LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng quốc tế hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài là một tất yếu khách quan. Việt Nam xây dựng,
phát triển nền kinh tế từ một xuất phát điểm thấp và thiếu vốn. Vì vậy, nhu
cầu vốn đầu tư nước ngoài trở nên cấp thiết để đẩy nhanh hơn tốc độ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Học tập kinh nghiệm của các nước công nghiệp phát triển đi trước. Việt
Nam đã xây dựng mô hình “khu công nghiệp” để thu hút đầu tư nhằm thực
hiện các mục tiêu đã đặt ra. Mỗi địa phương trong nước, tùy theo điều kiện tự
nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội và lợi thế so sánh của mình mà có những định
hướng phát triển khu công nghiệp phù hợp. Mô hình khu công nghiệp chính là
nơi tập trung điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài, làm tăng
tính hấp dẫn và khả năng cạnh tranh cho môi trường đầu tư Việt Nam.
Những năm vừa qua, Hà Nội đã chủ trương xây dựng đồng bộ các khu
công nghiệp nằm trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả
nước. Hà Nội có năm khu công nghiệp tập trung là: Nội Bài, bắc Thăng Long,
Sài Đồng B, Hà Nội – Đài Tư và khu công nghiêp nam Thăng Long. Các khu
công nghiệp này nằm ở vị trí hết sức thuận lợi, là điểm hấp dẫn các nhà đầu tư
nước ngoài. Các công ty đa quốc gia đang hoạt động sản xuất trong các khu
công nghiệp của Hà Nội như: Pentax, Orion – Hanel, Canon, Sumitormo,
Toto…Các doanh nghiệp này có tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm rất cao qua đó làm
tăng tỷ lệ xuất khẩu của thành phố, đồng thời cũng thu hút và đào tạo nhiều
lao động có tay nghề góp phần không nhỏ vào việc phát triển kinh tế - xã hội
của thủ đô Hà Nội. Các khu công nghiệp Hà Nội đã góp phần làm dịch
1
chuyển cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động, phát triển các
ngành dịch vụ và công nghiệp phụ trợ. Tính đến hết năm 2007 vốn đầu tư
nước ngoài vào các khu công nghiệp Hà Nội trên 2 tỷ USD. Tỷ lệ vốn thực
hiện so với tổng vốn được đăng ký đầu tư là trên 60%.
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thu hút và triển khai các dự án
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp Hà Nội, từ đó làm rõ
những nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trong hoạt động thu hút và triển
khai các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp Hà Nội.
Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm tăng cường thu hút và triển khai
các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp Hà Nội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động thu hút và triển khai dự
án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp (5 khu công nghiệp
tập trung là: Nội Bài, bắc Thăng Long, Sài Đồng B, Hà Nội – Đài Tư và khu
công nghiêp nam Thăng Long). Cụ thể luận văn sẽ nghiên cứu hoạt động thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở giác độ thành phố và Ban quản lý các khu
công nghiệp và chế xuất Hà Nội từ khâu xúc tiến đầu tư đến khâu cấp Giấy
chứng nhận đầu tư và đi vào triển khai dự án các dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài trong các khu công nghiệp Hà Nội.
Về thời gian: luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về hoạt động thu hút và
triển khai dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp Hà Nội
từ năm 2001 (năm bắt đầu thực hiện chiến lược phát triển kinh tế Hà Nội giai
đoạn 2001 – 2010) đến năm 2007 và đề xuất một số định hướng và giải pháp
nhằm đẩy mạnh hoạt động này từ nay đến năm 2010.
3
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng đồng
thời nhiều phương pháp nghiên cứu để luận giải các vấn đề lý luận và thực
tiễn về thu hút và triển khai dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu
công nghiệp Hà Nội như:
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở phương pháp luận.
Phương pháp thống kê: tổng hợp và hệ thống các số liệu thống kê về hoạt
động thu hút và triển khai dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công
tích cực đẩy lùi và ngăn chặn hàng nhập lậu. Theo Luật đầu tư số
59/2005/QH10 ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì:
“KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch
vụ cho sản xuất hàng công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành
lập theo quy định của Chính phủ.
Khu chế xuất là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ
cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác
định, được thành lập theo quy định của Chính phủ.
