A-Đặt Vấn Đề
Suốt dọc dài lịch sử cách nay thiên niên kỉ Đao Phật và dòng S Việt đã
chứng minh sự có mặt của mình trong cuộc sinh hoạt toàn diện của dân tộc với
mục đích chân hóa thiện hóa mĩ hóa nếp sống Việt Nam nhìn lại quá trình hơn
một ngàn năm xã hội Việt Nam chìm đắm dới sự thống trị của ngời phơng Bắc
thì quả là mối duyên kì ngộ. Đao Phật truyền vào nớc ta mở ra cho ngời Việt
Nam một lối thoát bằng ánh sáng của dạo lý giác ngộ giải thoát và tự chủ. Kể từ
dó tạo điều kiện nhân duyên cùng với lối sống của ngời Việt hình thành một nền
văn hóa dân tộc Việt sáng, đẹp. Mà bản chất của nền văn hóa Việt Phật ấy đợc
thể hiện rõ nét nhất qua hai triều đại văn minh Lý-Trần Đạo Phật đã có những
cống hiến thực tế to lớn đối với tổ quốc Việt Nam ,trong sự nghiệp dựng nớc giữ
nớc, đánh giặc phơng Bắc dẹp loạn phơng Nam, bảo toàn lãnh thổ và chủ quyền
độc lập của quốc gia Đại Việt ở thể kỉ 11 đến thế kỉ 15 cũng nh đã và dang là sứ
mệnh giải cứu nhân sịnh đối với những quốc gia Phật giáo và toàn thế giới nhân
loại. Đao Phật vào Việt Nam bằng cửa ngõ hòa bìnhnh vào nhà mình,không
giống các đạo lývà ý hệ khác đến Việt Nam bằng cách phô trơng ầm ĩ, sắt thép
Đao Phật sở dĩ đợc toàn dân Việt đón nhận là vì tinh chỉ giáo lý Đạo Phật không
bao giờ trai với sự việc nào , bất cứ ở đâu, hang ngời nào, khi con ngời biết hớng
về chân lý. Mà Đạo Phật là chân lý. Đạo Phật đã gây đợc dân
phong quốc tục đẹp nên từ thuở xa xa tổ tiên ta đã sống và truyền đến cho con
cháu ngày nay,dù lớp con cháu co hiểu hay không hiểu gì về nguồn giáo đạo lý
cao đẹp Đao Phật nhng trong tiềm thức họ đều có mang trong mình dòng máu tín
ngỡng Phật giáo , nên mọi ý tởng ngôn từ, hành độngcủa họ nh đã sống thựcvà
thể hiện đúng tinh thần của đạo mà họ tin theo. Hay nói cách khác, Đạo Phật
Việt Nam cũng chính là quần chúng nhân dân Việt Nam.
Qua nhiều năm tồn tại và phát triển Đạo Phật đã có ảnh hởng to lớn đến đời
sống tinh thần của ngời dân Việt Nam vì vậy tiểu luận này phân tích những giá
trị, hạn chế và ảnh hởng của Đạo Phật đối với nớc ta hiện nay.
1
B-Néi Dung VÊn §Ò
I- Gi¸ TrÞ Cña §¹o PhËt
Vì tình thương dẫn tới đoàn kết và thành công trong mọi sự nghiệp của dân tộc
Việt
2
2.Gi¸ TrÞ Gi¸o Dôc Cña Phật Giáo
2.1 Một Giá Trị Nhân Bản
Nội dung giáo dục của triết lý Phật giáo chẳng khác gì lời kêu gọi hòa bình
– một nhu cầu luôn cần cho mọi người, mọi nhà, và là tài sản quý báu nhất của
nhân loại. Đây là giá trị nhân đạo nhất và khác với mọi tôn giáo khác, trong suốt
lịch sử tồn tại và phát triển Phật giáo luôn xuất hiện và thâm nhập vào các dân
tộc như sứ giả sâu sắc
Đạo Phật đã ra đời trong một thực tại đa diện, phồn tạp của nền văn minh
Ấn Độ, xuất hiện để dung hòa các trào lưu tư tưởng đối nghịch, để san bằng
những ngăn cách xã hội giữa các đẳng cấp. Rồi từ những căn bản đó, Phật giáo
đã duỗi dài nguyên lý vào cuộc sống con người khắp mọi nơi. Trong cội rễ sâu
xa, ngay từ khởi thủy tư tưởng giáo dục của triết lý Phật giáo đã mang trong
mình những giá trị nhân bản chung toàn nhân loại. Đặc trưng cơ bản nhất đó là
tính toàn vũ trụ, toàn diện, tổng hợp. Trong đó lòng Từ bi – Bình đẳng – Vô ngã
cùng sự hướng thiện mà đạo Phật muốn giáo dục con người với mục đích “cứu
khổ” là quan trọng nhất.
