của công ty là phải chú trọng yếu tố chất lượng sản phẩm, lấy uy tín với
bạn hàng, tổ chức sản xuất sao cho đúng tiến độ. Ngày đầu bước vào sản xuất công
ty gặp không ít khó khăn, nhất là không đủ chỗ cho các bộ phận sản xuất. Do vậy
công ty đã dời chuyển địa điểm về 40 - Phùng Hưng. Có chỗ làm việc rộng rãi hơn
trước nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu sản xuất, nên bộ phận đóng gói, đóng
hòm phải phân tán về 17 - phố Chả Cá và phố Cửa Đông. Tuy vậy ở những địa
điểm mới này nhiều khi công nhân vẫn phải căng bạt ra hè làm ca đêm cho kịp kế
Từ 1969 đến 1975: Được bộ chủ quản cho phép, tháng 07/1961 công ty
chuyển địa điểm làm việc về số 250 - Minh Khai - Hà Nội, là trụ sở chính của công
ty ngày nay. Địa điểm mới có nhiều thuận lợi, mặt bằng rộng rãi, tổ chức sản xuất
ổn định. Các bộ phận phân tán trước nay thống nhất thành một mỗi tạo thành dây
chuyền sản xuất khép kín hoàn chỉnh, từ khâu nguyên liệu, cắt may, là, đóng gói.
Ngày 31/08/1965, Công ty may mặc xuất khẩu đổi tên thành Xí nghiệp may mặc
xuất khẩu. Mặc dù gặp nhiều khó khăn do chiến tranh và hậu quả chiến tranh, xí
nghiệp (XN) vẫn liên tục đầu tư thêm nhiều máy móc thiết bị mới để luôn nâng cao
năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm may mặc xuất khẩu của công ty.
XN đã thay thế máy đạp chân bằng máy may công nghiệp, trang bị thêm máy móc
chuyên dùng như máy thùa, máy đính cúc, máy cắt gọt, máy dùi dấu…Mặt bằng sản
xuất được mở rộng, dây chuyền sản xuất đã lên tới 27 người, năng suất áo sơ mi đạt
9 áo/người/ca. Vì thế tình hình sản xuất những năm 1973 - 1975 đã có những bước
tiến bộ rõ rệt. Tuy nhiên, do có nhiều khó khăn không thể khắc phục dược năm
1972 XN chỉ đạt 67,7% chỉ tiêu kế hoạch với 2.084.643 sản phẩm.
Năm 1973: giá trị tổng sản lượng đạt 5.696.900 đồng, với tỷ lệ 100,77%, vượt
hơn năm 1972 là 166,7%.
Năm 1974: tổng sản lượng đạt 5.005.608 sản phẩm, giá trị tổng sản lượng
6.596.036 đồng, đạt 102,28%.
Năm 1975: tổng sản lượng lên tới 6.476.926 sản phẩm, đạt 104,36%. Giá trị
tổng sản lượng 7.725.958 đồng, đạt 102,27% so với kế hoạch.
Từ năm 1975 đến 1980: Thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp chống Mĩ cứu nước đã
mở ra cho dân tộc ta một thời kì mới, thời kì cả nước thống nhất, đi lên CNXH.
Trong thời kì này XN đã tập trung vào một số hoạt động chính sau: Xây dựng nội
quy XN và triển khai thực hiện là một đơn vị thí điểm của toàn ngành may. Trang bị 6
thêm 84 máy may bằng và 36 máy 2 kim 5 chỉ thay cho 60 máy cũ, 1 máy ép có
công suất lớn. Nghiên cứu chế tạo 500 chi tiết gá lắp làm cữ, gá cho hàng sơ mi,
7
nước XHCN như Đông Âu, Đông Đức sụp đổ đã làm cho thị trường của XN có
nhiều biến động lớn. Đứng trước khó khăn đó Đảng uỷ và Ban giám đốc đã đi đến
quyết định: Phải chuyển hướng sản xuất và tìm thị trường mới phải đáp ứng bằng
chính chất lượng của mình. XN đã quyết định đầu tư hơn 20 tỷ đồng thay thế thiết
bị cũ trang bị thêm một số máy móc hiện đại, nâng cao trình độ công nghệ đủ khả
năng sản xuất mặt hàng mới cao cấp, đồng thời phải tổ chức sắp xếp lại sản xuất,
cải tiến các mặt quản lý cho phù hợp với yêu cầu mới, đào tạo đội ngũ cán bộ công
nhân viên, XN không ngừng đẩy mạnh tiếp thị, chủ động tìm kiếm khách hàng, tháo
gỡ những khó khăn về tiêu thụ cũng như mở rộng chủng loại mặt hàng.