Khu công nghệ cao là khu chuyên nghiên cứu phát triển, ứng dụng công
nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ
5
cao, sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, có ranh giới địa lý xác
định, được thành lập theo quy định của Chính phủ”
1
.
Đây là định nghĩa về KCN được xây dựng phù hơp với sự phát triển của
nền kinh tế Việt Nam, tập trung điều chỉnh ba đối tượng chính là: KCN, khu
chế xuất và khu công nghệ cao.
1.1.2. Đặc trưng của KCN
Măc dù có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng xét về bản chất các KCN
có những đặc trưng sau:
KCN được coi là một địa bàn tự do thu nhỏ về chính sách kinh tế - xã
hội. KCN là nơi thử nghiệm chính sách mới tốt nhất và là đầu tầu tiên phong
trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Việc xây dựng các KCN có thể
làm thay đổi diện mạo một vùng kinh tế, tạo điều kiện cho dân cư được tiếp
cận với một nền công nghiệp hiện đại, làm thay đổi tập quán sinh hoạt ở địa
phương.
KCN là nơi tiếp nhận, chuyển giao và áp dụng có hiệu quả nhất những
thành tựu của khoa học công nghệ, áp dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh
và dịch vụ bởi một địa bàn tương đối rộng, được quy hoạch theo một kế
người sử dụng vốn. Họ trực tiếp tham gia vào quá trình tổ chức, quản lý và
điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của dự án FDI. Họ tự chịu trách
nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của dự án đó.
1.2.2. Đặc điểm của FDI
Một là, FDI là hình thức mà các nhà ĐTNN tự bỏ vốn ra kinh doanh, trực
tiếp điều hành sản xuất kinh doanh, làm ăn lâu dài ở nước sở tại, hoàn toàn tự
chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư. Nước tiếp nhận FDI ít phải chịu những
điều kiện ràng buộc kèm theo của người cung ứng vốn như tiếp nhận ODA
2
Khoản 12, Điều 3, Luật đầu tư số 59/2005/QH11, ngày 29/11/2005
7
(Official Development Assistance – hỗ trợ phát triển chính thức), kể cả kèm
theo những điều kiện về chính trị có ảnh hưởng đến công việc nội bộ, chủ
quyền của nước đi vay. Còn vay thương mại thì lãi suất thường cao, chính
phủ và các doanh nghiệp của nước đi vay thường không chịu đựng nổi, khó
có khả năng trả nợ. FDI là hình thức được các nước đang phát triển rất quan
tâm và sử dụng vì nó giúp họ khai thác được tối đa nguồn lực của đất nước về
tài nguyên, con người…
Hai là, theo hình thức FDI, vốn của nhà ĐTNN nằm trực tiếp trong nhà
xưởng, thiết bị trên đất nước tiếp nhận đầu tư. Trong trường hợp vì một lý do
nào đó chẳng hạn như khủng hoảng tài chính - tiền tệ, nhà đầu tư phải chuyển
đổi nó thành tiền bằng cách bán hoặc thanh lý nhà máy mới thu hồi vốn và
chuyển về nước được.
Ba là, các nước đang phát triển có đặc điểm là trình độ khoa học, công
nghệ thấp. Để rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nước công nghiệp phát
triển các nước này cần nhanh chóng tiếp cận với các kỹ thuật mới, phương
thức quản lý tiên tiến của các nước phát triển. Chính vì vậy, FDI có tác động
mạnh đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư,
thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu
các thành phần kinh tế, cơ cấu đầu tư, cơ cấu công nghệ…
Luật ĐTNN tại Việt Nam quy định, “DNLD là doanh nghiệp do hai Bên
hoặc nhiều Bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh
hoặc hiệp định ký giữa chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và
Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp FDI hợp tác với
doanh nghiệp Việt Nam hoặc do DNLD hợp tác với nhà ĐTNN trên cơ sở hợp
đồng liên doanh”
4
.
Cơ sở pháp lý chủ yếu để thành lập DNLD là hợp đồng liên doanh. Tỷ lệ
góp vốn pháp định Luật pháp Việt Nam quy định tỷ lệ góp vốn tối thiểu của bên
nước ngoài là 30%.