Theo Đạo Phật, chính “chấp ngã” đã gây ra cho lịch sử loài người những
cuộc chiến tranh núi xương sông máu, chiến tranh tội ác và bạo lực đã và đang
là điều nhức nhối của toàn nhân loại. Trong tình hình này Phật của hòa bình và
an lạc
2.2 Giáo Dục Con Người Sống Có Đạo Đức Và Đạt Được Hạnh Phúc
Phật giáo cho con người là hơn cả vì có thể thực hiện được tất cả sự tốt đẹp
để có thể sống hài hòa. Để giáo dục đạo Phật đã đưa ra bốn chân lý kỳ diệu, với
yếu tố biện chứng, kết cấu chặt chẽ khi đưa ra lý thuyết “ngũ uẩn”, chỉ rõ căn
nguyên của khổ đau là do thâm, sân , si cùng với lý luận về thập nhị nhân
duyên, đồng thời khẳng định con đường diệt khổ đó là “trung đạo”, “bát chính
đạo” chứa đựng sự lý đầy thuyết phục và hướng con người đến nếp sống thiện
vật chất ngày càng cao, nên cuộc sống con người gặp khó khăn, nên cái khổ vẫn
là điều tất yếu, đôi khi con người cảm thấy bi quan thất vọng. Do vậy, sự giải
thích cuộc đời con người chỉ quẩn quanh trong nổi khổ “nhân sinh là khổ” hết
sức có ý nghĩa. Việc đưa ra con đường diệt khổ, tự giải thoát mà không chờ bất
kỳ cứu nhân độ thế nào đã trở thành tự tưởng giáo dục đầy khích lệ hấp dẫn,
mang tính nhân văn sâu sắc.
Tư tưởng giáo dục này cũng có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc đổi
mới của Việt Nam, nhằm xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc, mà trong đó quần chúng nhân dân là hạt nhân cơ bản để xây dựng nên
tòa lâu đài văn minh của xã hội, đem lại hòa bình cho toàn thể nhân dân ta.
3. Giá Trị Con Người
Đạo Phật với nguồn triết lý sâu sắc, bao hàm về cả ba phương diện: tình
cảm, lý trí và hành xử, là đạo lấy CON NGƯỜI (Nhân Bản) làm cứu cánh và đối
tượng chính để phục vụ và triển khai, bằng cách dạy cho con người thoát mọi
ràng buộc khổ đau mê tối của nhân giới, tâm giới và nhiên giới; đồng thời đặt
con người trước trách nhiệm của chính mình: Cuộc đời hay hay dở là do con
4
người “tự tác tự thụ”; chẳng có thần thánh nào can thiệp hay thưởng phạt cả.
Đức Phật dạy: “Mọi người đều là những vị Phật trong tương lai, vì mọi người
đều có phật tính (buddhata) và có khả năng thành Phật”. Con người chỉ cần làm
hiển lộ được phật tính (chân lý) ấy, tức sẽ thành Phật. Trong Kinh Hoa Nghiêm
(Avatamsaka sutra) chép: “Con người là hơn cả, vì có thể thực hiện được mọi sự
tốt đẹp ở đời”.
Đạo Phật rất kính trọng con người và từng khuyên con người hãy tự tiến
lên, đừng bao giờ lùi xuống. Khi cuộc đời hay hay dở là do con người “tự tác tự
thụ” thì có nghĩa là chìa khóa thành công hay thất bại nằm chính trong tay người
đại lý chứ không phải một đấng tối cao nào cả. Một số đại lý tự hài lòng với kết
quả hiện tại, số khác thì làm việc thất thường, được chăng hay chớ. Khi đứng lại
trong khi cả xã hội đang vận động, đang phát triển có nghĩa là tụt hậu, có nghĩa
là rơi dần vào vô minh. Thấm nhuần tư tưởng này, người đại lý cần tự học hỏi
pháp duyên sinh trùng trùng, điệp điệp, không có đầu mối cũng không có chung
cuộc.
