Đề tài: Phân tích sự giống và khác nhau giữa hoạt động tài trợ DA của NHPT với hoạt
động tài trợ DA của NHTM.
ĐỀ CƯƠNG
I. LÝ THUYẾT: So sánh sự giống và khác nhau theo từng nghiệp vụ (từng giai đoạn tài
trợ dự án)
Một DAPT, như đã trình bày trong các đề tài trước, là những dự án có thời gian
dài, khó lường trước sự biến động của thị trường, nền kinh tế, nên nội dung của dự án
thường không chi tiết. Dự án TM và DAPT có nhiều điểm giống và khác nhau, và do đó,
hoạt động tài trợ 2 loại dự án này cũng có những điểm giống và khác nhau căn bản.
Nhìn chung, một quy trình tài trợ dự án nói chung sẽ gồm 3 công việc chính là Tổ
chức thẩm định dự án; tài trợ theo dự án; giải ngân, giám sát, và thu nợ từ dự án. Chính
vì thế, chúng tôi xin được phép so sánh các điểm giống và khác nhau theo từng nghiệp
vụ tài trợ dự án.
1. Thẩm định dự án VŨ THỊ HUYỀN TRANG TH TRINH
1.1. Khái niệm
Thẩm định dự án là xác định tính đúng đắn các chỉ tiêu của dự án phù hợp với yêu
cầu của NHPT. Hoạt động cơ bản của NHPT là tài trợ các dự án phát triển kinh tế, cho
vay trung và dài hạn, đặc biệt là dài hạn, cho thuê, bảo lãnh.Thẩm định lại dự án trước
khi đưa ra quết định cho vay (hoặc tài trợ).
Thẩm định tín dụng là sử dụng các công cụ kỹ thuật phân tích nhằm kiểm tra,
đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của một phương án hoặc dự án mà khách hàng đã xuất
trình nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tín dụng. Các dự án được tài trợ bởi NHTM
phần đa là dự án ngắn hạn.
1 bản dự án được gửi tới NHPT đôi khi lại rất sơ sài, chủ đầu tư không có khả
năng dự báo các vấn đề trong dài hạn, vì vậy NHPT song song với việc thẩm định những
nội dung có trong bản dự án, còn phải bổ sung các biện pháp đảm bảo tính khả thi của
dự án, tạo căn cứ để giải ngân và kiểm tra việc sự dụng vốn. NHTM thì ít làm công việc
này, hoặc có làm nhưng sẽ không kỹ càng như NHPT.
1.2. Tổ chức thẩm định dự án: Nhìn chung đối với NHTM và NHPT đều có 3 bước:
o Xây dựng quy trình, phương pháp thẩm định
o Tổ chức thu thập, xử lý thông tin nhằm thẩm định nhanh chóng, chính xác
Việc xử lý thông tin dựa trên các thông tin thứ cấp là công việc hết sức phức tạp
đòi hỏi trình độ nghiệp vụ cao của cán bộ thẩm định, và phân tích, dự báo các nhân tố
tác động tới công cuộc đầu tư nhằm xác định rủi ro của dự án có vai trò cực kỳ quan
trọng do các dự án dài, sự biến động của thị trường có thể gây nên những bất lợi vô cùng
lớn cho việc tài trợ dự án.
2
1.2.3 Tổ chức lại bộ máy thẩm định nhằm đảm bảo tính độc lập, trung thực của các kết
quả thẩm định.
Nhìn chung, các dự án trước khi được ký quyết định đồng ý cho vay thì đều phải
qua quá trình tái thẩm định tại NH. Công việc này không kém phần quan trọng, và
thường được các chuyên gia của NH đảm nhiệm. Đối với DAPT, nhất là DA lớn, quan
trọng trong chiến lược quốc gia, nhiều trường hợp NH phải thuê chuyên gia để làm công
việc này nhằm đảm bảo chất lượng thẩm định.
1.3. Nội dung của thẩm định DAPT và DATM PHẠM VIỆT HÙNG TRBAY
thường bao gồm:Thẩm định sự cần thiết của tài trợ, thẩm định hiệu quả vốn đầu tư, thẩm
định rủi ro của DA, thẩm định hiệu quả xã hội, mối tương tác giữa hiệu quả tài chính và
hiệu quả xã hội.
