LUẬN VĂN:
Cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa A. Phần mở đầu
Việc nghiên cứu lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về nền kinh tế thị trường là
cần thiết không chỉ đối với những người nghiên cứu khoa học kinh tế, đối với cán bộ
quản lý kinh doanh, với những người có nhiệm vụ hoạch định đường lối phát triển
kinh tế của đất nước, mà nó rất cần thiết đối với mỗi sinh viên, mỗi con người mỗi gia
đình trong xã hội.
Lý thuyết về nền kinh tế thị trường của chủ nghĩa Mác Lênin là một nội dung hết
sức to lớn và rất quan trọng trong học thuyết của chủ nghĩa Mác Lênin. Cùng với lý
luận về giá trị thặng dư, học thuyết hình thái kinh tế xã hội, thì lý thuyết về nền kinh tế
thị trường là một phát kiến vĩ đại của Mác mà sau này đã được Lênin phát triển và
hoàn thiện, nó là hòn đá tảng của chủ nghĩa Mác Lênin, cho đến cả ngày hôm nay và
mai sau.
Trong bối cảnh đầy biến động của thị trường thế giới nói chung cũng như thị
trường Việt Nam nói riêng. Đảng ta vẫn kiên định mục tiêu độ lập dân tộc và chủ
Sự hoạt động của quy luật giá trị có biểu hiện: giá cả thị trường lên xuống xoay
quanh giá trị thị trường của hàng hoá. Nghĩa là sự hình thành giá cả trên thị trường
phải dựa trên cơ sở giá trị thị trường. Ngoài giá trị thị trường, sự hình thành giá cả thị
trường còn phải chịu tác động của quan hệ cung cầu hàng hoá. Tính quy luật của quan
hệ giữa giá cả thị trường với giá trị trong tác động của quan hệ cung cầu được biểu
hiện.
Cung cầu trong cơ chế thị trường :
Nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả thị trường sẽ nhỏ hơn giá trị thị trường còn nếu
cung nhỏ hơn cầu thì giá cả thị trường sẽ lớn hơn giá trị thị trường. Sự vận động của giá cả thị trường cũng có tác động tới quan hệ cung cầu hàng hoá. Nếu giá cả của một
loại hàng hoá nào đó giảm xuống, nó sẽ kích thích mức cầu, làm cho mức cầu thị
trường của loại hàng hoá này tăng lên. Đồng thời giá cả giảm xuống. Ngược lại, nếu
giá cả của một loại hàng hoá nào đó tăng lên, nó sẽ kích thích mức cung làm cho mức
cung giảm xuống. Ngược lại nếu giá cả của một loại hàng hoá nào đó tăng lên, đồng
thời hạn chế mức cầu làm cho mức cầu giảm xuống. Như vậy có thể nhận biết được
quan hệ cung cầu qua giá cả thị trường. Quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường là
những biểu hiện của những người bán và những người mua cũng như quan hệ giưã
những người sản xuất và những người tiêu dùng. Trên thị trường người bán luôn bán
hàng hoá của mình với giá cao, còn người mua thì lại luôn luôn muốn mua hàng hoá
với giá thấp. Trên cơ sở giá trị thị trường, giá cả thị trường là kết quả của sự thoả thuận
giữa người mua với người bán.
Cũng thông qua sự biến động của giá cả thị trường, quy luật giá trị có tác dụng
điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá. Điều tiết sản xuất hàng hoá được hiểu theo
nghĩa là điều tiết tư liệu sản xuất và sức lao động vào từng ngành kinh tế. Nếu giá cả
của hàng hoá trong một ngành kinh tế nào đó tăng lên thì ngành đó sẽ thu hút lao động
xã hội, làm cho quy mô sản xuất của ngành này tăng lên. Ngược lại, nếu giá cả của
hàng hoá có xu hướng tăng lên sẽ làm cho những người sản xuất hàng hoá thu được
nhiều lợi nhuận hơn. Điều này tạo ra động lực thúc đẩy những người sản xuất hàng
- Giá cả làm chức năng phân phối và phân phối lại của các tấng lớp dân cư trong
xã hội
- Giá cả là phương tiện nối liền hàng hoá với tiền tệ, người sản xuất với người
tiêu dùng. nói tới cơ chế thị trường là nói tới cơ chế tự vận động của thị trường theo
những quy luật nội tại của nó: quy luật nội tại, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông
tiền tệ. Quy luật lưu thông tiền tệ xác định khối lượng tiền tệ trong lưu thông nhằm
đảm bảo sự hoạt động nhịp nhàng của cơ chế thị trường. Việc thừa hoặc thiếu đều dẫn
tới tác động tiêu cực. Nếu thiếu tiền, hàng hoá không lưu thông được. Nếu thừa tiền sẽ
gây nên tình trạng lạm phát, giá cả hàng hoá tăng vọt, thị trường bất ổn định.