Thế nên, giáo dục Phật giáo luôn mang đậm giá trị nhân bản, cái giá trị của
sự sống vượt lên giá trị suy tư và cả giá trị văn hóa truyền thống. Hệ thống kinh
điển của đạo Phật luôn giáo dục con người sống trong hiện tại, an trú trong hiện
tại, nhận chân được sự thật của cuộc đời khổ đau để lìa khỏi khổ đau, đó là giá
trị sống tâm linh của con người hiện tại. Đạo Phật đã đem lại một sự an tịnh
trước nỗi khủng hoảng tâm hồn của con người và kêu gọi hãy trở lại với sự sống
thực, rất thực để tự gánh lấy trách nhiệm của cuộc đời, nên giáo dục Phật giáo
là: “Một nền giáo dục như thế hẳn sẽ tạo nên những mẫu người làm chủ, sống
lơi ích cho bản thân và cho xã hội, đập vỡ mọi ách trói buộc bên trong và bên
ngoài” ).
Con người tự làm chủ mình bằng lý trí, bằng trí tuệ không nô lệ bất cứ một
hoàn cảnh đối tượng nào, không bị dục vọng, tham ái chi phối. Vì sao vậy?
Tham dục là nguồn gốc của mọi vô minh, ngu muội, là tập khởi của khổ đau;
đừng lầm tưởng rằng đạt được thỏa mãn trong tham dục là hạnh phúc. Hạnh
phúc ấy chỉ là sự tập khởi của khổ đau, đã ngầm chứa khổ đau. Cho nên giáo
dục Phật giáo dạy cho chúng ta nhận ra được một nguồn hạnh phúc chân thật, là
nếp sống đạo đức bằng sự tự chủ: “Hãy là nơi nương tựa của chính mình”, đó là
giá trị giáo dục nhân bản rất nhân bản.
4.2.Giá Trị Thiết Thực
Đạo Phật đến với con người qua những lời dạy thiết thực gắn liền với
những hành vi cử chỉ của mỗi người, những mối quan hệ giữa con người với con
người và giữa con người với xã hội. Nhưng trong bất cứ tình huống nào thì con
người cũng phải “làm chủ”, không bị nô lệ bất cứ một đối tượng nào hay một sự
vật nào cả. “Làm chủ” không có nghĩa là nêu cao bản ngã, nuôi dưỡng bản ngã
hay độc quyền, độc đoán. Mà “làm chủ” có nghĩa là tự mình làm chủ mình trước
mọi hoàn cảnh, trước những đột biến của nội tâm và ngoại cảnh. BS. Victor
Pauchet nói rằng: “Muốn thành công trên đường đời, chúng ta phải làm chủ thời
6
giáo khác nhau ra đời, càng ngày con người ta càng ỷ vào các hình thức cúng
bái, đọc kinh này nọ. Họ vẫn đang đi tìm chân lý nhưng lại ỷ vào ngoại lực, mà
không chịu tìm nó trong tâm mình. Nhưng cách tốt nhất là hãy tôn trọng Tín
ngưỡng cũng như Tôn giáo của quần chúng, vì điều này dù chưa giúp họ tìm
thấy Chân lý nhưng cũng giúp tâm hồn họ hướng đến điều Thiện. Một đất nước
có nhiều con người tốt sẽ là đất nước Thái bình! Đó lại là một Chân lý rồi. Theo
7
bản thân tôi, một Phật Tử, tôi thấy rằng chính sách tôn giáo của Đảng và nhà
nước ta là không hề có sự ngăn cấm, hay cản trở những người theo Đạo Phật
cũng như các Tôn giáo khác sinh hoạt theo Tôn giáo của mình. Còn ý kiến riêng
của bản thân, tôi muốn nhà nước nên tạo thêm nhiều điều kiện, để các vị cao
tăng ở nước ngoài có thể về nước thăm thú và giảng đạo. Hoặc ngay cả Đức Đạt
Lai Lạt Ma có thể tới VN không, liệu có làm ảnh hưởng tới mối quan hệ ngoại
giao với Trung Quốc không?.