1.3.1. Thẩm định sự cần thiết của tài trợ.
NHTM sẽ quan tâm đến mục đích thực sự của việc vay vốn, tính pháp lý của dự
án, đối chiếu với mục tiêu NH trên cơ sở đó, quyết định có đầu tư hay không.
Đối với NHPT, sự cần thiết đầu tư thể hiện ở tính pháp lý của dự án, là một yếu tố
quan trọng khi xem xét cho vay vốn. Tính pháp lý này phải được đảm bảo bằng văn bản
chính thức của cơ quan quản lý và được thể hiện trong hồ sơ. Thường hồ sơ xin tài trợ
DAPT có rất nhiều loại văn bản kiểu này.
NHPT còn phải chịu sức ép khi mà dự án phát triển là do chính phủ hoạch định,
và việc thẩm định này không còn mang tính chất cân nhắc đầu tư nữa mà là định hướng
cho NHPT phương pháp tài trợ thích hợp.
Thẩm định các mục tiêu của dự án
NHPT chỉ ưu đãi cho một số mục tiêu nhất định, các dự án không thuộc diện ưu
đãi cũng phải nằm trong mục tiêu của NH. Dự án chỉ nhằm mục tiêu xã hội, không tạo
lý
Cả ngân hàng phát triển và ngân hàng thương mại đều mong muốn có lợi nhuận
nên việc thẩm định người chịu trách nhiệm là hoàn toàn với mục đích giống nhau, đều là
NHPT NHTM
- NHPT với tư cách là tổ chức tài chính của chính
phủ, những dự án mà ngân hàng này tài trợ nhằm
mục đích trước hết vì lợi ích kinh tế xã hội=> ngân
hàng sẽ lựa chọn những dự án không những có lợi
nhuận, mà còn phải có những lợi ích XH
Ngân hàng thương mại với
mục tiêu hoạt động vì lợi
nhuận=> Ngân hàng sẽ lựa
chọn những dự án mang lại lợi
nhuận
Tính toán các chỉ tiêu về lợi nhuận và kinh tế:
ENPV(giá trị hiện tại ròng kinh tế),EIRR(tỷ suất nội
hoàn kinh tế),EBCR ( tỷ số lợi ích, chi phí kinh tế)…
Tính toán theo các tiêu chí lợi
nhuận NPV, IRR, BCR…
4
thẩm định xem năng lực quản lý của người chịu trách nhiệm dự án tốt hay không vì điều
này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoàn vốn của dự án.
Chỉ khác ở đối tượng vay vốn
- NHTM, các tổ chức tín dụng khác:
+NHPT tài trợ thông qua NH đầu mối, NHPT lựa chọn dự án và
kêu gọi tài trợ từ các NHTM
+ NHPT tài trợ một phần vốn, với LS thấp và phần còn lại do
các NHTM tài trợ với LS Tmai, NHTM đồng thời giải ngân ủy thác
phần vốn của NHPT
NHPT thẩm định khả năng cho vay, thu hồi vốn và khả năng
chức năng thẩm định dự án, Công việc này sẽ do NHPT thẩm định và lựa chọn
2.1.4. Xác định rủi ro của dự án
Đây là nghiệp vụ mà cả NHPT và NHTM đều quan tâm.
5
Thông qua việc tìm hiểu, phân tích và dự báo tổng quan về những nhân tố ảnh
hưởng đến tương lai của dự án, từ đó xác định những rủi ro có thể làm cho dự án trở nên
tồi tệ từ đó nhanh chóng tìm biện pháp khắc phục
2.2. Tìm kiếm nguồn tài trợ thích hợp NGUYỄN CHÍNH TRBAY
NHPT NHTM
-Tìm kiếm nguồn phù hợp: Tùy thuộc
từng dự án
+ DA có khả năng sinh lời thấp =>
Nguồn lãi suất hỗn hợp( lãi suất thị
trường và lãi suất ưu đãi )
+ DA có khả năng sinh lời cao =>
nguồn trên thị trường
+ DA có thời gian dài => khả
năng chuyển hóa nguồn vốn
-Huy động tiết kiệm trung và dài hạn,
phát hành giấy nợ trung và dài hạn
- Nguồn ODA, các nguồn tài trợ của
các thể chế tài chính quốc tế với lãi suất
thấp, thời gian dài
- Đồng tài trợ với các ngân hàng thương
mại
- phát hành giấy tờ có giá
- Đi vay ngân hàng thương mại và các
tổ chức tín dụng khác
- Huy động tiết kiệm trung và dài hạn
- Đồng tài trợ với các NHTM khác,
NHPT bảo lãnh để dự án phát hành trái phiếu dài hạn trên thị trường trong nước và quốc
tế, hoặc vay của ngân hàng nước ngoài.
