vận dụng một số phương pháp thống kê để phân tích kết quả sản xuất kinh doanh của công ty thương mại thuốc lá thuộc tổng công ty thuốc lá việt nam - Pdf 10


MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, mục tiêu chung cho các doanh
nghiệp là kinh doanh có hiệu quả để từ đó từng bước phát triển doanh nghiệp
một cách vững chắc. Các doanh nghiệp buộc phải khẳng định mình và phát
huy mọi khả năng sẵn có lẫn tiềm tàng, không ngừng nâng cao vị trí trên thị
trường trong nước cũng như thị trường quốc tế. Để đạt được những mục tiêu
trên, việc tự đánh giá nội lực của chính mình là hết sức cần thiết, ngoài ra
doanh nghiệp còn phải cung cấp thông tin tài chính cho nhiều đối tượng quan
tâm khác như: các cá nhân, tổ chức, ngân hàng, nhà đầu tư… Chính vì lẽ đó
mà việc phân tích kết quả sản xuất kinh doanh là một trong những nhiệm vụ
chính trong việc ra quyết định quản lý của các đối tượng tham gia trong các
mối quan hệ kinh tế.
Công ty Thương mại Thuốc lá hoạt động kinh doanh trong ngành thuốc
lá và chịu quản lý trực tiếp của Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam. Dưới sự
quản lý này Công ty thực hiện mục tieu lâu dài đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong
nước và nâng cao thương hiệu thuốc lá Vinataba. Tổng Công ty Thuốc lá Việt
Nam giao cho Công ty quản lý và sử dụng một lượng vốn gồm vốn cố định,
vốn lưu động và các nguồn tự bổ sung khác dựa trên nguyên tắc đảm bảo sử
dụng có hiệu quả và tôn trọng các nguyên tắc tài chính, tín dụng đặc biệt là
phải tuân thủ theo pháp luật. Do vậy việc thường xuyên đánh giá và phân tích
tình hình kết quả sản xuất kinh doanh sẽ giúp Tổng công ty và các cơ quan
chủ quản thấy rõ được thực trạng hoạt động kinh doanh từ đó có những giải
pháp hữu hiệu để tăng cường hiệu quả kinh doanh cho Công ty.
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của việc phân tích kết quả
sản xuất kinh doanh, em đã chọn đề tài “Vận dụng một số phương pháp
thống kê để phân tích kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty Thương

1

mại Thuốc lá thuộc Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam” cho chuyên đề tốt

phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng gia tăng, tất yếu dẫn đến con
người phải thông qua lao dộng để tạo ra sản phẩm sản xuất đáp ứng những
nhu cầu thực tế đòi hỏi. Hoạt động sản xuất bao gồm sản xuất sản phẩm vật
chất và sản phẩm dịch vụ, là hoạt động quan trọng nhất của xã hội, là cơ sở
tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Các doanh nghiệp công nghiệp không thể chỉ hoạt động sản xuất một
cách đơn thuần, làm ra sản phẩm để nhập kho hoặc tiêu dùng nội bộ, mà phải
chăm lo khâu tiêu thụ. Quá trình sản xuất phải gắn liền với hoạt động kinh
doanh, tạo nên chu trình hoàn chỉnh. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp công nghiệp là hoạt động sử dụng kết hợp các yếu tố đầu vào
tạo ra sản phẩm công nghiệp và cung cấp cho các đối tượng sản xuất, tiêu
dùng trong và ngoài nước, nhằm mang lại thu nhập cho tập thể lao động và
cho doanh nghiệp.
2. Khái niệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp công nghiệp
Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp
là các sản phẩm hữu ích của hoạt động công nghiệp, được biểu hiện dưới 2
hình thái: sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ, do lao động của doanh
nghiệp tạo ra trong một thời kỳ nhất định.