Ngày 08/02/1991, XN là đơn vị đầu tiên trong ngành may được nhà nước cấp
giấy phép xuất khẩu trực tiếp, tạo thế chủ động, giảm phiền hà, tiết kiệm chi phí.
Tiếp đến, ngày 04/03/1992 Bộ công nghiệp nhẹ đã kí quyết định chuyển Xí nghiệp
may Thăng Long thành Công ty may Thăng Lông, tên giao dịch là Thang Long
Garment Company (Thaloga), với nhiều nhiệm vụ sản xuất kinh doanh: Gia công
hàng may mặc xuất khẩu, hàng nội địa, gia công hàng thêu mài. Hàng năm, công ty
sản xuất từ 8 triệu đến 9 triệu sản phẩm, trong đó hàng xuất khẩu chiếm khoảng
95%, sản phẩm gia công chiếm từ 80% đến 90%. Năm 1993 công ty thành lập
Trung tâm thương mại và giới thiệu sản phẩm tại 39 - Ngô Quyền - Hà Nội. Năm
1995, công ty thực hiện phương thức kinh doanh “mua đứt bán đoạn” đạt 21,200 tỷ
đồng, chiếm 43,26% doanh thu. Trong đó giá trị xuất khẩu FOB đạt 13,702 tỷ đồng
chiếm 28% doanh thu.
Năm 1996 doanh thu đạt 101% so với kế hoạch.
Năm 1997 công ty vượt kế hoạch 108% với tổng doanh thu 218.306 triệu USD
và đảm bảo thu nhập bình quân 735.745 đồng/người/tháng.
Cho đến nay sau 45 năm phát triển, Công ty may Thăng Long đã có thị trường
ổn định, rộng lớn cả trong nước và trên thế giới. Trong quá trình sản xuất, tiêu thụ
đẩm bảo có lãi và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước. Thành tích đó đã được
ghi nhận qua những tấm huân, huy chương cao quý:
Hồng (từ tháng 7/1988 đén nay). Tổng giám đốc có nhiệm vụ chịu trách nhiệm
chung trước Tổng công ty về tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị mình.
Phó tổng giám đốc điều hành kĩ thuật: có chức năng tham mưu giúp việc cho
Tổng giám đốc, chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về việc thiết lập mỗi quan hệ
với các bạn hàng, với các cơ quan quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, tổ chức
nghiên cứu mẫu hàng và các loại máy móc kĩ thuật, triển khai giấy phép xuất nhập 9
khẩu như: tham mưu kí kết hợp đồng gia công, xin giấy phép xuất nhập khẩu, tiếp
nhận nguyên phụ liệu, mở tờ khai hải quan, giao cho khách hàng…
10
xuất
Phòng
kế
hoạch
sản
xuất
Phòng
kho
P
hòng
cung
ứng
Văn
phòng
Phòng
kế
toán
tài vụ
Phòng
thị
trường
Phòng
kinh
doanh
nội địa
TTTM
CHTT
&
GTSP
GĐ các xí nghiệp
Sơ đồ 1: Mô hình bộ máy quản lý của Công ty may Thăng Long
12
Phó tổng giám đốc điều hành sản xuất: có chức năng tham mưu, giúp việc
cho Tổng giám đốc, chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về việc lập và báo cáo
tình hình sản xuất kinh doanh của công ty.
Phó tổng giám đốc điều hành nội chính: có chức năng tham mưu giúp việc
cho Tổng giám đốc, chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về việc sắp xếp các
công việc của công ty, có nhiệm vụ trực tiếp điều hành công tác lao động, tiền
lương, bảo hiểm, y tế, tuyển dụng, đạo tạo cán bộ, chăm lo đời sống cho cán bộ
công nhân viên.
