Lời nói đầu
Từ đại hội VI đến nay, trải qua gần 20 năm thực hiện đổi mới nền kinh
tế nớc ta đã có những chuyển biến to lớn, đời sống nhân dân ngày càng đợc
cải thiện, trình độ dân trí ngày một đợc nâng cao, sức cạnh tranh và địa vị
kinh tế của Việt Nam trong khu vực và trên trờng quốc tế ngày một đợc
khẳng định. Nớc ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, tình trạng đình
đốn trong sản xuất, rối ren trong lu thông đợc khắc phục. Kinh tế tăng trởng
nhanh và ổn định, nhịp độ tăng tổng sản phẩm trong nớc (GDP) bình quân
hàng năm thời kỳ 2001-2005 đạt 7,4%, lạm phát bị đẩy lùi từ 774,7% năm
1986 xuống còn ; 3% năm 2003; 5% năm 2005
Bên cạnh những thuận lợi còn có những khó khăn thách thức. Đảng và
Nhà nớc ta chủ trơng thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản
lí của Nhà nớc theo định hớng XHCN, đó chính là nền kinh tế thị tr-
ờng định hớng XHCN. Trong đó kinh tế Nhà nớc phát huy vai trò chủ đạo, là
lực lợng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nớc định hớng và điều tiết
vĩ mô nền kinh tế. Kinh tế Nhà nớc là đòn bẩy nhanh tăng trởng kinh tế và
hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
Chơng I:
Lý luận chung về kinh tế Nhà nớc. Tính tất yếu khách quan vai
trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng
định hớng XHCN ở Việt Nam.
1. Lý luận chung về kinh tế Nhà nớc.
1.1. Đặc điểm sở hữu của kinh tế nhà nớc
1
Trớc hết chúng ta cần khẳng định kinh tế Nhà nớc thuộc sở hữu nhà nớc.
Theo Lênin, trong giai đoạn chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế xã hội chủ nghĩa
đợc xây dựng trên cơ sở công hữu XHCN về t kiệu sản xuất dới hai hình thức
toàn dân và tập thể quan trọng nhất là sở hữu toàn dân. ở nớc ta trong thời kỳ
quá độ hiện nay sở hữu toàn dân đợc nhận thức sáng tạo là sở hữu Nhà nớc.
Sở hữu Nhà nớc là hình thức sở hữu mà Nhà nớc là đại diện cho nhân dân sở
kiện cho thành phần kinh tế Nhà nớc vơn lên nắm vai trò chủ đạo. Đại hội
Đảng lần thứ VIII đã khẳng định: Chủ động đổi mới phát triển và nâng cao
hiệu quả kinh tế Nhà nớc, kinh tế hợp tác. Kinh tế Nhà nớc đóng vai trò chủ
đạo cùng với kinh tế hợp tác xã dần dần trở thành nền tảng. Mở rộng các
hình thức liên doanh liên kết giữa kinh tế Nhà nớc với các thành phần kinh tế
khác cả trong và ngoài nớc.. Nh vậy theo chủ trơng của Đảng và Nhà nớc ta,
thành phần kinh tế Nhà nớc sẽ không ngừng đợc củng cố và phát triển đảm
định hớng nền kinh tế theo CNXH.
2. Vai trò chủ đạo của KT Nhà nớc trong nền KT nhiều thành phần
định hớng XHCN.
