vị trí của nông nghiệp nông thôn trong nền kinh tế quốc dân - Pdf 10

MỤC LỤC
A Mở đầu…………………………………………………………………… 2
B Nội dung ………………………………………………………………… 4
I Cơ sở lí luận……………………………………………………………… 4
1.1 Khái niệm………………………………………………………………… 4
1.2 Vị trí của nông nghiệp nông thôn trong nền kinh tế quốc dân…………… 5
1.3 Các đặc điểm lớn của kinh tế nông nghiệp nông thôn…………………… 6
1.4 Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp nước ta…………………………………… 6
1.5 Các ngành nông nghiệp chủ yếu………………………………………… 9
1.6 Những nội dung cơ bản thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn………………………………………………………… 13
II Cơ sở thực tiến…………………………………………………………… 16
2.1 Thực trạng công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nồng thôn……… 16
2.2 Những giải pháp chủ yếu thực hiện và phát triển công nghiệp hóa hiện đại
hóa nông nghiệp nông thôn……………………………………………… 23
C Kết luận……………………………………………………………………. 27
MỞ ĐẦU
Vạn vật phát triển đều phải trải qua quá trình thay đổi cấu trúc của chính
mình. Ví dụ như một cái cây phát triển sẽ phải thay đổi về hình dáng, kích
Trang 1
thước, hình dạng cành lá. Nền kinh tế phát triển sẽ thay đổi tỷ lệ mối tương quan
giữa 3 ngành chính là công nghiệp – nông nghiệp - dịch vụ; thành thị - nông
thôn; công cộng và tư nhân; nội địa và hướng xuất khẩu. Việt Nam cũng không
nằm ngoài xu thế đó. Hiện nay, đất nước ta đang nằm trong quá trình công
nghiệp hóa – hiện đại hóa với mục tiêu từ nay đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp, phát triển, bền vững.
Trong những chủ trương thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất
nước thì công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là chủ trương
đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, là con đường tất yếu để đưa nông nghiệp
nông thôn nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu.
Từ một nước nông nghiệp, 80% dân cư sống ở nông thôn, lực lượng lao

Công nghiệp hóa nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với
việc đổi mới căn bản về công nghệ và kỹ thuật ở nông thôn, góp phần phát triển
bền vững nền kinh tế quốc dân với tốc độ cao.
Công nghiệp hóa nông thôn gồm có 3 nội dung chính cơ bản đó là :
- Đưa phương pháp sản xuất công nghiệp bắng máy móc và thiết bị vào sử
dụng trong nông nghiệp và sản xuất ở nông thôn để dần thay thế cho lao động
thủ công.
- Tiến hành áp dụng những phương pháp quản lí hiện đại, tương ứng với
công nghệ và thiết bị vào nông nghiệp nông thôn.
- Tạo ra, xây dựng hệ thống về cơ sở hạ tầng thích hợp với việc đưa máy
móc, thiết bị và công nghệ mới vào nông thôn.
b. Công nghiệp hóa nông nghiệp
Công nghiệp hóa nông nghiệp là một bộ phận của công nghiệp hóa nông
thôn
Công nghiệp nông nông nghiệp gồm 2 nội dung:
- Đưa máy móc, các ứng dụng công nghệ mới, ứng dụng khoa học kĩ thuật
và các phương pháp sản xuất kiểu công nghiệp vào ứng dụng trong sản xuất
nông nghiệp.
- Tạo ra gắn bó chặt chẽ, quan hệ hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau giữa sản xuất
công nghiệp và sản xuất nông nghiệp.
c. Hiện đại hóa
Hiện đại hóa là quá trình nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ
vào đời sống và sản xuất. Đi đôi với đó là quá trình nâng cao đời sống tinh thần,
xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm…), y tế, giáo
dục và các dịch vụ khác thiết yếu, gắn liền với đời sống nhân dân.
Hiện đại hóa không chỉ là quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn
phải song song với việc bảo vệ môi trường sinh thái, nguồn nhân lực tự nhiên,
phát triển và nâng cao nguồn nhân lực con người.
d. Công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Trang 4

vận động sinh học của cây trồng, vật nuôi rất đa dạng.
Sản xuất nông nghiệp mang tính liên ngành rộng lớn làm phức tạp hóa quá
trình quản lí, tổ chức quản lí.