3

- Sản phẩm vật chất là những vật phẩm sau quá trình khai thác, chế
biến có giá trị sử dụng mới và được đo lường bằng đơn vị hiện vật (gồm đơn
vị tự nhiên và đơn vị vật lý), ví dụ: xăng (lít), bàn (cái), quần áo (bộ), điện
(kw.h)… Những sản phẩm đó sau khi làm xong được chuyển sang khâu tiêu
thụ, trở thành hàng hóa.
- Sản phẩm dịch vụ là những công việc phục vụ có tính chất công
nghiệp, gọi tắt là dịch vụ công nghiệp. Những công việc này thường được đo
bằng đơn vị tiền tệ. Ví dụ: sửa chữa máy móc, thiết bị, may đo quần áo…

năng, nước đá…). Thành phẩm (sản phẩm tốt) bao gồm cả sản phẩm hỏng đã
sửa chữa được và nửa thành phẩm bán ra.
Theo quy định của Tổng Cục Thống kê không được coi là thành phẩm
gồm những loại sau:
+ Sản phẩm mua vào bán ra, không qua chế biến tại doanh nghiệp.
+ Sản phẩm làm bằng nguyên, vật liệu của doanh nghiệp hoàn toàn
thuê các cơ sở khác gia công chế biến.
+ Sản phẩm chưa qua thủ tục nhập kho
+ Sản phẩm có khuyết tật chưa sửa chữa lại.
4.2. Sản phẩm trung gian
Là những vật phẩm đang được sản xuất chế biến ở mọi bước gia công,
trong các khâu trước khi kiểm tra chất lượng cuối cùng của quy trình sản
xuất; nhờ có chúng mới tạo ra sản phẩm cuối cùng, tức thành phẩm. Không
thể hạch toán được sản phẩm trung gian hàng ngày trong kỳ như thành phẩm,
mà chỉ tính được giá trị của chúng vào ngày cuối kỳ (quý hay năm). Để đảm
bảo tính đủ, không sót kết quả sản xuất của doanh nghiệp, trong một thời kỳ,

5

cần xác định mức chênh lệch (cộng hay trừ) giữa cuối và đầu kỳ về giá trị của
sản phẩm trung gian.
Có thể phân biệt 2 mức độ hoàn thành của sản phẩm trung gian:
+ Nửa thành phẩm (còn gọi là bán thành phẩm): là sản phẩm được hoàn
thành sau một hay một số khâu nào đó của quy trình sản xuất trước khâu cuối
cùng, đã đạt yêu cầu kỹ thuật đến khâu đó và còn phải tiếp tục chế biến ở
khâu sau. Ví dụ: bông khi qua phân xưởng sợi cho ra sản phẩm sợi…
+ Sản phẩm dở dang (còn gọi là tái chế phẩm): Là những vật phẩm
đang được chế biến ở bất kỳ bước gia công nào, kể cả ở công đoạn lắp ráp và
chưa qua khâu kiểm tra kỹ thuật.
5. Các loại đơn vị đo lường kết quả sản xuất, kinh doanh

của doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thì hoạt động sản xuất, kinh
doanh sẽ được tính vào kết quả sản xuất, kinh doanh cuối cùng của doanh
nghiệp đó. Để tiến hành hoạt động thống kê kết quả sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp thì cần phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:
- Kết quả sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu tuyệt đối, thời kỳ do đó nó chỉ
được tính cho các kết quả sản xuất đã hoàn thành trong kỳ báo cáo, chênh
lệch cuối kỳ - đầu kỳ nửa thành phẩm và sản phẩm dở dang, kết quả do các
hoạt động làm thuê cho bên ngoài, nhưng không được tính cho kết quả do
hoạt động thuê ngoài.
- Tính cho toàn bộ sản phẩm được làm ra trong kỳ báo cáo bao gồm sản
phẩm chính, sản phẩm phụ, sản phẩm tự sản tự tiêu.