Ví dụ,Ngân hàng Eximbank của Pháp sẽ cho vay với lãi suất thấp với các doanh
nghiệp nước ngoài mua máy bay của Pháp( với điều kiện phải có bảo có bảo lãnh của
chính phủ hoặc tổ chức tín dụng có uy tín). Trường hợp này, NHPT có thể bảo lãnh cho
hàng không vay của Eximbank của Pháp để phát triển đội bay
2.4. Ký kết hợp đồng tín dụng NGUYỄN HOÀNG LIÊN THUYẾT TRÌNH
Hợp đồng tín dụng của cả NHPT và NHTM đều có sự thỏa thuận giữa khách hàng
và ngân hàng về quy mô,lãi suất của các khỏan tín dụng, các khỏan phí, thời hạn tín
dụng và kỳ hạn trả nợ, quyền hạn và trách nhiệm của ngân hàng trong quá trình tài trợ,
nghĩa vụ của khách hàng trong việc trả nợ ngân hàng, số tiền gốc lãi phải trả hàng
kỳ Tuy nhiên vì mục tiêu hoạt động của hai loại hình ngân hàng này khác nhau nên
các quy định cụ thể cũng có những điểm khác nhau:
7
Điểm
SS
NHPT NHTM
1.
Quy
mô
và cơ
cấu.
- Vì các dự án tài trợ là các DAPT nên quy
mô cơ cấu lớn, cần tài trợ từ nhiều nguồn.
- Công thức xác định :
+ Nhu cầu vay vốn = Nhu cầu vốn đầu tư
- vốn tự có -Nguồn khác.
+ Nhu cầu vay ngân hàng= Nhu cầu vay-
Vay các tổ chức tín dụng khác.
- Tài trợ DATM quy mô nhỏ, nên vốn
thấp hơn là các khách hàng mới.
- Việc phân biệt LS giúp cho NHTM
quản lý tốt hơn NV của mình cũng có
nghĩa là đảm bảo mục tiêu LN cho NH.
3.
Đảm
bảo
tiền
vay
Do thời hạn tín dụng dài, các tài sản dùng
trong thế chấp thường khó bán để thu hồi
vốn. Vì vậy cần có sự đảm bảo:
- Đảm bảo của CP’có thể dưới hình thức:
+ Bù đắp một phần tổn thất cho NH (ngoài
quỹ DP) nếu chủ không trả được.
+Mua lại một số khỏan nợ của NH để đảm
bảo tính thanh khoản cho NH trong một số
trường hợp cần thiết.
+Bao tiêu một số sản phẩm của dự án với
giá có lợi cho dự án.
Do các tài sản thế chấp của dự án
thường dễ bán hơn, vốn tài trợ của dự
án nhỏ nên tài sản đảm bảo thường là do
chủ đầu tư đưa ra, hoặc sự bảo lãnh của
các tổ chức tín dụng khác là được tài
trợ.
8
- Đảm bảo của chủ đầu tư: Vì là dự án
phát triển nên chủ đầu tư có thể là Bộ,
Tổng công ty, các cấp chính quyền,
- Kiểm soát chất lượng hạng mục công
trình
Là giai đoạn nhằm mục tiêu đảm
bảo tiền vay sử dụng đúng mục
đích, kiểm soát rủi ro tín dụng:
-Giám sát tài khoản của khách
hàng tại ngân hàng
-phân tích báo cáo tài chính của
khách hàng theo định kỳ
-giám sát thông qua việc trả lãi.
….
3.
Thu nợ
Gắn với quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
Theo đúng những điều khoản cam
kết trong hợp đồng tín dụng.
9
II. THỰC TẾ: Lấy ví dụ và phân tích về 1 DAPT, và 1 DATM. Căn cứ vào các điểm
giống và khác nhau đã làm ở trên để phân tích.
10