Ngoài ra nền nông nghiệp Việt Nam còn mang những đặc điểm riêng gây
không ít khó khăn, cản trở cho sự phát triển cũng như các chính sách phát triển
nông nghiệp nông thôn của nhà nước, đó là đất canh tác ít, sản xuất nhỏ phân tán
và lạc hậu.
I.4 TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA .
Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật cũng như định hướng phát
triển công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn nói riêng, công
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước nói chung, nhà nước ta đã công bố 7 vùng
nông nghiệp sinh thái.
a. Vùng trung du và miền núi phía Bắc.
Bao gồm các tỉnh thuộc trung du và miền núi Bắc Bộ. Về điều kiện sinh
thái nông nghiệp, đây là khu vực miền núi ( từ núi thấp cho đến núi cao), cao
nguyên và đồi thấp. đất chủ yếu là đất Feralit đỏ vàng ở vùng núi và đất phù sa
cổ bạc màu ở ranh giới giữa rìa đồng bằng châu thổ sông Hồng và các vùng
trung du. Mật độ dân cư tương đối thấp, nhất là các tỉnh Tây Bắc. Tuy nhiên dân
cư có truyền thống và kinh nghiệm sản xuất. Số lượng các tộc người ở đây nhiều
nhất trong các vùng. Mỗi tộc người lại có tập quán riêng đã ảnh hưởng nhất
đinh đến sản xuất nông nghiêp.
Ở trung du và miền núi phía Bắc đã hình thành một số cơ sở công nghiệp
chế biến. Điều kiện giao thông vận tải tương đối thuận lợi ở trung du, còn miền
núi thì gặp nhiều khó khăn. Nhìn chung do gặp nhiều trở ngại nên trình độ thâm
canh thấp. Sản xuất theo kiếu quảng canh, ít đầu tư về lao động và vật tư.
Trong lĩnh vực trồng trọt vùng này là chuyên môn hóa cây nông nghiệp dài
ngày ôn đới và cận nhiệt (như chè, hồi trâu, sở…) và một số cây công nghiệp
Trang 6
ngắn ngày ( như đậu, tương, lạc, thuốc lá ). Về chăn nuôi trâu bò ( lấy thịt, sữa)
và lợn trong chừng mực nhất định.

hải sản. Tai biến thiên tai thường xuyên xảy ra, ảnh hưởng nhiều tới sản xuất
nông nghiệp. Trong vùng này có nhiều đô thị (thành phố, thị xã) dọc theo dải
ven biển. Điều kiện giao thông vận tải tương đối phát triển.
Trình độ thâm canh trong nông nghiệp, đã được chú trọng, sử dụng nhiều
vật tư và lao động trong sản xuất. Chuyên môn hóa trong vùng có cây công
nghiệp hàng năm (mía, thuốc lá), cây công nghiệp lâu năm (dừa), lúa, chăn nuôi
lơn, bò thịt.
e. Tây nguyên
Là vùng của các cao nguyên xếp tầng rộng lớn, có độ cao khác nhau, đất
bazan màu mỡ với diện tích nhiều nhất cả nước. Khí hậu phân ra 2 mùa rõ rệt
(mùa mưa, mùa khô). Về mùa khô rất thiều nước, gây nhiều khó khăn cho sản
xuất.
Tây nguyên là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc ít người, trình độ phát triển
còn kém.Ở đây đã hình thành một số nông trường (chủ yếu trồng cây công
nghiệp dài ngày) nhưng công nghiệp chế biến phát triến còn chậm.
Trong vùng có hai khu vực với trình độ khác nhau rõ rệt. Ở khu vực nông
nghiệp cổ truyền, phương thức quảng canh là chủ yếu. Trong khi đó, ở các nông
trường ( và một số hộ gia đình), trình độ thâm canh tương đối khá và đang được
nâng cao. Thế mạnh của vùng là chuyên môn hóa trồng cây công nghiệp dài
ngày (cà phê, cao su ) chăn nuôi bò sữa và bò thịt.
f. Đông Nam Bộ
Là vùng đất xám phù sa cổ rộng lớn, địa hình tương đối bằng phẳng. Khí
hậu cũng có hai mùa nhưng không quá sâu sắc như Tây nguyên. Tuy vậy về mùa
khô vẫn còn tình trạng thiếu nước.
