hoạt động đầu tư phát triển tại công ty cổ phần phát triển phát thanh truyền hình (bdc). thực trạng và giải pháp - Pdf 10

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN PHÁT THANH TRUYỀN
HÌNH (BDC) 3
I. Giới thiệu chung về Công ty BDC 3
1. Lịch sử hình thành 3
2. Nhiệm vụ ban đầu khi mới thành lập của Công ty BDC 4
3. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty BDC: 4
4. Các sản phẩm chính của Công ty BDC: 5
5. Cơ cấu tổ chức công ty BDC 6
6. Tình hình phân bổ nhân lực 10
7. Cơ sở vật chất – kỹ thuật của công ty 11
II. Tình hình kinh doanh của công ty một số năm gần đây 12
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN PHÁT THANH
TRUYỀN HÌNH GIAI ĐOẠN 2005-2010 15
I. Tầm quan trọng của hoạt động đầu tư phát triển đối với công ty
BDC 15
1. Đầu tư phát triển-điều kiện kiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp 15
2. Chủ trương, chính sách của Đảng về phát triển phát thanh truyền
hình 15
3. Đầu tư phát triển nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty BDC
trong giai đoạn hiện nay 16
II. Tình hình vốn và nguồn vốn huy động của công ty BDC 17
1. Khái quát chung về tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư phát
triển của công ty BDC 17
2. Nguồn vốn huy động bên trong của công ty: 19
2.1. Nguồn lợi nhuận để tái đầu tư 19
2.2. Quỹ khấu hao 20

47
1.1. Giảm vay ngắn hạn ngân hàng, tăng cường hơn nữa việc vay vốn cán
bộ công nhân viên 47
1.2. Phát hành cổ phiếu ra công chúng 48
1.3. Thanh lý bớt Tài sản cố định nhằm bổ sung nguồn vốn lưu động 49
1.4. Huy động vốn qua hợp tác liên doanh 50
1.5. Giải pháp về vấn đề sử dụng vốn 51
2. Giải pháp cho hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản tại công ty BDC 52
2.1. Tiến hành nâng cấp và đổi mới có chọn lọc lượng Tài sản cố định
trong thời gian tới 52
2.2. Đổi mới máy móc thiết bị thông qua tín dụng thuê mua 52
2.3. Quản lý chặt chẽ việc sử dụng Tài sản cố định của công ty 53
3. Giải pháp cho hoạt động đầu tư bổ sung hàng tồn trữ 54
4. Giải pháp trong đầu tư phát triển nguồn nhân lực 54
5. Giải pháp trong đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa
học công nghệ 56
6. Giải pháp về đầu tư cho các hoạt động Marketing 57
III. Điều kiện để thực thi các giải pháp 58
1. Về phía Nhà nước 58
2. Về phía Công ty BDC 59
KẾT LUẬN 61
LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin thế giới trong vài
năm trở lại đây, lĩnh vực phát thanh truyền hình ngày càng được coi trọng và ưu
tiên phát triển. Phát thanh truyền hình đã đưa các quốc gia xích lại gần hơn và
không bị ràng buộc bởi khoảng cách về địa lý, ngôn ngữ và tập tục văn hoá.
Ở Việt Nam, phát thanh truyền hình ngày càng khẳng định vị trí là một trong
những phương tiện thiết yếu của đời sống xã hội, là công cụ chính trị sắc bén tuyên
truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời nâng cao
dân trí, đáp ứng nhu cầu thông tin, giải trí ngày càng cao và đa dạng của công

CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN PHÁT THANH
TRUYỀN HÌNH (BDC)
I. Giới thiệu chung về Công ty BDC
1. Lịch sử hình thành
Công ty ứng dụng phát triển Phát thanh Truyền hình (BDC), tên giao dịch
quốc tế Broadcasting Development Company (BDC), có trụ sở chính tại 59 - 61
Thợ Nhuộm, Hoàn Kiếm, Hà Nội, là một trong những công ty chuyên ngành, đi đầu
trong công tác nghiên cứu, phát triển và ứng dụng kỹ thuật phát thanh truyền hình
của Việt Nam.
Tiền thân của Công ty là Viện Nghiên cứu phát triển phát thanh truyền hình
thuộc Uỷ Ban phát thanh truyền hình được thành lập năm 1979. Sau nhiều năm hoạt
động đạt được nhiều thành tích tốt và có những kết quả đáng khích lệ, Viện nghiên
cứu đã đổi tên thành Liên hiệp Truyền thanh Truyền hình Hà Nội thuộc Bộ Văn hoá
Thông tin (năm 1988) và là Công ty ứng dụng phát triển Phát thanh Truyền hình
thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam (năm 1994), và nay là Công ty cổ phần phát triển
phát thanh truyền hình (theo quyết định số 1133/QĐ-TNVN ngày 30/11/2007) của
Đài Tiếng Nói Việt Nam. Công ty BDC đã có một bề dày về lịch sử và phát triển
cùng với những bước tiến không ngừng của lĩnh vực phát thanh truyền hình trên cả
nước. Kể từ ngày thành lập, sự phát triển mạnh mẽ của BDC đạt được là nhờ vào
chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Công ty luôn suy nghĩ và
hành động nhằm giải quyết các vấn đề của khách hàng đặt ra một cách hiệu quả
nhất. Điều đó thể hiện bởi niềm tin từ các trạm thu phát thanh, phát hình tại các tỉnh
thành, các huyện…, các nhà khai thác, cung cấp dịch vụ trong và ngoài Ngành.
Các thành tựu đạt được:
- Công ty BDC đã được tổ chức Business Initiative Directions (Tây Ban Nha)
trao giải Sao vàng quốc tế về chất lượng năm 2007, được Chủ tịch nước trao tặng
Huân chương lao động hạng Nhì và liên tiếp trong nhiều năm liền được Đài Tiếng
nói Việt Nam trao tặng bằng khen về những đóng góp trong sự nghiệp phát triển
chung của ngành.

truyền hình.
- Xuất nhập khẩu máy móc thiết bị, vật tư hàng hoá phục vụ nhiệm vụ kinh
doanh của Công ty BDC.
4
- Xuất nhập khẩu máy móc thiết bị phụ tùng, phương tiện vận tải, vật tư phục
vụ sản xuất, vật liệu xây lắp, hàng tiêu dùng thiết yếu.
- Sản xuất, lắp ráp máy phát sóng, tăng âm, anten và các phụ kiện chuyên
dùng phục vụ truyền thanh truyền hình. (Các sản phẩm của Công ty BDC được bảo
hộ về nhãn hiệu thương mại theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá số
31585 ngày 24/07/1999 của Cục Sở hữu Công nghiệp)
- Sản xuất kinh doanh thiết bị thông tin viễn thông, thiết bị bảo vệ an toàn, các
sản phẩm cơ khí, vật liệu điện, điện lạnh, điện tử phục vụ chuyên ngành và dân
dụng.
- Sản xuất, lắp dựng cột anten, các cột tự đứng, hệ thống anten trong lĩnh vực
phát thanh truyền hình và thông tin đại chúng.
- Hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước để đầu tư trực tiếp và gián tiếp
trong các dự án phát triển ngành phát thanh - truyền hình - viễn thông và các ngành
kinh tế khác
- Đào tạo và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực phát thanh - truyền hình -
viễn thông.
Cho đến nay, Công ty BDC đã cung cấp và lắp đặt hơn 800 máy phát hình,
máy phát thanh FM Stereo và các máy phát thanh sóng trung cho nước bạn Lào và
các địa phương trên mọi miền đất nước.
4. Các sản phẩm chính của Công ty BDC:
Công ty cổ phần ứng dụng phát triển phát thanh truyền hình với hoạt động chủ
yếu là sản xuất, chế tạo và kinh doanh các loại thiết bị, máy móc kỹ thuật dùng
trong phát thanh và truyền hình. Các sản phẩm chính của công ty bao gồm:
- Máy phát FM Stereo công suất lên tới 50KW (hiện nay Công ty BDC đang là
đại diện bán hàng độc quyền của các hãng sản xuất thiết bị phát thanh truyền hình
nổi tiếng như Harris (Mỹ), CTE (Italy), trên lãnh thổ Việt Nam).