2.1. Vì sao KT Nhà nớc đóng vai trò chủ đạo trong nền KT nhiều thành
phần định hớng XHCN
Về vai trò chủ đạo, khoa học Mác-Lênin khẳng định: sự tồn tại của
nhiều kiểu quan hệ sản xuất trong cơ sở hạ tầng của một hình thái kinh tế xã
hội nhất định là tất yếu. Trong nhiều kiểu quan hệ sản xuất đó, có một kiểu
quan hệ sản xuất giữ địa vị thống trị, tức giữ vai trò chủ đạo, không thể
không có quan hệ sản xuất chủ đạo. Nếu không thì không có cơ sở kinh tế để
duy trì, củng cố sự thống trị của giai cấp thống trị, cũng nh bảo đảm sự vận
động phát triển của kinh tế, xã hội theo một hớng nhất định. Văn kiện Đại
hội Đảng VIII cũng đã khẳng định: Nền kinh tế nhiều thành phần của nớc
ta là nền kinh tế theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Trong việc xây dựng hình
thái kinh tế - xã hội mới, không phải mọi thành phần kinh tế đều có vai trò
nh nhau. Thành phần kinh tế Nhà nớc là hạt nhận của quan hệ sản xuất mới.
Kinh tế Nhà nớc là một lực lợng kinh tế một công cụ kinh tế có sức mạnh
vật chất để nhà nớc điều tiết hớng dẫn nền kinh tế nhiều thành phần phát
triển đúng định hớng. Vì vậy, phủ nhận sự tồn tại và vai trò của khu vực kinh
tế Nhà nớc cũng tức là phủ nhận tính định hớng xã hội chủ nghĩa của nền
kinh tế.
Do đó kinh tế Nhà nớc cần và phải nắm giữ vai trò chủ đạo vì nhng lý
do sau:
lợi xã hội, là thành phần đảm bảo công bằng xã hội và duy trì mối quan hệ
song song giữa tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội.
Nh vậy, từ sự phân tích trên ta thấy ở nớc ta kinh tế Nhà nớc giữ vai
trò chủ đạo ttong nền kinh tế nứơc ta hiện nay là một tất yếu, không thể phủ
nhận.
2.2. Nội dung vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nớc.
2.2.1. Là lực lợng vật chất để điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trong văn kiện đại hội Đảng IX đã viết: Kinh tế Nhà nớc phát huy
vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lợng vật chất quan trọng và là công
cụ để Nhà nớc định hớng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
4
Việc can thiệp của nhà nớc vào quá trình kinh tế đã đa kinh tế nhà n-
ớc trở thàh khu vực quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là một chủ thể
kinh tế lớn giúp cho nhà nớc thực hiện chức năng ổn định, công bằng và hiệu
quả.
Với t cách là chủ thể kinh tế, nhà nớc trớc hết đóng vai trò là ngời chi
tiêu lớn nhất. Hiện nay ở nhiều nớc công nghiệp phát triển, tỷ lệ chi tiêu của
chính phủ chiếm tới 50% tổng sản phẩm quốc dân. Và nhà nớc cũng là ngời
thu lớn nhất tơng đơng với khoản chi của nó. Do đó nhà nớc đã trở thành
không chỉ là mốt thị trờng tiêu thụ lớn, mà còn là một nhà tài chính mạnh.
Hơn thế nữa, với tiềm năng kinh tế mạnh, nhà nớc đã tham gia vào vòng chu
chuyển kinh tế, và đã sử dụng lực lợng tài chính tiền tệ này nh một công cụ
mạnh mẽ trong việc phân phối các nguồn lực, và hớng nền kinh tế theo các
mục tiêu kinh tế vĩ mô đã định.
Ngoài việc chi tiêu của chính phủ có tính chất phi doanh nghiệp, bộ
phận quan trọng khác của kinh tế nhà nớc đã đợc thể hiện dới hình thức
doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhà nớc là cơ sở kinh tế _lực lợng vật chất góp
phần tạo ra của cải phục cụ nhu cầu của xã hội.Với t cách này, doanh nghiệp
nhà nớc cần đạt đợc một tỷ lệ nhất định về GDP trong tổng số GDP của toàn
bộ nền kinh tế. Trên cơ sở đó nhà nớc đủ sức quản lý nền kinh tế và thực
điều kiện cho phát triển sản xuất, nhng các thành phần kinh tế khác cha
muốn làm hoặc cha có khả năng, điều kiện làm thì kinh tế Nhà nớc phải đi
đầu mở đờng tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển có
hiệu quả và đúng định hớng xã hội chủ nghĩa.