Vùng này tập trung nhiều thành phố lớn đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh,
đồng thời cũng là lãnh thổ của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với tam giác
tăng trưởng kinh tế: TP Hồ Chí Minh – Biên Hòa – Vũng Tàu. Kết cấu cơ sở hạ
tầng vào loại tốt nhất Việt Nam hiện nay với nhiều khu công nghiệp chế biến.
Trang 8
Trình độ thâm canh cao, sản xuất lớn, đầu tư theo chiều sâu, sử dụng nhiều máy

phần lương thực cho con người, là cơ sở thức ăn cho gia súc cũng như nguyên
liệu ở mức độ nhất định, và cho cả công nghiệp chế biến. Trong các cây hoa
màu lương thực, ngô được đáng chú ý hơn cả, khoai lang là cây màu trồng luân
canh với lúa vào vụ đông xuân trên đất pha cát, trong khi diện tích trồng sắn
giảm mạnh.
Rau nhiệt đới phổ biến trên phạm vi cả nước, các loại rau cận nhiệt và ôn
đới phân bố ở các vùng núi và cao nguyên. Các vùng trồng cây thực phẩm đã, và
đang được hình thành và phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nội địa,
nhất là các loại rau sạch.
• Ngành trồng cây công nghiệp.
Cây công nghiệp còn được gọi là cây kỹ thuật để chỉ mục đích và tính chất
nhằm cung cấp nguyên liệu cho chế biến nông sản
Ở nước ta cây công nghiệp được chia làm hai nhóm:
- Nhóm cây hàng năm, hay cây ngắn ngày. Có chu kì từ lúc gieo trồng
đến khi thu hoạch dưới 1 năm như: đay, cói, bông. Lạc, mía, thuốc lá, đậu
tương…
- Nhóm cây lâu năm, gọi chung là cây dài ngày. Có chu kì kinh doanh
dài, trồng 1 lần nhưng thu hoạch (nhựa, lá, quả) nhiều năm như: cao su,
che, cà phê, ca cao, hồi, quế…Từ đây lại chia làm hai phân kì: phân kì kiến
thiết cơ bản ( từ lúc trồng cho tới lúc cho sản phẩm) và phân kì kinh doanh
(từ khi cho sản phẩm trở đi) cây ăn quả cũng được xếp vào nhóm này.
• Ngành trồng cây ăn quả.
Trồng cây ăn quả là một ngành được phát triển từ lâu, nhưng trước đây quy
mô còn rất hạn chế. Nước ta có nhiều điều kiện và tiềm năng để phát triển các
loại cây ăn quả,tuy nhiên sự phát triển của ngành vẫn còn chậm và thiếu ổn
định.
b. Ngành chăn nuôi
• Chăn nuôi gia súc lớn.
Trang 10
Là phân ngành quan trọng nhất trong chăn nuôi nói chung. Các gia súc lớn

chiều hướng tích cực và tiêu cực. Có 7 kiểu rừng chủ yếu đó là: rừng lá rộng
thường xanh và nửa rụng lá là loại rừng bị giảm diện tích nhanh nhất; rừng rụng
lá có xu hướng tăng; rừng lá kim giảm và rừng ngập mặn giảm mạnh; rừng chua
phèn và rừng tre nứa có xu hướng giảm; rừng hỗn giao giữa gỗ và tre nứa tăng;
rừng đặc sản giảm mạnh.
Tuy nhiên rừng trồng có xu hướng ngày càng tăng lên rõ rệt. Số rừng này
phong phú về chủng loại cây, đa dạng về mục đích. Thực hiện quá trình tăng
diện tích rừng trồng gắn liền với những chính sách khuyến lâm của chính phủ
tương đối hiệu quả, đặc biệt la giao đất, giao rừng cho các hộ nông dân.
Việc khai thác, chế biến gỗ và lâm sản nhìn chung phát triển không ổn định.
Cơ cấu rừng kinh doanh của nước ta bao gồm: rừng gỗ phục vụ cho xây dựng cơ
bản, rừng nguyên liệu giấy, rừng gỗ trụ mỏ, rừng tre nứa cho nhu cầu xây dựng,
rừng đặc sản ( thông nhựa, quế hồi, cánh kiến ), rừng gỗ gia dụng và lấy củi.
d. Ngành ngư nghiệp .