hội. Hội đồng quản trị của công ty gồm 05 người, trong đó 01 Chủ tịch Hội đồng
quản trị, 01 Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị và 03 Uỷ viên Hội đồng quản trị.
Ban Kiểm soát : Là Cơ quan giám sát của của Đại hội cổ đông, do Đại hội cổ
đông bầu ra. Ban kiểm soát có quyền thanh tra và giám sát tất cả các hoạt động của
công ty.
Về nhân sự: 3 người
Ban giám đốc: Có trách nhiệm tổ chức, điều hành toàn bộ hoạt động kinh
doanh trong Công ty, chịu trách nhiệm về toàn bộ kết quả hoạt động kinh doanh, đại
6
diện cho toàn thể cán bộ công nhân viên và thay mặt Công ty quan hệ pháp lý với
các đơn vị, tổ chức bên ngoài.
Về nhân sự: 3 người, bao gồm 1 giám đốc, 1 phó giám đốc tài chính và 1 phó
giám đốc kinh doanh
Giám đốc: Là người nắm quyền hành cao nhất trong Công ty, trực tiếp chịu
trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh, về việc bảo đảm thực thi đầy đủ các
chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước .
Phó giám đốc kinh doanh: có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
+ Xem xét tồn kho và yêu cầu sản xuất.
+ Ký hợp đồng cung cấp sản phẩm cho khách hàng, duyệt nhu cầu mua vật
liệu, duyệt danh sách nhà thầu phụ được chấp nhận, ký đơn hàng, mua nguyên vật
liệu (khi được uỷ quyền).
+Tìm hiểu thị trường, tiến hành tổ chức tham gia các hội chợ, xem xét tổ chức
quảng bá sản phẩm, xem xét và quyết định mở các đại lý. Kiểm tra nội dung phê
duyệt tài liệu có liên quan đến công tác kinh doanh (khi được uỷ quyền).
Phó giám đốc tài chính: có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
+Thực hiện các nghiệp vụ kế toán theo pháp chế thống kê kế toán của nhà
nước .
+ Theo dõi và báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch tài chính tháng, quí, năm.
+ Xây dựng các kế hoạch tài chính, kế hoạch vay vốn, thay mặt giám đốc giám
định với ngân hàng về mặt tài chính.

cơ khí điện tử. xí nghỉệp có nhiệm vụ Thực hiện các công đoạn sản xuất sản phẩm
hoặc cung cấp các hoạt động phù trợ cho sản xuất
Bảng 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức công ty BDC
8
9
HỘI ĐỒNG
QUẢN TRỊ
BAN GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
KINH DOANH
PHÓ GIÁM ĐỐC
TÀI CHÍNH
GIÁM
ĐỐC
TRUNG TÂM KỸ
THUẬT
P
H
Ò
N
G

K


T
O
Á
N
-

P
H
Ò
N
G

T
H
A
N
H

T
O
Á
N

C
Ô
N
G

N

B


P
H



I

T
H
I

U

S

N

P
H

M
B


P
H

N

Â
M

T
H

G
H
I

P

C
Ơ

K
H
Í

Đ
I

N

T

TƯ VẤN KỸ
THUẬT VÀ CHĂM
SÓC KHÁCH
HÀNG
CÁC TỔ KỸ
THUẬT THI CÔNG
CÔNG TRÌNH
CÁC PHÒNG NGHIỆP
VỤ
XÍ NGHIỆP TRỰC

thừa, các phòng ban được sắp xếp tinh giảm hơn, gọn nhẹ hơn.
Bảng 2: Cơ cấu công nhân viên công ty BDC phân theo học vị tính đến
tháng 12/2009
Học vị Số lượng (người)
- Tiến sĩ kinh tế 08 người
- Thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành điện tử 13 người
- Kỹ sư tốt nghiệp các trường đại học kỹ thuật 84 người
- Thạc sỹ kinh tế, cử nhân kinh tế 36 người
- Công nhân lành nghề 256 người
Nguồn: Phòng tổ chức hành chính - Cty BDC)
Số cán bộ kỹ thuật nghiệp vụ có trình đội đại học và trên đại học chiếm
35,5% trong tổng số cán bộ kỹ thuật nghiệp vụ. Đây cũng là đội ngũ lãnh đạo chủ
chốt của công ty trong những năm qua, là đội ngũ đã đóng góp rất lớn vào những
thắng lợi trong sản xuất kinh doanh của công ty.
Trong đó, số cán bộ kỹ thuật nghiệp vụ có thâm niên trình độ lớn hơn 10 năm
chiếm 43%. Đội ngũ cán bộ này đều là những người đã được rèn luyện trong thực
tiễn, đúc rút được nhiều kinh nghiệm, hiểu biết về kinh tế thị trường, về tổ chức sản
xuất và về quản lý nhân sự, có hiểu biết về pháp luật, có bản lĩnh chính trị vững
vàng, tinh thần đoàn kết tập thể cao.
Đội ngũ công nhân có tay nghề bậc 4/7 trở lên chiếm đa số. Đây là đội ngũ
công nhân kỹ thuật được đào tạo cơ bản tại các trường dạy nghề trong nước, có sức
khỏe tốt,cần cù và chịu khó làm việc. Phần lớn công nhân này đều có ý thức kỷ luật
10
tốt, có tác phong làm việc công nghiệp, đáp ứng được yêu cầu sản xuất với cường
độ cao, tay nghệ tôt, tiếp thu công nghệ nhanh.
Ngoài ra, Công ty BDC còn có một đội ngũ hơn 60 cộng tác viên là các giáo
sư, tiến sĩ, kỹ sư đầu ngành hiện đang công tác tại các trường đại học, viện nghiên
cứu, Đài Phát thanh Truyền hình Trung ương và địa phương, các cơ sở sản xuất
luôn kết hợp cùng cán bộ kỹ thuật của Công ty nghiên cứu, ứng dụng công nghệ
tiên tiến, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm do BDC sản xuất