Phòng kĩ thuật: Có nhiệm vụ thiết kế mẫu mã, lập định mức, tiêu chuẩn kĩ
thuật, chịu trách nhiệm về kĩ thuật của quy trình công nghệ.
Phòng KCS: kiểm tra chất lượng sản phẩm, kiểm tra các loại nguyên vật liệu
nhập kho, các bán thành phẩm và thành phẩm.
Phòng thiết kế và phát triển: có nhiệm vụ thiết kế mẫu mã của sản phẩm để từ
đó đưa vào kế hoạch sản xuất.
Phòng chuẩn bị sản xuất: Chức năng của phòng là tổ chức tiếp nhận và vận
chuyể nguyên phụ liệu từ phương tiện vận chuyển xuống kho, đảm bảo số lượng
chất lượng của hàng hoá nhập về. Phòng có trách nhiệm bảo quản hàng hoá có trong
kho, quản lý và tổ chức sắp xếp khoa học hợp lý.
Phòng kế hoạch sản xuất: có chức năng thiết lập các kế hoạch sản xuất dựa
trên nhu cầu các hợp đồng đã ký kết và chịu trách nhiệm trong các lĩnh vực cung
ứng vật tư kĩ thuật, quản lý vật tư, tiến độ kế hoạch sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ.
Phòng kho: có nhiệm vụ quản lý và cấp phát nguyên vật liệu nhập về công ty.
Phòng kho quản lý và bảo quản các thành phẩm do các XN sản xuất ra và chờ thời
gian giao hàng cho khách hàng.
thiết kế và sản xuất ra đáp ứng nhu cầu may mặc thời trang đang tăng nhanh của
người tiêu dùng. Ngoài ra, các cửa hàng còn có nhiệm vụ tìm hiểu và cung cấp các
thông tin về nhu cầu, thị hiếu, mẫu mã hợp thời trang, hợp giá cả thị trường trong
nước để sản xuất và tiêu thụ cho phòng kinh doanh nội địa, xây dựng các chiến
lượcp, mở rộng khả năng tiếp cận với thị trường trong nước để tìm khách hàng.
2. Cấp xí nghiệp:
Đứng đầu là các Giám đốc XN. Ngoài ra còn có các tổ trưởng sản xuất, nhân
viên tiền lương thống kê, cấp phát nguyên vật liệu…
14
- Các XN có nhiệm vụ tổ chức triển khai sản xuất theo đúng kế hoạch của
công ty, chịu trách nhiệmvề tổ chức, quản lý cán bộ công nhân viên, nhà xưởng máy
móc thiết bị, phương tiện sản xuất …chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm.
- XN phụ trợ: gồm 1 phân xưởng thêu, 1 phân xưởng mài có nhiệm vụ thêu
mài ép đối với những sản phẩm cần gia công và trùng tu, đại tu máy móc thiết bị.