Đặc điểm của DNLD là nhà đầu tư trong nước và nhà ĐTNN: Cùng góp
vốn, cùng quản lý, cùng phân chia lợi nhuận và chia sẻ rủi ro trong các hoạt động
sản xuất kinh doanh, nghiên cứu theo sự thỏa thuận giữa các bên được thừa nhận
3
Khoản 16, Điều 3, Luật đầu tư số 59/2005/QH11, ngày 29/11/2005
4
Khoản 7, Điều 2, Luật ĐTNN
9
trong hợp đồng liên doanh đã ký kết phù hợp với luật pháp nước sở tại và luật lệ
quốc tế.
1.2.3.3. Doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN
Doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN là đơn vị kinh doanh hoàn toàn thuộc
quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài, do họ thành lập, tự quản lý và
hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Luật ĐTNN tại Việt Nam quy định doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN là
doanh nghiệp do nhà ĐTNN đầu tư 100% vốn tại Việt Nam
Cơ sở pháp lý để thành lập doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN là GCNĐT
và Điều lệ doanh nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuẩn y.
1.2.3.4. Hợp đồng xây dựng, kinh doanh và chuyển giao (BOT)
.
c. Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT)
BTO là việc nhà đầu tư bỏ vốn, công nghệ tiến hành đầu tư vào một công
trình kết cấu hạ tầng trên cơ sở một hợp đồng ký với cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền. Sau khi xây dựng công trình xong chuyển giao không bồi hoàn
công trình cho Nhà nước Việt Nam, Nhà nước tạo điều kiện cho nhà đầu tư
thực hiện một dự án khác nhằm thu hồi vốn và lợi nhuận.
Theo Luật đầu tư năm 2005, “BT là hình thức đầu tư được ký giữa cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu
hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho
Nhà nước Việt Nam; Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực
hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà
đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng BT”
7
.
Doanh nghiệp được thành lập để thực hiện hợp đồng BOT có thể là
DNLD hoặc doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN. Hình thức này được ban hành
nhằm thu hút FDI vào phát triển cơ sở hạ tầng.
6
Khoản 18, Điều 3, Luật đầu tư số 59/2005/QH11, ngày 29/11/2005
7
Khoản 19, Điều 3, Luật đầu tư số 59/2005/QH11, ngày 29/11/2005
11
1.2.3.5. Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập (M&A)
Trong đầu tư trực tiếp, các nhà ĐTNN có thể đưa vốn vào để làm tăng
thêm năng lực sản xuất, hoặc tạo ra những năng lực sản xuất mới, song cũng
có thể thông qua việc mua lại, hoặc sáp nhập các công ty với nhau, nhằm thu
được lợi tức cổ phần.
Đầu tư theo hình thức này có ưu điểm là không mất thời gian và chi phí
cho các thủ tục thành lập và triển khai dự án, có thể nhanh chóng tiếp cận
Các doanh nghiệp FDI thường có lợi thế về vốn, công nghệ và kinh
nghiệm quản lý so với các doanh nghiệp của nước sở tại. Vì vậy, các doanh
nghiệp trong nước có sức cạnh tranh kém hơn hẳn các doanh nghiệp FDI nên
về lâu dài thường bị phá sản hoặc sản xuất cầm chừng.
Các nhà ĐTNN lợi dụng những sơ hở về quản lý Nhà nước và luật pháp
của nước sở tại để vi phạm những quy định bảo vệ môi trường sinh thái và
các vấn đề khác.
Chuyển giao công nghệ qua hoạt động FDI vẫn còn nhiều hạn chế và tiêu
cực, nên dẫn tới hiện tượng công nghệ nhỏ giọt, công nghệ lạc hậu, công nghệ
gây ô nhiễm môi trường…và giá cả thường cao hơn giá cả mặt bằng thế giới.
Tiếp nhận FDI có những tác động tích cực và cả những tác tác động tiêu
cực đối với nước sở tại. Do đó, bên tiếp nhận phải đưa ra các giải pháp để
nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực này. Tuy nhiên, những lợi ích mà
hoạt động FDI đem lại cho cho các quốc gia tiếp nhận là rất lớn. Thực tế đã
chỉ ra thu hút FDI là một trong những giải pháp tối ưu để một quốc gia đang
phát triển như Việt Nam có thể vươn lên thành một quốc gia phát triển.