Cùng với các ngành kinh tế khác, ngư nghiệp có vai trò nhất định trong nền
kinh tế quốc dân nói chung và đời sống hàng ngày của nhân dân nói riêng. Tầm
quan trọng của nó được thể hiện ở việc tham gia vào cơ cấu bữa an với thực
phẩm có chất lượng cao về dinh dưỡng. đóng góp vào nền kinh tế, tạo ra mặt
hàng xuất khẩu và góp phần giải quyết việc làm cho 1 bộ phận lao động của xã
hội
• Đánh bắt hải sản
Việc đánh bắt hải sản hiện nay tập trung vào các ngư trường thuộc các vùng
biến vịnh Bắc Bộ, Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ. Vịnh Bắc Bộ là vùng
biển có nguồn lợi hải sản phong phú và thuận lợi cho việc đánh bắt. Độ sâu
trung bình là 50m, tập trung nhiều đảo trong đó có Đảo Cát Bà và Bạch Long Vĩ
Trang 12
với tư cách như 2 trung tâm khai thác chính. Vùng biển ở Trung Bộ có thềm lục
địa hẹp nên hầu như việc khai thác chủ yếu tập trung ở ven biển. So với các
vùng khác thì tiềm năng ở đây hạn chế hơn. Vùng biển ở Đông Nam Bộ giàu
tiềm năng nhất với phần lớn diện tích có độ sâu dưới 60m. Vùng biển ở Tây

sống ổn định và được cải thiện. phát triển rừng nguyên liệu gắn với công nghệ
chế biến lâm sản với công nghệ hiện đại.
Ba là, phát triển đồng bộ và có hiệu quả nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và
bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Coi trọng khâu sản xuất và cung cấp giống tốt, bảo vệ
môi trường, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu.
Bốn là, tăng cường các hoạt động khuyến nông, khuyến công, khuyến lâm,
khuyến ngư, công tác thú y, bảo vệ thực vật và các dịch vụ kỹ thuật khác ở nông
thôn.
- Chuyển giao nhanh và ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ, nhất là
công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp; chú trọng các khâu giống, kĩ
thuật canh tác, nuôi trồng, công nghệ sau thu hoạch và công nghệ chế biến.
- Tăng đầu tư từ ngăn cản nhà nước, và đa dạng hóa các nguồn vốn để
tiếp tục đầu tư phát triển mạnh hơn cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn
ưu tiên nâng cấp và xây dựng mới các hệ thống thủy lợi đồng bộ, đi đôi với
đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lí để đảm bảo an toàn về nước. Củng cố
hệ thống hồ đập, kè ven sông, ven biển; nâng cấp các hệ thống cảnh báo,
chủ động phòng chống lũ lụt và giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường
nước. Tiếp tục đầu tư phát triển giao thông nông thôn, bảo đảm các xã đều
có đường ôtô tới thôn bản; bảo đảm hơn 90% số dân cư nông thôn có điện
sinh hoạt, hơn 75% số dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch.
- Rà soát bổ sung, điều chỉnh chính sách về đất đai, thuế, tín dụng, đầu
tư… nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện việc hình thành các khu và cụm công
nghiệp, cụm làng nghề ở nông thôn để thu hút các cơ sở sản xuất công
Trang 14
nghiệp và kinh doanh dịch vụ sử dụng nhiều lao động và nguồn nguyên liệu
từ nông - lâm - thủy sản.
Năm là, khẩn trương xây dựng các quy hoạch phát triển nông nghiệp, thực
hiện chương trình xây dựng nông thôn mới.
- Xây dựng các làng xã, ấp, thôn, bản có cuộc sống no đủ môi trường
lành mạnh. Tiếp tục đầu tư nhiều hơn cho chương trình xóa đói giảm

thôn thu hút tới 2/3 lực lượng lao động xã hội và là nguồn lao động thu nhập chủ
yếu của 70,03% dân nông thôn sinh sống, đang và sẽ có vai trò quan trọng trong
nền kinh tế quốc dân. Sau những năm đổi mới, chúng ta đã thu được một số kết
quả nổi bật, làm tiền đề cho công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông
thôn.