bối cảnh đó, công ty BDC cũng như các doanh nghiệp khác đã phải đối đầu với
nhiều thử thách. Mặt khác, công ty cũng gặp phải những khó khăn ban đầu sau cổ
phần hóa. Tuy nhiên nhờ có sự phấn đấu không ngừng của cán bộ công nhân viên,
công ty đã từng bước vượt qua được những khó khăn ban đầu và dần khẳng định vị
thế của mình trên thị trường. Trong những năm gần đây công ty đã có những bước
tiến cả về chất lượng và khối lượng.
Dưới đây là Bảng tổng hợp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công
ty năm 2008 và 2009 căn cứ vào những báo cáo tài chính, báo cáo thuế và báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh được kiểm toán nhà nước kiểm tra và xác nhận:
12
Bảng 3: Kết quả họat động sản xuất kinh doanh chủ yếu của Công ty BDC
(Đơn vị: nghìn đồng)
TT Chỉ tiêu 2008 2009
1 Tổng doanh thu
29538121 34181340
2 Các khoản giảm trừ
156322 150839
3 Doanh thu thuần
29381799 34030499
4 Giá vốn hàng bán
27566968 31768472
5 Lợi nhuận gộp
7160587 7751099
6 Chi phí bán hàng
343305 120802
7 Chi phí QLDN
675987 1031417
8 Lợi nhuận thuần từ HĐKD
229245 426604
9 Thu nhập từ HĐTC

triệu đồng tăng 64,714 triệu đồng so với năm 2008 (Năm 2008 đạt 971,373 triệu
đồng). Hiện công ty chia cổ tức cho các cổ đông theo tỷ lệ 23% lợi nhuận. Thu nhập
bình quân đầu người của công ty cũng tăng từ 2.600.000đ năm 2008 lên 2.800.000đ
vào năm 2009.
Qua việc phân tích khái quát trên ta có thể thấy mặc dù chuyển sang loại hình
công ty cổ phần, công ty gặp phải không ít những khó khăn song công ty đã từng
bước đưa hoạt động sản xuất kinh doanh đi vào ổn định và phát triển.
14
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN PHÁT
THANH TRUYỀN HÌNH GIAI ĐOẠN 2005-2010
I. Tầm quan trọng của hoạt động đầu tư phát triển đối với công ty BDC
1. Đầu tư phát triển-điều kiện kiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp
Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài
chính, nguồn lực vật chất.nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà
cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi
dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với hoạt
động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực mới cho nền kinh tế -xã hội, tạo ra
việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
Như vậy ta có thể thấy đầu tư phát triển là điều kiện kiên quyết cho sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp. Bất kì một lĩnh vực nào trong doanh nghiệp cũng
cần phải đầu tư cả về vật chất, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và khoa học công
nghệ. Công ty BDC cũng không nằm ngoài quy luật đó.
2. Chủ trương, chính sách của Đảng về phát triển phát thanh truyền hình
Nghị quyết số 41/2004/QH11 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam Khóa XI, kỳ họp thứ sáu đã đề ra các nhiệm vụ cụ thể cho lĩnh vực phát
triển Phát thanh và truyền hình là:
“Phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững đi đôi với quản lý tốt; tiếp thu có chọn
lọc kinh nghiệm thế giới, khu vực và phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán

triển phát thanh truyền hình chung của đất nước. Như vậy đầu tư phát triển tại công
ty BDC, xét về một khía cạnh nào đó còn là phương tiện, cách thức để công ty thực
hiện nghĩa vụ chính trị với Đảng và Chính phủ
3. Đầu tư phát triển nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty BDC trong giai
đoạn hiện nay.
Xuất phát từ mục tiêu của công ty và tình hình cạnh tranh trên thị trường
hiện nay. Mặc dù có lợi thế là một trong những công ty hàng đầu cung cấp dịch vụ
công nghệ phát thanh truyền hình Việt Nam, tuy nhiên công ty cũng vẫn phải đối
mặt với tình hình cạnh tranh ngày một gay gắt từ các công ty nước ngoài có lợi thế
hơn BDC về vốn và công nghệ. Ngoài ra các đối thủ cạnh tranh truyền thống của
công ty BDC về công nghệ phát thanh truyền hình trong nước cũng bắt đầu chú
trọng đổi mới thiết bị công nghệ để có thể sản xuất ra những sản phẩm có chất
16
lượng tốt, giá thành hạ, gây cho công ty áp lực cạnh tranh không nhỏ như công ty
TQT, VTC, EMI-TEC…; và cùng với đó là sự xuất hiện ngày một nhiều các công
ty tư nhân kinh doanh vật tư phát thanh truyền hình.
Như vậy nhìn chung là trình độ thiết bị công nghệ của các công ty cùng
ngành đang được đổi mới và nâng lên từng ngày. Chính vì thế để tạo được ưu thế
cạnh tranh so với các đối thủ, công ty BDC cần đẩy mạnh đầu tư đổi mới máy móc
thiết bị công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực nhằm nâng cao chất lượng và hạ giá
thành sản phẩm, hay nói cách khác là phải đẩy mạnh họat động đầu tư phát triển
II. Tình hình vốn và nguồn vốn huy động của công ty BDC
1. Khái quát chung về tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của
công ty BDC
Vốn đầu tư là điều kiện cần thiết cho quá trình sản xuất cho doanh nghiệp
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn đầu tư giúp doanh nghiệp hoạt
động được liên tục, mở rộng sản xuất, mua sắm máy móc thiết bị cho quá trình sản
xuất, đào tạo nhân lực và phát triển khoa học công nghệ.
Từ khi mới thành lập và đi vào hoạt động (năm 1979), là một doanh nghiệp
nhà nước nên công ty BDC chỉ thuần túy thực hiện các kế hoạch do Nhà nước giao

3.501 3.452 3.225 3.326 3.354
-Vay nhân
viên
0 0 254 6.400 7.200
-Ngân
sách và
TDĐT
6.500 6.400 6.200 930 1.100
-Khác 1.890 2.105 2.326 2.214 1.423
Vốn ngoài
công ty
12.843 12.303 13.130 17.353 18.972
-Tín dụng
ngân hàng
10.837 10.825 12.256 14.143 11.313
-Phát hành
cổ phiếu
0 0 0 1.500 3.000
-Khác 1.006 1.478 1.874 1.710 1.659
Tổng 21.978 23.014 26.418 27.256 28.319
(Nguồn: Báo cáo tài chính công ty BDC các năm 2005-2010)
Có thể nhận thấy rằng nguồn vốn huy động của công ty tăng dần qua các năm
nhưng tỷ lệ gia tăng không cao. Mức tăng trưởng bình quân của toàn hệ thống là
5,21%, đặc biệt giai đoạn 2008-2009 chỉ là 1,2%. Trong những năm 2008-2009 tình
18
hình kinh tế thế giới, khu vực bị suy thoái và bất ổn định đã ảnh hưởng trực tiếp đến
nền kinh tế của nước ta. Công ty BDC chịu sự quản lý của Nhà nước do đó cũng ít
nhiêu bị ảnh hưởng. Trước tình trạng đó, công ty BDC đã từng bước tháo gỡ những
khó khăn và tìm phương hướng nhằm khơi thông nguồn vốn.
Về tình hình sử dụng vốn đầu tư của công ty ta có thể xem xét bảng số liệu