2 Ðạo Phật còn mang nặng hình ảnh một tôn giáo khó hiểu, phức tạp, một
phần vì quá đa dạng, quá nhiều tông phái, đôi khi mâu thuẫn lẫn nhau. Người
mới đến với đạo Phật như lạc vào một mê cung, một khu rừng rậm, giữa những
đạo Phật Nguyên Thủy, Thiền, Tây Tạng, Tịnh Ðộ, Duy Thức, Thiên Thai, Nhật
Liên, v.v , không biết nên đi về hướng nào. Người ta còn có thể tự hỏi rằng có
nhiều đạo Phật, hay là có những đạo Phật tuy mang tên là đạo Phật nhưng không
phải là đạo Phật ? Nói như nhà học giả Henri Arvon : "Cũng như một hạt giống,
không còn nhận ra được khi đã nảy mầm và trở thành một thân cây, giáo lý
nguyên thủy của đức Phật, trước áp lực của nhu cầu tín ngưỡng và thần bí của
con người, đã sinh ra nhiều đạo Phật khác chỉ còn giống lờ mờ so với đạo Phật
ban đầu "
3 Ðạo Phật bị coi là xa vời, thiếu thực tế, khó áp dụng trong đời sống.
Làm thế nào diệt dục trong khi cuộc đời đầy rẫy những lôi cuốn, làm thế
nào định tâm trong khi cuộc sống quay cuồng, làm thế nào buông xả trong khi
mỗi ngày phải vật lộn với xã hội ? Ðó là những câu hỏi của người Phật tử tầm
thường như chúng ta, đứng trước khoảng cách sâu rộng giữa đạo Phật lý thuyết
trương “dĩ tâm truyền tâm”. Do đạo Phật quan niệm vạn vật đồng nhất thể, nên
bản thể vũ trụ cũng tiềm ẩn trong mỗi con người. Bởi vậy khi làm cho bản thể
trong mỗi cá nhân hoà đồng với bản thể vũ trụ, thì ta và thế giới hoà làm một.
Muốn đạt được điều đó thì phải có trí tuệ hay Phật học gọi là Bát Nhã. Nhưng để
đi đến cái đó, mỗi người phải tự khai mở tâm mình, “hãy tự thắp đuốc lên mà
đi”, mà bước đầu là phải có sự biến đổi về mặt đạo đức theo hướng thiện. Điều
này hợp với người Việt với truyền thống nghiêng về trau dồi tâm tính, đạo đức
luân lý hơn là học hỏi trau dồi tri thức hiện đại.
Điểm này khiến người Việt trong cuộc sống đề cao cái tâm, lối sống tình
cảm. Cách suy nghĩ và lối sống mang nặng màu sắc tình cảm, một mặt giúp
nhân dân ta trong những thời hoạn nạn, thiên tai, địch hoạ nhưng nó cũng làm
hạn chế sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật.
1.2. Đặc điểm tư duy người Việt là chú ý nhiều tới các quan hệ.
Cùng một sự vật, hiện tượng chúng ta thường hoặc quan tâm đến cấu trúc,
bản chất hoặc nghiên cứu những mối liên hệ, quan hệ với những sự vật , hiện
tượng khác. Đương nhiên phương Đông chú trọng mối quan hệ nhiều hơn. Xuất
phát từ “dịch”, “vô thường”, người phương Đông cho rằng không có gì là trường
tồn, đứng yên mà vạn vật luôn vận động, biến đổi không ngừng. Vì vạn vật sinh
sinh, hoá hoá, sắc sắc, không không nên cái ta thấy được chỉ là những mối liên
9
hệ thấp thoáng giữa các trạng thái của sự vật trong quan hệ với những sự vật
khác.
Để chỉ những mối liên hệ, Phật giáo có luật nhân quả. Nhân quả là chỉ mối
quan hệ phổ biến mọi sự vật, hiện tượng. Không có cái tôi độc lập, không có thế
giới tác rời “cái tôi, không có “cuộc sống” tách rời - tất cả những cái đó là
những tương tác chặt chẽ và chỉ bị tách rời nhau trong tưởng tượng. Do vậy mà
người phương Đông, Việt Nam theo đạo Phật thường để ý nhiều đến mối quan
hệ, chủ yếu cảm tính, đạo đức nên nhiều nhìn nhận sai lệch, có tính chủ quan
duy ý trí. Do đó, cuộc sống người Việt Nam thường chú ý nhiều đến quan hệ họ
hàng, làng xóm, xã hội sao cho khôn khéo, tế nhị.
niệm. Dưới dòng sông tuôn trào này, ở nơi sâu thẳm vô hình đâu đó là A lại da
thức (Tạng thức) – nơi tàng trữ mọi mầm mống của vũ trụ. Tuy khó hình dung
nhưng Phật giáo đã cung cấp cho ta một cái nhìn động về tư duy, ý thức. Phật
giáo chỉ cho ta rằng muốn có tư duy, suy nghĩ đúng thì điều kiện cần là phải tập
trung tư tưởng.