Kinh tế của khu vực nông thôn có sự tăng trưởng và đóng góp ngày một
lớn hơn cho nền kinh tế cả nước. Nông nghiệp đã đạt được mức độ tăng trưởng
GDP ở mức khoảng 5- 6%/ năm (thời kì 1996-2000 đạt 6,1% năm, thời kì 2001-
2005 khoảng 6% năm). Giá trị sản lượng toàn ngành nông - lâm – ngư nghiệp
tăng 5,6% năm, trong đó nông nghiệp tăng 5,4% năm (chỉ tiêu đại hội Đang toàn
quốc lần thứ IX đề ra là 4,8% năm); cây công nghiệp tăng 10%; lương thực tăng
4,2- 4,3%, chăn nuôi tăng 5,4%; thủy sản tăng 9,1%; lâm nghiệp tăng 2,1%.
Tính đến năm 2003, vùng nông thôn đóng góp khoảng 30% GDP cả nước, 84%
giá trị gia tăng nông nghiệp, 16% giá trị tăng công nghiệp, 13% giá trị gia tăng
dịch vụ cả nước. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản năm 2004 đạt
gần 7 tỷ USD, tăng 1,5 lần so với năm 2000, trong đó nông lâm sản tăng gần 1,5
lần, thủy sản tăng 1,6 lần. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đạt sản lượng và
giá trị lớn như: gạo, cà phê, cao su, hạt điều. Đặc biệt, xuất khẩu đồ gỗ gia dụng
và lâm sản tăng mạnh, đạt hơn 1,2 tỉ USD tăng gấp 3,3 lần so với năm 2000.
Ngành kinh tế của khu vực nông thôn nổi bật nhất là nông nghiệp đã có
những thay đổi theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Trong nông nghiệp,
Trang 16
sản lượng lương thực không ngừng tăng, bình quân mỗi năm tăng 1,1 triệu tấn.
Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã có những bước chuyển dịch tích
cực theo hướng đẩy mạnh sản xuất các loại nông sản hàng hóa có nhu cầu thị
trường và có giá trị kinh tế cao. Tiếp tục đảm bảo tốt an ninh lương thực quốc
gia, tuy diện tích trồng lúa giảm (khoảng hơn 300 nghìn ha) để chuyển sang nuôi
trồng thủy sản và các cây trồng khác có giá trị cao hơn, nhưng sản lượng lương
thực vẫn tăng từ 34,5 triệu tấn (năm 2000) lên 39,12 triệu tấn (năm 2004). Trong
đó sản lượng lúa tăng 32,5 lên 35,8 triệu tấn. Năm 2005, sản lượng lương thực

sản xuất công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản tăng trưởng bình quân 12-14%
năm. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề nông thôn tăng bình quân
15% năm. Hiện cả nước có 2971 làng nghề, khoảng 1,35 triệu cơ sở ngành nghề
nông thôn, với khoảng 1,4 triệu hộ, thu hút hơn 10 triệu lao động (trong đó có
khoảng 1,5 năm triệu người làm hàng mỹ nghệ)
Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng dần tỉ trọng công
nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Năm 2004 trong tổng GDp
của cả nước, tỷ trọng nông lâm nghiệp và thủy sản đã giảm từ 24,53% xuống
còn 21,76%; lao động nông nghiệp giảm từ 59,04% xuống còn 57,9%, lao động
công nghiệp, tiều thủ công nghiệp chiếm khoảng 17%, dịch vụ chiếm 25,1%.
Năm 2003, hộ thuần nông đã giảm còn 68,8%, hộ kiêm nghề tăng lên, chiếm
12,7 % và phi nông nghiệp chiếm 18,4%. Nguồn thu của các hộ nông dân từ
nông lâm ngư nghiệp chiếm 77,5%; công nghiệp, xây dựng và dịch vị nông thôn
đã tăng lên, chiếm 22,5% tổng thu.
Trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, thủy sản từng
bước được nâng cao theo hướng sử dụng giống mới, công nghệ sinh học,
phương thức canh tác tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản thủy
sản. Đến nay, có hơn 90% diện tích trồng lúa, 80% diện tích trồng ngô, 60%
diện tích mía, 100% diện tích trồng điều được sử dụng giống mới. Công nghệ sử
dụng mô hom được đưa nhanh vào sản xuất giống cây rừng, nên năng suất chất
lượng rừng được cải thiện. Ngành thủy sản đã sản xuất và đưa vào sản xuất một
số loại thủy sản có giá trị kinh tế cao. Nhiều khâu trong sản xuất nông nghiệp
được cơ giới hóa như: tưới nước, tuốt lúa, xay xát đạt hơn 80%, vận chuyển làm
Trang 18
đất đạt hơn 60%. Trong ngành thủy sản, tổng công suất tàu thuyền đánh bắt đạt
hơn 4 triệu sức ngựa, một số cơ sở nuôi trồng thủy sản được trang bị các thiết bị
máy móc bảo đảm công nghệ nuôi trồng thủy sản tiên tiến.
Doanh nghiệp tư nhân tăng nhanh, năm 2004 có 15600 doanh nghiệp tư
nhân đang hoạt động trên địa bàn nông thôn, bình quân 1 doanh nhân thu hút
khoảng 20 lao động, đang là nhân tố quan trọng trong phát triển nông thôn.

b/ Những hạn chế và thách thức của vùng nông thôn trong quá trình thực
hiện Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa .
Diện tích đất canh tác ít, nhất là đất nông nghiệp: nếu tính cho 1 nhân
khẩu nông nghiệp thì chỉ đạt mức 0,16 ha, thấp hơn nhiều so với trung bình thế
giới (0,59 ha/ người) và mức trung bình châu Á (0,26 ha/người). Tình trạng
không có đất nông nghiệp phát triển tồn tại hầu như ở tất cả các vùng, chẳng hạn
ở đồng bằng sông Hồng năm 1993 có 3,2% số hộ nông dân không có đất canh
tác thì đến 2002, con số đó là 19%. Sản xuất kinh tế hộ gia đình là chủ yếu,
trong đó chủ yếu là quy mô nhỏ, sản xuất nhỏ lẻ phân tán, rất hạn chế việc thu
mua hàng hóa. Đây là một khó khăn và thách thức lớn trên con đường phát triển
nông nghiệp nông thôn đi tới công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm: nông nghiệp chiếm tới 70%, trong đó
ngành trồng trọt chiếm tới trên 70% trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp.
Công nghiệp và dịch vụ nông thôn chưa phát triển. Phần lớn nông phẩm bán ra
thị trường dưới dạng thô hoặc sơ chế, giá trị sản phẩm thấp nên người nông dân
bị thua thiệt.
Trình độ khoa học công nghệ kĩ thuật trong nông lâm ngư nghiệp còn thấp
và rất thiếu thông tin thị trường (chỉ khoảng 25% số nông dân được tiếp cận
thông tin qua báo chí và hội chợ). Việc ứng dụng khoa học công nghệ chưa được
nhiều. Năng suất cây trồng, vật nuôi nói chung còn thấp, chỉ bằng khoảng 30
-35% so với các nước tiên tiến. Công nghệ kĩ thuật, đăc biệt là công nghệ chế
biến còn sử dụng nhiều thiết bị cũ, lạc hậu, tiêu tốn nhiều năng lượng, giá thành
sản phẩm cao, chất lượng sản phẩm còn thấp. Tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đẩt
mới chỉ đạt khoảng 30% diện tích gieo trồng. Công nghệ bảo quản sau thu
Trang 20
hoạch, công nghệ chế biến và ngành nghề kém phát triển. Đến nay công nghiệp
mới chế biến được 60% sản lượng chè, 30% sản lượng mía, 1% sản lượng thịt.
Tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch lúa khoảng 13%, của rau quả trung bình khoảng
20%. Hầu hết các sản phẩm nông lâm ngư nghiệp còn được xuất khẩu dưới dạng
thô, chưa qua chế biến hoặc chế biến đơn giản.

hộ thuộc diện thường xuyên thiếu ăn, khoảng 400 nghìn hộ du canh du cư hoặc
đã định cư nhưng vẫn du canh.