2.2.4. Giải quyết các vấn đề chính sách xã hội
Hệ thống doanh nghiệp nhà nớc còn là công cụ để nhà nớc can thiệp
trực tiếp nhằm giải quyết việc làm và thu nhập, kích thích tiêu dùng, chống
đỡ khủng hoảng kinh tế. Đặc biệt khi nền kinh tế suy thoái, mứcđộ sử dụng
lao động thấp, để giảm độ chênh lệchcủa sự phân phối thu nhập trong xã hội
và tăng công ăn việc làm, vực nền kinh tế qua thời suy thoái, nhà nớc trong
các nớc công nghiệp phát triển đã dùng biện pháp quốc hữu hoá các doanh
nghiệp t nhân.
2.2.5. Làm nền tảng cho chế độ xã hội mới
Kinh tế Nhà nớc tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới, xã hội xã hội chủ
nghĩa. Hiện nay công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta còn nhiều bất
cập, kinh tế Nhà nớc với vai trò một ngời anh cả cùng với kinh tế hợp tác
và các thành phần kinh tế khác phải tập trung xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật cho chủ nghĩa xã hội, tạo nền tảng cho chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa,
6
xây dựng một Nhà nớc Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiến bộ văn minh gắn với
công bằng xã hội.
Khi nói đến vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nớc chúng ta
cũng không thể không nói đến vai trò của các doanh nghiêp Nhà nớc, một
thành phần quan trọng, nòng cốt của kinh tế Nhà nớc. Bởi vì để kinh tế Nhà
nớc thực hiện tốt vai trò chủ đạo của mình thì doanh nghiệp Nhà nớc cũng
cần phát huy tối đa vai trò của mình, và để hiểu rõ hơn vai trò của kinh tế
Nhà nớc chúng ta cũng cần tìm hiểu vai trò của doanh nghiệp Nhà nớc. Nghị
quyết 10 của Bộ Chính Trị khoá VII nêu rõ ba vai trò của doanh nghiệp Nhà
nớc:
Làm nòng cốt trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nớc.
thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế, xuất khẩu tăng. Kết cấu hạ tầng KT-
XH phát triển nhanh, quan hệ sản xut đã có những bớc đổi mới phù hợp hơn
với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và thúc đẩy sự hình thành nền
kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế, doanh nghiệp nhà nớc đợc sắp xếp, đổi mới thích nghi với cơ chế
mới. Các thành phần kinh tế khác cũng có những bớc phát triển mới.
Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, nớc ta đã phát triển quan hệ kinh tế với
nhiều nớc khác, mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập với các nớc trên thế
giới. Nhịp độ tăng kim ngạch xuất khẩu gần gấp ba nhịp độ tăng GDP, thu
hút đợc nhiều vốn từ bên ngoài đầu t vào trong nớc. Tình hình kinh tế phát
triển, xã hội ổn định làm cho đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đợc
cải thiện, trình độ dân trí nâng cao. Tuy nhiên trình độ phát triển kinh tế của
nớc ta còn thấp xa so với mức trung bình của thời gian và các nớc xung
quanh. Nền kinh tế kém hiệu quả và sức cạnh tranh còn yếu, cha có chuyển
biến đáng kể trong việc đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nớc
(DNNN).