7

- Sản phẩm làm ra phải hợp quy cách, có đủ tiêu chuẩn cả về số lượng
và chất lượng theo đúng quy định trong luật pháp Việt Nam. Các sản phẩm
làm ra phải được kiểm tra chất lượng trước khi đưa ra thị trường. Nếu xẩy ra
sự cóo trong thời gian bảo hành sản phẩm cho khách hàg và bị khách hang trả
lại thì sẽ bị trừ vào kết quả sản xuất kinh doanh của kỳ đó.

8

CHƯƠNG 2
XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP
THỐNG KÊ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1. Xác định hệ thống chỉ tiêu về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp
1.1. Tổng giá trị sản xuất (GO)

- Giá trị cho thuê máy móc, thiết bị và nhà xưởng trong dây chuyền sản
xuất của doanh nghiệp.
b. Theo số liệu tiêu thụ, GO bao gồm các khoản sau:
- Doanh thu tiêu thụ, thành phẩm (chính, phụ và nửa thành phẩm) do
lao động của doanh nghiệp làm ra;
- Doanh thu tiêu thụ thành phẩm tương tự như trên (làm bằng nguyên,
vật liệu của doanh nghiệp) thuê gia công bên ngoài;
- Doanh thu từ hợp đồng chế biến sản phẩm cho khách hàng;
- Doanh thu tiêu thụ sản phẩm của hoạt động sản xuất phụ (khi không
thể hạch toán riêng về ngành phù hợp);
- Thu nhập từ hàng hóa mua vào bán ra không qua chế biến;
- Doanh thu bán phế liệu, phế phẩm;
- Chênh lệch giá trị sản phẩm trung gian và công cụ mô hình tự chế
giữa cuối và đầu kỳ;
- Chênh lệch giá trị hàng hóa đã gửi bán chưa thu được tiền giữa cuối
và đầu kỳ;

10

- Doanh thu cho thuê nhà xưởng, máy móc, thiết bị trong dây chuyền
sản xuất của doanh nghiệp.
Thống kê doanh nghiệp công nghiệp dùng giá so sánh và giá hiện hành
của giá sử dụng cuối cùng. Loại giá này được hình thành như sau:
- Giá nhân tố bằng (=)Chi phí trung gian (+) Thu nhập lần đầu của lao
động cộng (+) Thặng dư sản xuất (Lợi nhuận) cộng (+) Khấu hao TSCĐ.
- Giá cơ bản bằng (=)Giá nhân tố cộng (+) Thuế sản xuất khác (trừ trợ cấp);
- Giá sản xuất bằng (=) Giá cơ bản cộng (+) Thuế sản phẩm (trừ trợ cấp);
- Giá sử dụng cuối cùng bằng (=) Giá sản xuất cộng (+) Cước vận tải
cộng (+) Phí thương nghiệp.
1.1.4. Phương pháp tính GO của hoạt động sản xuất công nghiệp

phạm vi doanh nghiệp cũng như phạm vi ngành là lãnh thổ, nó có ý nghĩa lớn:
+ Đánh giá vai trò của mỗi yếu tố trong 2 yếu tố tích cực;
+ Xem xét mối quan hệ phân chia lợi ích giữa người lao động (V) với
doanh nghiệp (lãi ròng) và Nhà nước (VAT);
+ Phản ánh thành quả lao động của doanh nghiệp và mức đóng góp
đích thực của mỗi doanh nghiệp vào kết quả sản xuất của nền kinh tế;
+ Đảm bảo sự công bằng hợp lý trong việc tính thuế VAT;
+ Là cơ sở để tính GDP và GNI của nền kinh tế quốc dân.
1.2.2. Phương pháp tính VA
Chỉ tiêu được tính theo hai phương pháp:
a. Phương pháp sản xuất
Giá trị gia tăng (VA) = Giá trị sản xuất (GO) – Chi phí trung gian (IC)
b. Phương pháp phân phối
Giá trị
gia
tăng
(VA)
=
Thu nhập
lần đầu của
lao động
(V)
+
Tổng thu nhập lần đầu tạo ra trong
DN (M) [gồm thu nhập lần đầu của
DNCN (M
1
) và thu nhập lần đầu
của Chính phủ (M
2