Vậy chúng ta có thể nói sự tồn tại và phát triển của cơ chế thị trường là yêu cầu
khách quan đối với những xã hội còn tồn tại nền kinh tế hàng hoá. Coi nhẹ hay bỏ qua
vai trò của kinh tế thị trường là một trong những nguyên nhân sâu xa thất bại trên lĩnh vực kinh tế. Chính vì vậy mà cơ chế thị trường được phát hiện khá sớm. Cơ chế thị
trường được coi là “ bàn tay vô hình” điều tiết sự vận động của nền kinh tế hàng hoá.
2. Những ưu điểm và khuyết điểm của cơ chế thị trường
Ưu điểm:
- Khi cơ chế thị trường phát triển thì kích thích mạnh việc áp dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật, tăng năng suất lao động, nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất.
Kinh tế thị trường lấy lợi nhuận siêu ngạch làm động lực hoạt động. Động lực
này đòi hỏi các doanh nghiệp thường xuyên hạ thấp chi phí lao động cá biệt xuống
thấp hơn chi phí lao động xã hội cần thiết. Điều này đòi hỏi phải nâng cao năng suất
lao động trên cơ sở áp dụng những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật công nghệ.
Cơ chế thị trường có tính năng động và khả năng thích nghi nhanh chóng. Sở dĩ
như vậy là vì: trong kinh tế thị trường tồn tại một nguyên tắc ai đưa ra thị trường một
loại hàng hoá mới và đưa ta sớm nhất sẽ thu được lợi nhuận nhiều nhất. Điều đó tất
yếu đòi hoải phải năng động thường xuyên.
Trong nền kinh tế thị trường hàng hoá rất phong phú đa dạng. Do vậy, nó tạo
quáng. Hơn nữa sự vận động của cơ chế thị trường tất yếu dẫn tới những mâu thuẩn và
xung đột có người giầu lên lại có người ngèo đi. Cạnh tranh khó tránh kkhỏi sự lừa
gạt, phá sản và thất nghiệp thị trường tất cả đã gây nên tình trạng không bình thường
trong quan hệ kinh tế và dẫn tới sự mất ổn định xã hội. Vì vậy, xã hội đòi hỏi phải có
sự kiểm tra, điều tiết, định hướng một cách có ý thức đối với sự vận động của cơ chế
thị trường. Đó là lý do cần thiết lập vai trò quản lý của Nhà nước ở tất cả các nước có
nền kinh tế thị trường, ở nước ta sự quản lý của Nhà nước nhằm hướng tới sự ổn định
về kinh tế xã hội, sự công bằng và hiệu quả cũng như làm cho nền kinh tế ngày càng
tăng trưởng và phát triển với tốc độ cao.
II. các lý thuyết về cơ chế thị trường và sự quản lý của nhà nước:
1. Cơ chế thị trường trong nền KTTT cạnh tranh tự do (Học thuyết của
A.Smith & D.Ricardo)
Nghiên cứu cơ chế thị trường tự do cạnh tranh có hai nhà kinh tế học nổi tiếng:
A. Smith và D. Ricardo. Học thuyết của hai ông đã đưa KTCT tư sản cổ điển phát triển
đến đỉnh cao nhất ở Anh. a. A Smith (1723-1790) xuất thân trong một gia đình viên chức thuế quan, là
giảng viên một số trường Đại học ở Anh, từng dạy nhiều khoa như: thần học, lý luận
học, luật học trước khi nghiên cứu chính trị học.
Với thuyết “bàn tay vô hình”, cho rằng luôn có sự điều hoà tự nhiên giữa lợi ích
chung của mỗi cá nhân với lợi ích chung của xã hội. Trong toàn bộ nền kinh tế, “bàn
tayvô hình” cũng điều tiết các hoạt động làm cho nền kinh tế có khả năng điều chỉnh,
tạo ra sự cân bằng. A. Smith cho rằng chính quyền cần có chính sách hoàn toàn tự do.
Về sáng kiến cá nhân, tự nó có khả năng để thực hiện một trật tự tối ưu: khi một nhà
sản xuất cố gắng làm cho sản phẩm của mình tốt lên thì họ chỉ nghĩ tới lợi ích của
mình thôi nhưng chính việc đó lại có lợi ích cho xã hội.