Tư tưởng, tư duy, ý thức của con người giống như ngọn đèn. Nếu cứ để
bình thường thì toả sáng 4 phương, nhưng nếu biết tập trung toàn bộ ánh sáng
vào một điểm, hội tụ chúng lại, thì điểm này trở nên rất sáng và mạnh. Vai trò
của Thiền đối với tư duy cũng giống như việc tập trung ánh sáng vậy. Nó là một
phương pháp khoa học.
Phật giáo còn dạy muốn suy nghĩ thật khách quan cần phải có cái tâm bình
tĩnh, tỉnh táo. Tâm nhảy nhót như khỉ vượn, bị thiêu đốt bởi tham lam, hận thù,
si mê, tâm đứng ở nhị kiến, thích và không thích, yêu và ghét, thì nhận thức
không thể nào khách quan được. Tâm như vậy giống như mặt nước hồ qua trận
cuồng phong làm nổi sóng, vẩn đục và không thể nào thấy được những viên cuội
dưới đáy sông.
Muốn cho tâm được yên tĩnh, tỉnh táo thì việc đầu tiên là nên nghĩ và làm
những điều thiện. Đạo Phật hướng người Việt tới việc suy nghĩ về làm những
điều thiện, làm lành lánh giữ. Trong các loại nghiệp của con người có 3 loại
nghiệp quan trọng nhất là thân, khẩu, ý. Trong đó Phật giáo coi nghiệp ý (về tư
duy, suy nghĩ) là quan trọng nhất. “Tổng vệ sinh”, “làm sạch” tư duy vừa là
công việc khẩn thiết vừa là công việc thường xuyên từng giờ, từng phút với mỗi
Phật tử. Tư tưởng từ bi bác ái, chủ trương khuyến thiện trừ ác, hỷ xả, cứu khổ,
cứu nạn là những tư tưởng lôi cuốn đông đảo người Việt và trở thành lòng
thương người, tính nhân đạo của họ. Chính vì quan tâm cứu vớt con người trước
bất công đau khổ nên người Việt đã tiếp thu và nhiệt tình ủng hộ đạo Phật.
Đạo Phật cũng đóng góp một khía cạnh phương pháp nhận thức quan trọng
– đó là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, tinh thần và tự nhiên hay tâm và
vật. Một mặt thì tâm và vật không tách rời nhau. Không có vật thì cũng chẳng có
tâm. Ngược lại, không có tâm thì vật như thế nào ta cũng không biết. Sở dĩ có
chỉ có thể dựa trên phẩm chất giới hạnh của họ mà thôi.
2.2Thứ hai, Đức Phật khuyến khích tinh thần hợp tác bình đẳng và tích cực
tham gia đóng góp trong xã hội. Đây là một tinh thần đã được cổ võ trong tiến
trình chính trị của các xã hội hiện nay.
2.3Thứ ba, Ngài đã không chỉ định một người nào để kế thừa Ngài. Ngài
chỉ dạy rằng, mọi người phải tự mình mà tu học, lấy Chánh Pháp làm nền tảng
và làm nơi nương tựa. Các thành viên của Tăng Đoàn chỉ chịu sự hướng dẫn của
Giáo Pháp và Giới Luật (Dhamma-Vinaya) - như là một bộ luật sinh hoạt. Cho
đến ngày nay, mỗi tu sĩ của Tăng Đoàn đều phải tuân thủ bộ Giới Luật đó để
làm kim chỉ nam hướng dẫn cho mọi sinh hoạt tu học của mình.
12
2.4Thứ tư, Đức Phật đã khuyến khích tinh thần tham vấn và tiến trình dân
chủ. Điều nầy được thể hiện qua cộng đồng tăng sĩ, trong đó mỗi thành viên đều
có quyền quyết định về các vấn đề chung. Khi có một nghi vấn nghiêm trọng
cần phải được giải quyết, các vấn đề có liên quan được đem ra giữa các tu sĩ để
thảo luận trong một phương cách tương tự như trong hệ thống quốc hội ngày
nay. Tiến trình tự quản trị nầy có lẽ sẽ làm nhiều người ngạc nhiên vì nó đã
được áp dụng trong các cộng đồng tăng sĩ Phật Giáo tại Ấn Độ trong 2.500 năm
trước đây, và phương cách điều hành có rất nhiều điểm tương đồng với các thủ
tục thảo luận trong quốc hội.