13
1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG THU HÚT VÀ TRIỂN KHAI DỰ ÁN FDI
VÀO CÁC KCN
1.3.1. Dự án FDI
1.3.1.1. Khái niệm dự án FDI
Có nhiều định nghĩa khác nhau về dự án FDI, các định nghĩa này được
tiếp cận dưới góc độ khác nhau:
Xét về hình thức của dự án, dự án FDI là một bộ hồ sơ, tài liệu trình bày
một cách chi tiết và có hệ thống một kế hoạch hoạt động trong tương lai của
các nhà ĐTNN ở nước sở tại.
Xét về nội dung của dự án, dự án FDI là một tập hợp các hoạt động có
liên quan với nhau, được kế hoạch hóa mà nhà ĐTNN phải thực hiện ở nước
sở tại nhằm đạt được những mục tiêu đã định, bằng việc tạo ra các kết quả cụ
thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác
Các dự án FDI được thực hiện thông qua nhiều hình thức đầu tư có tính
đặc thù. Đó là việc hình thành các pháp nhân mới có yếu tố nước ngoài, hoặc
là sự hợp tác có tính đa quốc gia trong các hình thức BOT, hoặc là tạo ra
những khu vực đầu tư tập trung đặc biệt có yếu tố nước ngoài…
Hầu hết các dự án FDI đều gắn liền với quá trình chuyển giao công nghệ
với nhiều hình thức và mức độ khác nhau.
“Cùng có lợi” được các Bên coi là phương châm chủ đạo là nguyên tắc
cơ bản để giải quyết quan hệ giữa các bên trong mọi giai đoạn của dự án FDI.
Tóm lại, các đặc trưng cơ bản trên của các dự án FDI đã cho thấy, dự án
FDI về bản chất, là sự hợp tác theo nguyên tắc thỏa thuận của nhiều quốc gia
với quốc tịch, ngôn ngữ, luật pháp, văn hóa và trình độ phát triển khác nhau.
Chính sự khác nhau về nhiều mặt trong quá trình hợp tác đầu tư giữa các Bên
(đại diện cho các quốc gia xuất thân) đã làm cho các dự án FDI trở nên hết
15
sức phức tạp trong quá trình soạn thảo, triển khai và vận hành dự án. Các đặc
trưng này đòi hỏi các Bên trực tiếp hợp tác đầu tư và cả các quốc gia cần
chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tham gia kinh doanh với các nhà ĐTNN
một cách hữu hiệu nhất và hạn chế với mức cao nhất những rủi ro có thể xảy
ra trong quá trình hợp tác đầu tư với quốc gia khác.
1.3.2. Vấn đề thu hút dự án FDI vào KCN
1.3.2.1. Khái niệm thu hút các dự án FDI vào các KCN
Thu hút các dự án FDI vào các KCN là một quá trình bao gồm nhiều
hoạt động khác nhau và các quyết định nối tiếp nhau nhằm vận động và giúp
đỡ các nhà ĐTNN ra quyết định và thực hiện đầu tư vào một KCN cụ thể của
một quốc gia.
Hoạt động thu hút có nghĩa là các hoạt động nhằm gia tăng sự chú ý và
quan tâm của các nhà ĐTNN vào các dự án đầu tư cụ thể trong một KCN, có
thể mang lại lợi ích thương mại cho các nhà đầu tư. Hoạt động này bao gồm
nhiều nội dung, liên quan chặt chẽ với nhau. Việc thực hiện tốt và có sự phối
hợp đồng bộ giữa các nội dung sẽ mang lại kết quả cao cho hoạt động thu hút
dẫn cạnh tranh được với các nước trong khu vực và trên thế giới có vai trò hết
sức quan trọng đối với quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
đất nước. Các KCN sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, hiệu quả
VĐT, tạo điều kiện cho doanh nghiệp liên kết, hợp tác với nhau để nâng cao
sức cạnh tranh, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội cọ xát với các TNC
s
và
MNC
s
, từ đó nâng cao khả năng hội nhập với khu vực và thế giới.