Mặc dù coi trọng “bàn tay vô hình” song A. Smith cũng nhận thấy đôi khi nhà
nước cũng có những nhiệm vụ kinh tế nhất định, đó là các trường hợp các nhiệm vụ
kinh tế vượt quá khả năng của các doanh nghiệp như làm đường, xây dựng
học người Mỹ thuộc trường phái hiện đại. Ông có tư tưởng kết hợp “bàn tay vô hình”
với chức năng quản lý kinh tế nhà nước để điều tiết nền kinh tế thị trường, cho rằng để
hình thành một nền kinh tế không có cả chính phủ lẫn thị trường thì như người ta định
vỗ tay bằng một bàn tay. Cơ chế thị trường có tầm quan trọng như nhau. Vậy nền kinh
tế hiện đại theo trường phái kinh tế thị trường xã hội trở thành Kinh tế thị trường vẫn
mang tính chất chịu sự chi phối “bàn tay vô hình” và “bàn tay hữu hình”, tuy nhiên tư
tưởng can thiệp của nhà nước rất đa dạng.
Vai trò nhà nước tạo ra môi trường cạnh tranh tự do, cạnh tranh xây dựng các
đạo luật chống độc quyền, kiểm soát các hoạt đọng kinh tế bằnh các công cụ tài chính,
tiền tệ, tổ chức ngân hàng, thương mại, trong đó ngân hàng trung ương cần cố gắng dự
trữ, vừa làm chức năng điều khiển kiểm soát chi tiêu tự động cung ứng thông qua ngân
hàng thương mại, xây dựng kết cấu hạ tầng của nền kinh tế.
III. Sự quản lý của nhà nước trong nền KTTT, định hướng Xhcn ở Việt nam :
1. Sự cần thiết khách quan:
Trong báo cáo chính trị của BCHTW khoá VIII trình Đại hội IX của Đảng ta đề
cập: Nhà nước ta “quản lý kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp
quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và
khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động,
của toàn thể nhân dân”.
Cơ chế thị trường chịu sự chi phối của “bàn tay vô hình” hay chịu sự chi phối của
các quy luật kinh tế của thị trường. Cơ chế quản lý của nhà nước gắn với “bàn tay hữu
hình”. Rõ ràng không thể điều tiết sự vận động của nền kinh tế hàng hoá hay nền kinh
tế thị trường hiện nay, khi chỉ có cơ chế thị trường hoặc chỉ có nhà nước. Trong trường
hợp này cũng giống như người ta định “vỗ tay bằng một bàn tay”.
Đối với nước ta, giải quyết mối quan hệ giữa thị trường và Nhà nước trong điều
tiết, quản lý nền kinh tế cũng còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn phải nghiên cứu
như:
nghiệp cho phù hợp. Vì cơ chế thị trường có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực do đó đặt
cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải kết hợp hài hoà ba vấn đề
: thứ nhất, kết hợp vấn đề lợi nhuận với vấn đề xã hội, đảm bảo cho các chủ thể kinh tế
thị trường có được lợi nhuận cao, vừa tạo được điều kiện chính trị-xã hội bình thường
cho sự phát triển kinh tế. Hai là, kết hợp chặt chẽ những nguyên tắc phân phối của
CNXH và nguyên tắc của kinh tế thị trường như: phân phối theo lao động, theo vốn,
theo tài năng Trong đó nguyên tắc phân phối theo lao động là chính. Thứ ba, điều
tiết phân phối thu nhập, một mặt, đồi hỏi Nhà nước phải có chính sách sao cho giảm
bớt khoảng cách chênh lệch giữa người giàu, người nghèo và của toàn xã hội.
Nội dung của kế hoạch không được phép chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực
kinh tế nhà nước mà phải mang tính tổng thể toàn nền kinh tế. Những công cụ thường
được áp dụng trong nền kinh tế kế hoạch hoá trước kia phải được thay thế bằng công
cụ, chính sách phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước sử dụng nhóm yếu tố gắn với “bàn tay hữu hình” thể hiện qua các công
cụ sau:
Pháp luật, nhất là luật kinh tế với tính đồng bộ và hiệu lực để thực hiện nó.
Thông qua công cụ này Nhà nước tạo hành lang đủ để lập và duy trì kỷ cương trật tự
hướng dẫn các hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động theo pháp luật. Kế hoạch, công cụ giúp Nhà nước hoạch định các chương trình định hướng
mục tiêu từng thời kỳ.
Chính sách kinh tế-xã hội, công cụ góp phần tạo ra môi trường kinh tế-xã hội
ổn định có lợi cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội. Trong các chính sách đó
quan trọng nhất là chính sách tài chính, tiền tệ Trong thời gian tới, chính sách tài
chính phải nhằm mục tiêu thúc đẩy sản xuất phát triển, huy động và sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực, tăng tích luỹ vốn để tạo vốn cho đầu tư phát triển, đáp ứng những
nhu cầu chi thật sự cấp bách, cần thiết đảm bảo quản lý thống nhất nền tài chính quốc
gia, góp phần khống chế lạm phát, xử lý đúng đắn mối quan hệ tích luỹ và tiêu dùng;
tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp và tài chính dân cư; ngân sách trung ương