3.Phật Giáo Và Kinh Tế
Thứ nhất là tư tưởng vô thường giúp cho người Nhật dễ thích ứng với hoàn
cảnh mới, yêu cầu mới, công nghệ và kỹ thuật mới.
Tư tưởng đó của đạo Phật tương tự như và thậm chí còn tiến xa hơn tư
tưởng của Héraclite, là sự vật không những thay đổi liên tục mà còn phải thay
đổi. Và điều này không có nghĩa là phủ định truyền thống mà duy trì những cái
gì vẫn còn có giá trị sống và tiến bộ trong truyền thống. Truyền thống không
phải là một sự áp đặt của quá khứ, mà là một nguồn biện pháp và phương tiện đã
được thử thách, có tác dụng thật sự đối với hiện tại và tương lai. Theo quan điểm
này, đổi mới kỹ thuật là tất nhiên và tất yếu. Phải tán thành và phải tham gia vào
biết chữ, khi hữu sự ra làm thợ thuyền, binh lính đã có chút chữ nghĩa, có tri
thức, ai hữu duyên đỗ đạt làm quan cũng có đủ trí giúp đời thật như như Hòa
thượng Đệ tam Pháp chủ GHPGVN Thích Phổ Tuệ đã từng nói: “ lúc ấy (cuối
triều Lê) đúng là trong cái rủi lại có cái may, tưởng suy mà hóa ra thịnh, nhờ có
thế Phật giáo nước ta mới phát triển sâu rộng về vùng thôn quê chứ nếu không
nay lấy đâu ra Phật giáo có nhiều chùa ở vùng xa như thế”.
Phật giáo lúc suy vẫn dạy chữ, dạy người lấy cái lõi là trí tuệ là từ bi để duy
trì mạng mạch; lúc hữu sự thì hộ quốc an dân điển hình như nhà sư Vạn Hạnh
bằng trí, đức của người tu hành mà giúp vua Lý Công Uẩn chọn Thăng Long
làm kinh đô để tính kế lâu dài cho đất nước Việt, với tầm nhìn ấy sau nghìn năm
biết bao biến đổi xoay vần của thời cuộc vẫn vững vàng đó Thăng Long thủ đô
của đất nước anh hùng.
Giờ đây Phật giáo với sự tích lũy của hai ngàn năm lịch sử, đang cùng dân
tộc Việt Nam vững bước trên con đường xây dựng xã hội mới. Trong phát triển
không ngừng của xã hội, Phật giáo vẫn in đậm sâu vào văn hóa, xã hội của đa số
người dân Việt nam.
Trong việc đào tạo tăng tài góp phần nâng cao dân trí; Hệ thống trường
Phật giáo gồm: 4 học viện Phật học, 32 trường trung cấp, 8 lớp cao đẳng và
nhiều trăm trường sơ cấp hàng năm đào tạo hàng vạn tăng ni sinh; GHPGVN
còn có hơn một trăm Tuệ tĩnh đường chữa bệnh miễn phí cho người nghèo; mỗi
năm quyên góp trên ba trăm tỉ đồng giúp đỡ cưu mang những người có hoàn
cảnh khó khăn. Nhiều vị sư, Phật tử Phật giáo tham gia tích cực vào các hoạt
động phát triển văn hóa- xã hôi.
14
Đánh giá về đóng góp của Phật giáo đối với xã hội trong giai đoạn hiện
nay là việc làm cần có thời gian và sự nghiên cứu tập trung nhiều hơn nữa bởi
thật khú mà ghi nhận hết đóng góp của Phật giáo cho đời sống xã hội. Chính vì
sự khẳng định những giá trị to lớn đó, từ 15/12/1999 Liên Hợp Quốc đã chọn
Đại lễ Phật đản (Đại lễ tam hợp Đức Phật) làm ngày văn hoá tôn giáo của Liên
hợp quốc và được tổ chức hàng năm tại trụ sở Liên hợp quốc và các trung tâm