Ngoài ra, XN này còn có nhiệm vụ quản lý và cung cấp điện năng, điện nước cho
các đơn vị sản xuất kinh doanh của công ty,xây dựng các kế hoạch dự phòng, thay
thế thiết bị…
III- Thực trạng kinh doanh của Công ty may Thăng Long:
1. Nguồn lực sản xuất:
Là doanh nghiệp của nhà nước nên vốn của công ty chủ yếu là do nhà nước
cấp. Ngoài ra nguồn vốn của công ty chủ yếu còn được hình thành từ nguồn vốn
vay ngân hàng, vốn góp của các thành viên. Chính vì vậy, vốn của công ty trong
những năm qua tăng đáng kể, trong đó phần lớn là vốn đi vay sở hữu và vốn rót từ
Tổng công ty xuống. Cơ cấu vốn của công ty thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Tình hình vốn của công ty:
(đơn vị: 1000đ)
Năm 1999 2000 2001 2002
Bảng 2: Tình hình lao động của công ty:
(đơn vị: 1000 đồng/người/tháng)
Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Số lao động 2.000
1.996
2.000
2.165
2.350
2.956
Thu nhập
BQ
735
835
920
1.000
1.100
1.100
(Nguồn: Ban tổ chức hành chính Công ty may Thăng Long)
N¨m
1998
N¨m
1999
N¨m
2000
N¨m
2001
N¨m
2002
Sè lao ®éng (ngêi)
TNBQ
(1000®ång/ngêi/th¸ng)
16
39 Ngô
Quyền
Tràng tiền 25 Bà triệu
Ngoài 39
Ngô Quyền
Các đại lý
khác
Doanh
thu
258397400 2686744800 914800100 1097002900
8498122300 93499200
Thị trường xuất khẩu của công ty chia thành 2 loại: có hạn ngạch và phi hạn
ngạch. Thị trường có hạn ngạch bao gồm thị trường EU, Canada, Mỹ… công ty chỉ
17
đáp ứng được 40% năng lực sản xuất. Chính vì vậy nhiều khi công ty phải xin thêm
quota xuất khẩu thậm chí còn mua quota của doanh nghiệp khác để tăng lượng xuất
khẩu. Thị trường phi hạn ngạch như Nhật, Hàn Quốc, Hồng Kông…sản lượng xuất
khẩu vào thị trường này phụ thuộc vào sự kí kết được các hợp đồng và năng lực sản
xuất. Hai loại thị trường này đều đòi hỏi khắt khe về kĩ thuật, chất lượng sản
phẩm…
Sản phẩm chính của công ty bao gồm: áo sơ mi cộc tay, áo sơ mi dày tay, sơ
mi bò, quần soóc kaki, quần dài tuytsi, áo jăckét, áo măngtô, quần jeans, áo bò…sản
phẩm của công ty đáp ứng hầu hết mọi nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng từ già
đến trẻ, từ model này đến model khác. Và sản phẩm của công ty được người tiêu
dùng bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao. Trong những năm tiếp theo công
ty có kế hoạch đầu tư trang thiết bị để cho ra đời những sản phẩm không những chỉ
Chi tiết Đơn vị 2000 2001 2002 2003
1 Giá trị SX công nghiệp Tr.đ 47.560 55.683 65.050 74.306
2 Tổng doanh thu Tr.đ 112.170 130.378 156.388 172.310
Doanh thu xuất khẩu Tr.đ 90.845 108.854 132.508 152.286
FOB Tr.đ 63.131 71.636 97.250 114.932
Hình thức khác Tr.đ 27.714 37.218 35.258 37.354
Doanh thu nội địa Tr.đ 21.325 21.524 23.880 20.024
3 Giá vốn + chi phí Tr.đ 106.866 123.482 147.840 158.236
4 Lợi nhuận trươc thuế Tr.đ 5.304 6.896 8.548 14.074
5 Nộp ngân sách Tr.đ 3.370 3.470 3.820 5.175
VAT Tr.đ 2.085 2.152 2.388 1.910
Thuế TNDN Tr.đ 619 577 848 2.814
Thuế khác Tr.đ 666 741 584 451
6 Lợi nhuận sau thuế Tr.đ 1.934 3.426 4.728 8.899
7 Lao động Người 2.165 2.495 2.966 3.800
8 Thu nhập BQ/tháng 1000đ 1.000 1.100 1.100 1.300
Nhìn vào bảng ta thấy kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty may Thăng
Long ngày càng có hiệu quả, đóng góp ngày càng lớn vào ngân sách của nhà nước.