C
1
- Khấu hao tài sản cố định dùng vào sản xuất, kinh doanh công
nghiệp
Để tính được VA theo phương pháp sản xuất cần phải xác định được
chi phí trung gian.
* Chi phí trung gian (Intermediational Cost – IC)
Khái niệm:
Chi phí trung gian là chi phí sử dụng đối tượng lao động cho sản phẩm
trung gian để làm ra sản phẩm cuối cùng trong một thời kỳ và do đó là một bộ

13

phận cấu thành quan trọng của tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp, được
tính theo phương pháp SNA phục vụ cho việc xác định chỉ tiêu giá trị gia
tăng. Chi phí trung gian của hoạt động công nghiệp gồm toàn bộ chi phí về
vật chất khác (không kể khấu hao TSCĐ) và chi phí về dịch vụ cho sản phẩm
công nghiệp của doanh nghiệp.
Chi phí vật chất khác, gồm có:
- Nguyên, vật liệu chính;
- Vật liệu phụ, bao bì;
- Nửa thành phẩm mua ngoài;
- Điện năng mua ngoài;
- Nhiên liệu, chất đốt;
- Công cụ lao động nhỏ;
- Vật tư đưa vào sửa chữa thường xuyên TSCĐ;
- Dụng cụ bảo vệ sản xuất và phòng cháy, chữa cháy;
- Trang phục bảo hộ lao động;
- Chi phí văn phòng phẩm;
- Chi phí vật chất khác.

NVA cũng được tính theo hai phương pháp:
a. Phương pháp sản xuất
GTGT thuần (NVA) = GTGT (VA) - Khấu hao (C
1
)
b. Phương pháp phân phối
Giá trị gia
tăng thuần
(NVA)
=
Thu nhập
lần đầu của
lao động (V)
+
Tổng thu nhập lần đầu tạo ra trong DN (M)
[gồm thu nhập lần đầu của DNCN (M
1
) và
thu nhập lần đầu của Chính phủ (M
2
)]

15

1.4. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ công nghiệp (DT) hay giá
trị sản lượng hàng hóa tiêu thụ (SLHHTT)
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ công nghiệp là tổng giá trị các
mặt hàng sản phẩm và dịch vụ công nghiệp của doanh nghiệp đã tiêu thụ và
thanh toán trong kỳ. Đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả kinh doanh
theo doanh số đã thực tế thu được, là cơ sở để đánh giá việc thực hiện mục

toán trong kỳ này.
1.5. Doanh thu thuần (DT

)
Là doanh thu bán hàng sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu.
Doanh thu thuần là cơ sở xác định lãi (lỗ) ròng của hoạt động công nghiệp
của doanh nghiệp. Công thức tính chỉ tiêu như sau:
DT

= ( DT - Tổng các khoản giảm trừ doanh thu)
Theo chế độ tài chính hiện hành, các khoản giảm trừ doanh thu gồm có:
+ Thuế sản xuất (trừ trợ cấp), gồm: thuế sản phẩm (các loại thuế VAT,
thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu…); thuế sản xuất khác (thuế đất,
thuế môn bài, thuế tài sản, thuế đối với ô nhiễm môi trường, thuế đối với các
giao dịch quốc tế…; các khoản lệ phí mua của các cơ quan quản lý Nhà
nước);
+ Chiết khấu thương mại;
+ Giảm giá hàng bán;
+ Giá trị hàng đã bán bị trả lại, chi phí sửa chữa hàng hư hỏng còn
trong thời hạn bảo hành.
Ngược lại được cộng thêm các khoản như trợ giá, trợ cấp, lợi tức…
Nếu ký hiệu:
t – các khoản giảm trừ tính trên một đơn vị sản phẩm tiêu thụ;
p