17
Môi trường đầu tư trong KCN bao gồm: Hệ thống các chính sách khuyến
khích và ưu đãi cho các dự án FDI đầu tư vào các KCN như thủ tục hành
chính, thủ tục về đất đai, chính sách ưu đãi về thuế và tài chính…sao cho
thuận tiện, tiết kiệm được thời gian và tiền bạc cho các nhà ĐTNN; Sự đồng
bộ, hiện đại của các công trình cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào (nhà
xưởng, kho bãi, điện, đường, giao thông, sân bay, cảng biển, bưu chính viễn
thông…); giá cả đất thuê lại và các dịch vụ trong KCN…
Cuộc cạnh tranh cải thiện môi trường đầu tư trong nước nhằm thu hút
FDI vào các KCN của các quốc gia trong khu vực và thế giới đang diễn ra rất
sôi động. Do đó, việc mỗi nước căn cứ vào điều kiện hiện tại và xu thế biến
động chung của thế giới để xây dựng nên một môi trường đầu tư trong các
KCN hấp dẫn được các nhà ĐTNN sẽ góp phần quan trọng đối với việc ra
quyết định đầu tư của nhà ĐTNN.
c. Xúc tiến đầu tư nước ngoài vào các KCN
Xúc tiến ĐTNN vào các KCN là quá trình thúc đẩy, tạo điều kiện cho
các nhà ĐTNN lựa chọn được các dự án thích hợp trong một KCN của nước
sở tại, nhanh chónh hình thành và triển khai dự án FDI được thuận lợi. Triển
khai công tác vận động xúc tiến đầu tư vào các KCN là trách nhiệm của các
cơ quan quản lý nhà nước về ĐTNN cũng như Ban quản lý các KCN và chính
đầu tư; Hợp đồng liên doanh hoặc hợp đồng BCC, Điều lệ doanh nghiệp (nếu
có).
19
Đối với dự án FDI có quy mô vốn đầu tư từ 300 tỷ đồng Việt Nam trở
lên và dự án thuộc Danh mục đầu tư có điều kiện thì phải thực hiện thủ tục
thẩm tra để được cấp GCNĐT.
Thẩm tra dự án FDI là việc nghiên cứu và phản biện một cách có tổ
chức, khách quan và khoa học những nội dung cơ bản của một dự án FDI
nhằm đánh giá tính hợp lý, mức độ hiệu quả và tính khả thi của dự án trước
khi quyết định cấp GCNĐT đối với dự án FDI.
Nội dung thẩm tra bao gồm: Sự phù hợp với quy hoạch kết cấu hạ tầng –
kỹ thuật, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng
khoáng sản và các nguồn tài nguyên khác; Nhu cầu sử dụng đất; Tiến độ thực
hiện dự án và giải pháp về môi trường.
Thời hạn thẩm tra đầu tư không quá 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ
hợp lệ; Trường hợp cần thiết, thời hạn trên có thể kéo dài nhưng không quá
45 ngày.
1.3.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động thu hút FDI vào KCN
Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động thu hút FDI vào các KCN giúp cho các
cơ quan quản lý Nhà nước có cơ sở đánh giá hoạt động thu hút FDI vào các
KCN, đồng thời giúp Ban quản lý các KCN và chế xuất trên cơ sở so sánh với
các KCN khác để tìm ra những mặt còn hạn chế, yếu kém trong hoạt động thu
hút FDI, từ đó đề ra những giải pháp tốt nhất nhằm tăng cường hoạt động thu
hút FDI vào các KCN. Luận văn xin đưa ra ba chỉ tiêu để đánh giá hoạt động
thu hút FDI vào các KCN là: Tỷ lệ lấp đầy KCN, số lượng dự án và VĐT của
các dự án FDI được cấp GCNĐT trong KCN và vốn bình quân 1 dự án FDI
trong KCN.
a. Tỷ lệ lấp đầy KCN
Hệ số lấp đầy KCN được xác định bằng diện tích đất công nghiệp đã cho
các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ công nghiệp thuê trên tổng diện tích
của tất cả các dự án FDI chia cho tổng số dự án FDI đã được cấp GCNĐT vào
KCN, đơn vị tính là USD. Dựa vào chỉ tiêu này chúng ta có thể đánh giá, xem
xét quy mô của dự án FDI đầu tư vào các KCN thuộc loại nhỏ, trung bình hay
lớn.