Bên cạnh những tiến bộ trong việc phát triển khu vực kinh tế Nhà
nớc còn có những hạn chế. Kinh tế Nhà nớc cha đợc củng cố tơng xứng với
vai trò chủ đạo, cha có chuyển biến đáng kể. Sự phát triển của khu vực kinh
tế Nhà nớc và đặc biệt là các DNNN còn nhỏ bé về quy mô và dàn trải về
8
ngành nghề. Nhiều doanh nghiệp cùng loại hoạt động chông chéo về ngành
nghề kinh doanh cấp quản lí và trên cùng một địa bàn tạo ra sự cạnh tranh
không đáng có trong chính khu vực kinh tế Nhà nớc với nhau. DNNN còn
dàn trải trên tất cả các ngành nghề từ sản xuất đến thơng mại, dịch vụ gây
tình trạng phân tán, manh mún về vốn trong khi vốn đầu t nhà nớc rất hạn
chế, gây chi phối, xé lẻ các nguồn lực kể cả các hoạt động quản lí nhà nớc,
không thể tập trung vào những ngành lĩnh vực chủ yếu, then chốt. Trình độ
khoa học kĩ thuật còn lạc hậu dẫn đến năng lực cạnh tranh kém và thua thiệt
trong hội nhập về kinh tế với khu vực và quốc tế. Hầu hết trong khu vực kinh
- Chuyển từ hình thức doanh nghiệp công ích sang cơ chế sản phẩm
công ích và dịch vụ công ích, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia
đấu thầu thực hiện các sản phẩm và dịch vụ này để nâng cao chất lợng và
giảm chi phí cho ngân sách.
- Bỏ quy định tỷ lệ cổ phần Nhà nớc nắm giữ để tạo cơ chế linh hoạt
trong hoạt động quản lý và đầu t vốn của Nhà nớc tại các doanh nghiệp và
tạo điều kiện khuyến khích doanh nghiệp huy động vốn từ các thành phần
kinh tế trong nớc và nớc ngoài để mở rộng sản xuất kinh doanh.
* Sửa đổi cơ chế cổ phần hoá, sắp xếp lại doanh nghiệp tại Nghị định
64/2002/NĐ-CP và Nghị định 103/1999/NĐ-CP, Nghị định 49/2002NĐ-CP
theo hớng:
- Mở rộng đối tợng cổ phần hoá bao gồm cả các tổng Công ty, các
doanh nghiệp có quy mô lớn và các nông, lâm trờng quốc doanh; thu hẹp đối
tợng Nhà nớc nắm giữ cổ phần chi phối theo hớng không căn cứ vào quy mô
vốn mà căn cứ vào tính chất ngành nghề kinh doanh hoặc vị trí của doanh
nghiệp đối với sự phát triển kinh tế của vùng, lãnh thổ. Nhà nớc chỉ công bố
danh mục các doanh nghiệp Nhà nớc cần nắm giữ 100% còn lại thực hiện đa
dạng hoá sở hữu bằng nhiều hình thức khác nhau theo lộ trình.
- Chuyển cơ chế giao, bán, khoán kinh doanh và cho thuê doanh nghiệp
sang thực hiện đấu thầu bán doanh nghiệp (bao gồm cả quyền sử dụng đất)
gắn với điều kiện đảm bảo việc làm cho ngời lao động và đảm bảo môi sinh.
Cho phép áp dụng hình thức đấu thầu bán doanh nghiệp đặc biệt là doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khách sạn, du lịch. Mở rộng quyền mua cổ
phần, tham gia góp vốn của các nhà đầu t trong và ngoài nớc để chuyển
thành Công ty cổ phần hoặc doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài.
- Đổi mới phơng thức định giá doanh nghiệp: bỏ cơ chế định giá thông
qua hội đông, thực hiện định giá thông qua các tổ chức kế toán kiểm toán,
thuê t vấn tài chính trong nớc và ngoài nớc đẻ tạo điều kiện nâng cao uy tín,
10
tính công khai minh bạch và nâng giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá.
việc phát hành cổ phiếu với niêm yết công khai trên thị trờng;
+ Phát triển hệ thống trung gian tài chính trên thị trờng nh các Công ty
11
chứng khoán, các Quỹ đầu t chứng khoán, Công ty quản lý quỹ đầu t chứng
khoán tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu t trong nớc và nớc ngoài tham
gia đầu t vào cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp bán ra trên thị trờng chứng
khoán.