– doanh thu thuần tính trên một đơn vị sản phẩm (p

= p – t)
Thì tổng doanh thu thuần còn được tính theo các công thức sau:
DT

trọng lớn trong tổng mức lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây cũng là điều kiện
tiền đề để doanh nghiệp thực hiện tích lũy cho tái sản xuất kinh doanh mở
rộng. Đồng thời cũng là tiền đề để lập ra các quỹ của doanh nghiệp: quỹ dự
phòng mất việc làm, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi… là điều kiện để không
ngừng nâng cao điều kiện làm việc và đời sống tinh thần cho người lao động.
(2) Lợi nhuận thu từ hoạt động tài chính:
Là chênh lệch giữa doanh thu HĐTC và chi phí HĐTC. Nó bao gồm
các khoản sau: lợi nhuận thu từ góp vốn liên doanh, từ các hoạt động đầu tư,

18

mua bán chứng khoán, từ các hoạt động cho thuê tài sản, từ kinh doanh bất
động sản, hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn và dài hạn…
(3) Lợi nhuận khác:
Là khoản chênh lệch giữa thu nhập khác và chi phí khác. Các khoản thu
nhập khác và chi phí khác là những khoản thu nhập hay chi phí mà DN không
dự tính trước được hoặc dự tính nhưng ít có khả năng thực hiện, hoặc đó là
những khoản thu, chi không mang tính chất thường xuyên.
Thu nhập khác gồm: thu từ hoạt động thanh lý, nhượng bán TSCĐ, thu
từ các khoản nợ khó đòi đã xử lý xóa sổ, thu tiền phạt do khách hàng vi phạm
hợp đồng… Còn chi phí khác bao gồm: chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ
và giá tri còn lại của TSCĐ, tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế, chi do bị
phạt thuế, truy nộp thuế, các khoản chi do kế toán nhầm hoặc bỏ sót khi ghi
sổ kế toán và các khoản chi khác.
Công thức tổng quát tính lợi nhuận công nghiệp (M
CN
) như sau:
M
CN
=


M
G

= Σ (p – t - z) q

Hoặc: M
G

= Σ (p

– z

) q

- Tổng lợi nhuận trước thuế (M
T
): Là chỉ tieu lợi nhuận sau khi đã trừ
tiếp đi các khoản chi phí tiêu thụ.
M
T
= M
G
-
Tổng chi phí tiêu thụ
(gồm chi phí bán hàng và chi phí QLDN)
Nếu ký hiệu c là chi phí tiêu thụ tính trên một đơn vị sản phẩm thì M
T
còn được xác định theo công thức:
M

): Là chỉ tiêu lợi
nhuận sau khi đã trừ thuế thu nhập doanh nghiệp nộp ngân sách Nhà nước.
M
R
= M
T
- Tổng thuế TNDN nộp NSNN
Lợi nhuận ròng là cơ sở để chia lãi cho các chủ sở hữu vốn (chia liên
doanh, trả lãi vay ngân hàng) và trích lập các quỹ của doanh nghiệp (gồm quỹ
phát triển sản xuất kinh doanh, quỹ dự phòng tài chính (quỹ dự trữ), quỹ dự
phòng trợ cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng và phúc lợi…)

20

2. Xác định một số phương pháp thống kê phân tích kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2.1. Khái niệm, ý nghĩa, nguyên tắc xác định chỉ tiêu thống kê
- Khái niệm: hệ thống chỉ tiêu thống kê là tập hợp những chỉ tiêu có thể
phản ánh các mặt, các tính chất quan trọng nhất, các mối liên hệ cơ bản giữa
các mặt của tổng thể và mối liên hệ của tổng thể với hiện tượng có liên quan.
- Tác dụng: giúp lượng hoá các mặt quan trọng của tổng thể lượng hoá
kết cấu, lượng hoá các mối quan hệ cơ bản của đối tượng nghiên cứu. Từ đó
thấy được bản chất và tính quy luật của hiện tượng.
- Nguyên tắc xác định:
Hệ thống chỉ tiêu phải phục vụ vào mục đích nghiên cứu
Hiện tượng càng phức tạp thì càng cần nhiều chỉ tiêu.
Phải nắm được số lượng chỉ tiêu cần thiết để điều tra một hiện tượng
bất kỳ, từ đó có các phương pháp thống kê thích hợp.
Tiết kiệm tối đa chi phí điều tra không để thừa hay thiếu chỉ tiêu.
2.2. Một số phương pháp thống kê có thể vận dụng để phân tích kết quả