Mức chênh lệch giữa nông thôn và thành thị về mức sống ngày càng gia
tăng. Nếu áp dụng chuẩn nghèo mới dự kiến tỷ lệ nghèo cả nước là 26-27%,
riêng nông thôn lên tới 31%, miền núi lên hơn 50%, có nơi lên hơn 60% (vùng
Tây Bắc)…
Chỉ tiêu 1995 2000 2003 2005
1.Thành thị
Dân số (Triệu người) 14,9 18,7 20,5 21,8
GDP (Nghìn tỷ đồng) 143,9 300,5 426,2 574,9
GDP/người(Triệu đồng/người) 9,6 16 20,7 26,3
2. Nông thôn
Dân số (Triệu người) 57 58,8 60,3 60,6
GDP (Nghìn tỷ đồng) 85 141,1 179,4 217,6
GDP/người(Triệu đồng/người) 1,5 2,4 3,0 3,6
3.Chênh lệch TT và NT
Dân số (%) 26,1 31,8 34 36
GDP (lần) 1,7 2,1 2,4 2,6
GDP (lần) 6,4 6,7 7 7,3
Ô nhiễm môi trường: ở nông thôn do lạm dụng phân bón, hóa chất đã gây
ảnh hưởng đến môi trường và hệ sinh thái, gây nhiễm độc nguồn nước, thực
phẩm. 13 triệu ha đất bị suy thoái. Sức ép của sản xuất nông nghiệp và đẩy
mạnh nuôi tôm xuất khẩu đã làm cho diện tích rừng tràm và rừng ngập mặn ven
biển – loại rừng có ý nghĩa hết sức quan trọng về việc bảo tồn sinh học và cân
bằng hệ sinh thái bị phá hủy nghiêm trọng. Các làng nghề và phát triển công
nghiệp nhỏ một cách tự phát không có quy hoạch đã gây ô nhiễm không nhỏ đến
nguồn nước. 90% làng nghề và vùng đồng bằng sông Hồng đang tròg tình trạng
ô nhiễm nặng chưa có biện pháp sử lý. Ở vùng núi do khai thác quá mức nên tỷ
Trang 22
lệ che phủ rừng chỉ còn 29%, vùng khó khăn như Sơn La, Lai Châu thì tỷ lệ này

cầm, nuôi trồng thủy sản. Nghiên cứu chuyển đổi sang phát triển các loại cây
con có yêu cầu thấp hơn ở những vùng khô hạn.
Phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn để tạo công ăn việc
làm, tăng thu nhập và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nhất là
doanh nghiệp vừa và nhỏ, các làn nghề.
Hỗ trợ phát xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế và kết cấu hạ tầng
xã hội ở nông thôn; đầu tư xóa đói giảm nghèo, trước hết là đối với miền núi,
vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tăng cường thu hút vốn đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn bao
gồm: vốn ODA, FDI , vốn của các doanh nghiệp và của dân, ngân sách nhà
nước chỉ tập trung tại một số lĩnh vực chính: thủy lợi, giao thông, cung cấp nước
sạch, một số cơ sở về giống, nghiên cứu khoa học cơ bản, quan trọng.
Tiếp tục thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, huy
động mọi nguồn lực phát triển sảm xuất gắn với tổ chức lại sản xuất nông
nghiệp và kinh tế nông thôn.Hoàn thành việc sắp xếp và đổi mới tổ chức sản
xuất của các hệ thống nông, lâm trường quốc doanh. Đẩy nhanh việc giao đất,
giao rừng từ khu vực quốc doanh cho các thành phần kinh tế kinh doanh. Hoàn
thành cơ bản cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong ngành nông nghiệp. Chú
trọng phát triển kinh tế trang trại; củng cố và phát triển khu vực hợp tác xã; tiếp
tục thực hiện đồn điền, đổi thửa. Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư trong lĩnh vực
nông, lâm nghiệp và thủy sản để giảm bớt áp lực đối với đầu tư nhà nước.
Phát triển thị trường tiêu thụ nông lâm nghiệp và thủy sản, làm cở sở cho
chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn có hiệu quả. Đồng
thời với việc phát triển thị trường nước ngoài, coi trọng phát triển thị trường
trong nước, tạo liên kết chặt chẽ giữa các vùng trong cả nước. Hỗ trợ phát triển
các hình thức liên kết giữa nông dân với các doanh nghiệp và nhà khoa học
trong việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng. Đầu tư phát triển thị
trường nông thôn.
Trang 24
Làm tốt công tác nghiên cứu dự báo thông tin thị trường cho nông dân và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status