Đơn vị
Vốn CĐ 64,85 64,58 64,48 64,28 63,27 %
Vốn LĐ 35,15 35,42 35,52 35,72 36,63 %
(Nguồn: Phòng kế toán thống kê - Cty BDC)
Ta thấy rằng tổng vốn đầu tư thực hiện của công ty tăng liên tục qua các năm
và vốn cố định luôn chiếm tỷ trọng cao hơn hẳn so với vốn lưu động. Vốn cố định
giai đoạn này bình quân là 64,21% và 35,79% là vốn lưu động. Tuy nhiên sự gia
tăng của vốn cố định và vốn lưu động là khác nhau. Vốn lưu động có tốc độ tăng
nhanh hơn vốn cố định được thể hiện qua các bảng 5, 6 và ngày càng chiếm tỷ trọng
cao trong tổng vốn đầu tư. Nhu cầu vốn lưu động là một điều kiện khá quan trọng
đối với công ty vì đây là số phản ánh sự phát triển cũng như khả năng đầu tư của
doanh nghiệp ngày càng cao.
2. Nguồn vốn huy động bên trong của công ty:
2.1. Nguồn lợi nhuận để tái đầu tư
Lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp đã
bỏ ra trong một thời kỳ nhất định. Sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, chuyển
lỗ theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì doanh nghiệp tự quyết
định việc trích lập các quỹ theo mục đích của mình.
19
Lợi nhuận để lại để tái đầu tư là một nguồn tài trợ quan trọng cho hoạt động
đầu tư mua sắm, đổi mới máy móc thiết bị của công ty BDC. Hàng năm, công ty
trích lập một phần lợi nhuận sau thuế để hình thành nên quỹ phát triển sản xuất.
Việc trích lập, sử dụng và quản lý quỹ phát triển sản xuất do công ty tự tiến hành và
phải đảm bảo thực hiện đúng mục đích khi hình thành quỹ. Hiện nay, theo quyết
định của Hội đồng quản trị, công ty đã tiến hành trích lập quỹ phát triển sản xuất
với tỷ lệ là 25% lợi nhuận sau thuế. Với mức trích như vậy, từ số liệu bảng kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty năm 2008 và 2009, ta có thể đễ dàng
tính được công ty đã bổ sung vào quỹ phát triển sản xuất 243 và 256 triệu VNĐ.
Tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn trong một vài năm gần đây đã làm nguồn
vốn từ quỹ này tăng chậm.

Với cách tính khấu hao như trên ta có thể thấy số trích khấu hao qua các năm
trên bảng số liệu 4. Phần lớn số tiền trong quỹ khấu hao công ty dùng để đầu tư mua
sắm, sửa chữa Tài sản cố định (chiếm trên 70%); còn lại dùng để trả lãi vay.
2.3. Vốn vay cán bộ công nhân viên
Vay cán bộ công nhân viên trong công ty là hình thức khá phổ biến hiện nay
tại các doanh nghiệp. Song không phải tất cả các doanh nghiệp đều có thể áp dụng
hình thức này. Chỉ doanh nghiệp nào làm ăn kinh doanh có hiệu quả, mức thu nhập
của cán bộ công nhân viên cao mới có thể huy động vốn vay từ cán bộ công nhân
viên.
Trước tình hình nguồn vốn bên trong còn hạn hẹp và nguồn vốn huy đông bên
ngoài còn gặp nhiều khó khăn hạn chế, công ty BDC đã chủ động vay vốn từ nguồn
tiết kiệm nhàn rỗi của các cán bộ công nhân viên trong công ty. So với vay ngân
hàng thì vay vốn từ cán bộ công nhân viên có hạn chế là số vốn vay không lớn
nhưng lại có thể vay trong một thời gian dài, không cần phải thế chấp tài sản đồng
thời sẽ tạo ra sự gắn bó mật thiết giữa cán bộ công nhân viên và doanh nghiệp, thúc
đẩy họ tích cực hơn trong lao động và có ý thức hơn trong việc bảo quản, giữ gìn tài
sản. Hiện công ty vẫn duy trì mức lãi suất vay nhân viên cao hơn lãi suất huy động
của ngân hàng một chút, đảm bảo cho họ vẫn có lãi hơn khi gửi ngân hàng.
Như vậy nhờ chính sách vay vốn cán bộ công nhân viên, Công ty đã cải thiện
dần được phần nào sự mất cân đối trong cơ cấu nguồn vốn và sử dụng vốn, tránh
được áp lực phải trả lãi khi vay ngân hàng, bảo đảm đáp ứng đầy đủ nguồn vốn
phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh doanh và đặc biệt là nâng cao tinh thần trách
nhiệm của cán bộ công nhân viên trong lao động sản xuất kinh doanh.
21
2.4. Vốn ngân sách và Vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước:
Vốn ngân sách là nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước (ngân sách trung
ương, ngân sách địa phương) cho các dự án đầu tư và các công trình xây
dựng.Trong giai đoạn gần đây, các doanh nghiệp Nhà nước không còn được ưu đãi
so với các thành phần kinh tế khác như trước đây. Bởi vậy trong các nguồn vốn huy
động thì nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp là không lớn và có xu hướng giảm liên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status