Giá trị sản xuất công nghiệp tăng từ 47.560 tr.đ (năm 2000) lên 74.306 tr.đ (năm
2003). Doanh thu của công ty năm 2000 là 112.170 tr.đ đến năm2003 là 172.310
tr.đ, tuy nhiên doanh thu hàng nội địa chiếm tỷ trọng không lớn chiếm 19,01% (năm
2000) và 11,07% (năm 2003) do đó có sự chênh lệch lớn giữa 2 chỉ tiêu này. Nộp
19
ngân sách cũng tăng theo từng năm làm lợi cho nhà nước hàng tỷ đồng (3.370 tr.đ
20
Công ty làm ăn có hiệu quả như vậy cho nên đã giải quyết công ăn việc làm
cho một số lượng lớn người lao động. Hiện nay đội ngũ cán bộ CNV của công ty
gần 4000 người. Ngoài ra công ty có hệ thống mạng lưới đại lý rộng khắp cả nước
đã tạo việc làm cho hàng nghìn lao động tại địa phương. Doanh thu hàng năm của
công ty là rất lớn, cho nên đóng góp vào việc tăng ngân sách cho nhà nước. Bên
cạnh đó công ty còn bảo đảm quyền lợi cho người lao động, xây dựng những ngôi
nhà tình thương, chăm sóc gia đình chính sách…
2. Những tồn tại:
Tuy công ty có những ưu điểm trên nhưng công ty vẫn còn những mặt tồn tại
như sau:
Tỷ trọng hàng xuất khẩu và tiêu thụ nội địa có sự chênh lệch rất lớn. Từ 80%
đến 90% doanh thu là hàng xuất khẩu, còn lại là hàng nội địa. Điều đó chứng tỏ
trong những năm qua công ty chưa coi trọng thị trường nội địa.
Trong mấy năm gần đây thị trường tiêu thụ nội địa có tăng lên, nhưng số
lượng cửa hàng và đại lý của công ty phân bố không đều, tập trung khá lớn ở miền
Bắc, nhất là Hà Nội. Tạo nên sự mất cân đối và đôi khi còn tạo ra sự cạnh tranh về
bán hàng của các đại lý trên cùng một địa bàn.
Công tác quản lý thị trường chưa được chặt chẽ. Trên thị trường còn có nhiều
sản phẩm nhái nhãn hiệu của công ty, chất lượng không đảm bảo, gây mất uy tín
của công ty. Mặt khác, việc quản lý các đại lý chưa có những ràng buộc cụ thể đối
với họ, cho nên có nhiều cửa hàng, đại lý mượn uy tín của công ty để tiêu thụ sản
phẩm của hãng khác hoặc tự động bán với giá cao hơn làm thiệt hại cho khách
hàng, giảm uy tín của công ty.
Giá cả của sản phẩm công ty là tương đối cao. Sản phẩm của công ty đa số
phục vụ cho những đối tượng có thu nhập từ trung bình trở lên, chiến lược giá của
công ty chưa nhằm vào đối tượng là khách hàng có thu nhập thấp. Bởi vì, nguồn
đáp ứng kịp thời nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng công ty sẽ tổ chức nghiên cứu
thiêt kế mẫu mã và thời trang cho cả thị trường xuất khẩu và thị trường nội địa.
- Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng các khâu thiết yếu để phục vụ sản xuất
kinh doanh. Công ty chủ trương xây dựng các nhà máy sản xuất các phụ kiện nghề
may như: khuy, nhãn, mác, khoá kéo, bao bì các loại. Xây dựng trung tâm thương
mại phục vụ cho hoạt động thiết kế và trình diễn thời trang.
- Chiếm lĩnh thị trường trong nước, ổn định và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Thị trường nội địa, công ty xác định là thị trường đầy tiềm năng vừa tiêu thụ 1
lượng sản phẩm lớn lại góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong
22
nước. Đối với thị trường xuất khẩu, công ty chú trọng quan hệ hợp tác song với các
đối tác nước ngoài nhằm phát huy các thế mạnh của mình như nguồn nhân
lực…Bên cạnh việc duy trì củng cố và phát triển thị trường hiện có như Mỹ, Hàn
Quốc, Nhật Bản, EU…mục tiêu đến năm 2010 là mở rộng đến các thị trường như
Canada, Mỹ la tinh, Nam Phi hay Tây Á…
Như vậy, với phương hướng đặt ra và mục tiêu phấn đấu công ty đã tìm cho
mình hướng đi trong tương lai.
23
Kết luận
Qua 45 năm xây dựng và phát triển của Công ty may Thăng Long, công ty đã
đạt được những thành tựu đáng biểu dương, bên cạnh những mặt còn hạn chế.
Trong thời gian tới công ty phấn đấu khắc phục những mặt còn hạn chế để không
ngừng vươn lên, trở thành con chim đầu đàn của ngành dệt may Việt Nam. Đóng
góp vào công cuộc phát triển kinh tế của nước nhà, thúc đẩy quá trình công nghiệp