Tóm lại, khi đánh giá hoạt động thu hút FDI vào các KCN, chúng ta phải
tính toán đồng thời các chỉ tiêu ở trên. Thông qua các chỉ tiêu này, chúng ta sẽ
có được sự phân tích đánh giá tốt nhất về tình hình thu hút FDI vào các KCN.
1.3.3. Vấn đề triển khai dự án FDI vào KCN
1.3.3.1. Khái niệm triển khai dự án FDI
Sau khi nhận được GCNĐT do cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại
cấp, chủ đầu tư phải khẩn trương tiến hành các công việc cần thiết để biến các
ý tưởng của chủ đầu tư trong dự án khả thi thành hiện thực. Qúa trình đó gọi
là quá trình triển khai dự án FDI. Khoảng thời gian kể từ khi dự án FDI được
cấp GCNĐT đến khi nghiệm thu công trình và bàn giao để đưa vào sản xuất
kinh doanh được gọi là giai đoạn triển khai dự án FDI.
“Triển khai dự án FDI là quá trình các nhà quản trị tiến hành giao dịch
với các cơ quan quản lý nước sở tại và thực hiện các công việc cụ thể để biến
các dự kiến trong dự án khả thi thành hiện thực, nhằm đưa các dự án đã
được cấp GCNĐT vào xây dựng và hoạt động”
9
.
Nói một cách khác, triển khai dự án FĐI là quá trình thực hiện các công
việc cần thiết nhằm biến một dự án FDI được hình thành về mặt pháp lý (dự
án FDI được cấp GCNĐT) đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng
9
Giáo trình, Quản trị dự án và doanh nghiệp FDI, Tr.275
22
mục tiêu đã được quy định trong GCNĐT; Hay triển khai dự án FDI là quá
trình giải ngân VĐK.
Thực chất của việc triển khai dự án FDI bao gồm hai loại công việc là:
doanh có thể thỏa thuận lập ra Ban điều phối để theo dõi việc thực hiện dự án.
Sau khi đã thành lập xong, bộ máy quản lý dự án FDI có nhiệm vụ chỉ đạo
thực hiện các công việc tiếp theo, như thực hiện các thủ tục hành chính và tiến
hành góp VĐT dự án.
b. Thực hiện các thủ tục hành chính
Các thủ tục hành chính cho sự ra đời và hoạt động của một dự án FDI
bao gồm: Đăng ký tư cách pháp nhân như đăng bố cáo thành lập doanh
nghiệp trên các báo trung ương và địa phương, đăng ký trụ sở doanh nghiệp,
đăng ký kinh doanh, khắc và đăng ký con dấu của doanh nghiệp tại cơ quan
công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đặt doanh nghiệp và đăng
ký danh sách Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, phó Tổng giám đốc và Kế
toán trưởng; Mở tài khoản tại ngân hàng; Đăng ký chế độ kế toán; Đăng ký
dịch vụ bưu chính viễn thông tại cơ quan quản lý bưu chính viễn thông.
Các thủ tục hành chính tiếp theo bao gồm: Các thủ tục liên quan đến việc
góp vốn, như đăng ký kế hoạch xuất nhập khẩu máy móc thiết bị và công
nghệ để góp vốn cho dự án; Các thủ tục về đất đai; Các thủ tục về xây dựng
cơ bản và xuất nhập cảnh cho các chuyên gia nước ngoài, hoặc các lao động
trong nước đi đào tạo ở nước ngoài.
Các công việc này thuộc về trách nhiệm của nhà đầu tư, nhưng kết quả
của nó lại phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả của bộ máy chính quyền sở tại, vì
các nhà đầu tư không thể tự quyết định thời gian thực hiện những công việc
đó.
24
c. Góp vốn và thực hiện đầu tư dự án
Có các hình thức góp vốn thông thường như: Góp vốn bằng tiền mặt,
bằng giá trị quyền sử dụng mặt đất, bằng công nghệ…Các nhà đầu tư lựa
chọn hình thức góp vốn và tiến hành góp vốn theo các hình thức đã lựa chọn
sao cho đảm bảo đúng với tiến độ đã đề ra.
Khi góp vốn các Bên phải xác định được giá trị vốn góp. Việc góp vốn
bằng tiền mặt và giá trị quyền sử dụng đất thường được xác định giá trị rõ