thời gian.
- Dãy số bình quân: các mức độ của dãy số là các số bình quân
Để phân tích dãy số thời gian được chính xác thì yêu cầu cơ bản khi
xây dựng dãy số thời gian là phải đảm bảo tính chất có thể so sánh được giữa
các mức độ trong dãy số. Cụ thể:
- Nội dung và phương pháp tính chỉ tiêu qua thời gian phải thống nhất.
- Phạm vi hiện tượng nghiên cứu qua thời gian phải nhất trí.
- Các khoảng cách thời gian trong dãy số nên bằng nhau, nhất là đối với
dãy số thời kỳ.

22

Việc phân tích dãy số thời gian cho phép nhận thức các đặc điểm biến
động của hiện tượng qua thời gian, tính quy luật của sự biến động, từ đó tiến
hành dự đoán về mức độ của hiện tượng trong thời gian tới.
2.2.2.2. Các chỉ tiêu phân tích đặc điểm biến động của hiện tượng qua
thời gian
a. Mức độ bình quân qua thời gian
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đại diện cho các mức độ tuyệt đối của
dãy số thời gian. Tùy theo dãy số thời kỳ hay dãy số thời điểm mà công thức
tính khác nhau.
- Đối với dãy số thời kỳ, mức độ bình quân qua thời gian được tính
theo công thức sau:
n
y
n
yyy
y
i
n

(i = 1, 2,…, n) là các mức độ của dãy số thời điểm có các
khoảng cách thời gian bằng nhau.
Đối với dãy số thời điểm có các khoảng cách thời gian không bằng
nhau thì mức độ bình quân qua thời gian được tính theo công thức sau:
n
nn
hhh
hyhyhy
y
+++
+++
=21
2211
Trong đó: h
i
(i = 1, 2,…, n) là khoảng thời gian có mức độ y
i
.

23

b. Lượng tăng (giảm) tuyệt đối
Chỉ tiêu này phản ánh sự biến động về mức độ tuyệt đối giữa hai thời
gian. Tùy theo mục đích nghiên cứu, có thể tính các chỉ tiêu về lượng tăng
(hoặc giảm) tuyệt đối sau:
- Lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối liên hoàn (hay từng kỳ):
1−

y
1
: mức độ tuyệt đối ở thời gian đầu
- Lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối bình quân:
111

132


=


=

+++
=
n
yy
nn
nnn
δδδ
δ
c. Tốc độ phát triển
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ và xu hướng biến động của hiện tượng
nghiên cứu qua thời gian.
- Tốc độ phát triển liên hoàn:
1−
=
i
i

===
n
n
n
n
n
n
y
y
Ttttt
d. Tốc độ tăng (hoặc giảm)
Chỉ tiêu này phản ánh qua thời gian, hiện tượng đã tăng (hoặc giảm)
bao nhiêu lần hoặc bao nhiêu %.
- Tốc độ tăng (hoặc giảm) liên hoàn:
1
1
1
1
−=

==



i
i
ii
i
i
i

t
biểu hiện bằng lần)
Hoặc:
100(%) −= ta
(nếu
t
biểu hiện bằng %)
e. Giá trị tuyệt đối 1% của tốc độ tăng (hoặc giảm) liên hoàn
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1% tăng (hoặc giảm) của tốc độ tăng (hoặc
giảm) liên hoàn thì tương ứng với một quy mô cụ thể là bao nhiêu và được
tính bằng cách chia lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối liên hoàn cho tốc độ
tăng (hoặc giảm) liên hoàn, tức là:
100
100
(%)
1
1


===
i
i
i
i
i
i
i
y
y
a


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status