2. Hoàn chỉnh các cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp:
- Ban hành cơ chế tăng cờng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giảm bớt sự can thiệp hành
chính của cơ quan Nhà nớc đối với doanh nghiệp. Nhà nớc chỉ đảm bảo cấp
vốn điều lệ cho những doanh nghiệp Nhà nớc cần nắm giữ 100% vốn; các
doanh nghiệp khác phải tự huy động vốn bằng các hình thức phát hành trái
phiếu, trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu, cổ phiếu trong nớc và nớc ngoài
để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ.
- Ban hành cơ chế, chính sách xoá bỏ các loại bảo hộ bất hợp lý, bao
cấp đối với các DNNN nh: khoanh nợ, giãn nợ, xoá nợ, bù lỗ, cấp vốn tín
dụng u đãi chuyển cơ chế doanh nghiệp công ích sang cơ chế sản phẩm và
dịch vụ công ích để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia theo ph-
ớng thức Nhà nớc đặt hàng hoặc đấu thầu.
- Chuyển từ chính sách hỗ trợ trực tiếp sang chính sách hỗ trợ gián tiếp
phù hợp với quy định của Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO) và tạo điều
kiện giúp các doanh nghiệp giảm các chi phí đầu vào, nâng cao tính cạnh
tranh, xúc tiến thơng mại và xuất khẩu để từng bớc đáp ứng yêu cầu hội
nhập; khuyến khích các doanh nghiệp tiếp cận với thị trờng vốn, thị trờng
chứng khoán.
- Ban hành cơ chế bắt buộc các DN phải chủ động xử lý các tồn tại về
nợ và tài sản tồn đọng ngay trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh,
gắn với việc xác định rõ trách nhiệm của Giám đốc doanh nghiệp trong trờng
hợp để tình trạng trên tái diễn; thiết lập cơ chế kỷ luật thanh toán ở các
ban hành chính sách, chế độ giám sát theo các chỉ tiêu tài chính đối với các
loại hình doanh nghiệp, không can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp.
- Tăng cờng tính công khai minh bạch về tài chính và hệ thống đánh
giá rủi ro qua các công cụ nh kiểm toán, kế toán, t vấn tài chính theo chuẩn
mực và tiêu chuẩn quốc tế với bớc đi phù hợp với tiêu chuẩn Việt Nam.
- Thống nhất quản lý vốn của Nhà nớc đầu t vào các doanh nghiệp
theo hớng xóa bỏ chia cắt về quyền sở hữu doanh nghiệp giữa các Bộ, địa ph-
ơng và Tổng công ty; Nhà nớc giữ vai trò là nhà đầu t vốn thống nhất thông
qua một tổ chức đầu t vổn trung gian bằng việc thành lập Công ty đầu t tài
chính Nhà nớc để nâng cao hiệu quả hoạt động, bảo toàn và tăng trởng vốn
Nhà nớc trong doanh nghiệp.
13
Kết luận
Sau gần 20 năm đổi mới chúng ta đã thực hiện nhất quán: Chính sách
phát triển kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo
pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trờng định
hớng XHCN, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong
đó kinh tế Nhà nớc đã đang và sẽ là thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế nớc ta.
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn đã phân tích trên, chúng ta có thể thấy
phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nớc trong điều kiện hiện nay là một
nhiệm vụ rất quan trọng không những có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa
chính trị quan trọng đảm bảo giữ vững bản xã hội chủ nghĩa của nớc Việt
Nam trên con đờng tiến lên chủ nghiã xã hội.
14
Tài liệu tham khảo
1. Văn kiện đại hội Đảng IX . NXB chính trị Quốc Gia
2. Văn kiện Đại hội Đảng V,VI,VII,VIII. NXB Chính trị Quốc Gia
3. Giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin
4. Tạp chí cộng sản
1. Các giải pháp đẩy mạnh sắp xếp, cổ phần hoá DNNN 11
2. Hoàn chỉnh các cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp
14
3. Đổi mới công nghệ trong các DNNN ở Việt Nam 15
4. Đổi mới tổ chức quản lý DNNN 16
Kết luận 17
Tài liệu tham khảo 18
16