phát triển kinh tế nông thôn trong nền kinh tế thị trường - Pdf 20

Website: Email : Tel : 0918.775.368
A. Mở Đầu
Kinh tế thị trờng là trình độ phát triển cao nhất của kinh tế hàng hoá ,
trong đó toàn bộ các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất đều thông qua
thị trờng. Việc lựa chọn mô hình nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay là tất yếu khách quan và hoàn toàn phù hợp với xu thế của thời
đại. Nhận thức đợc điều này, tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12
năm 1986), Đảng ta đã chính thức tuyên bố: chuyển nền kinh tế từ cơ chế kế
hoạch hoá tập trung dựa trên một chế độ sở hữu công hữu duy nhất sang nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý
của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, thực chất là nền kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa. Trong khi đó, nớc ta xuất phát từ một nớc nông
nghiệp lạc hậu với khoảng 75% dân số sống ở nông thôn, đa số ngời lao động
có trình độ thấp. Vì vậy, để có thể tận dụng nguồn lực này một cách triệt để và
có hiệu quả chúng ta phải phát triển kinh tế nông thôn trong nền kinh tế thị tr-
ờng.
Trong bài tiểu luận kinh tế chính trị này, em muốn nghiên cứu tới vấn đề
phát triển kinh tế nông thôn trong nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam.
Theo em, đề tài này rất thú vị. Nó thiết thực và mang tính thời sự đối với tình
hình nớc ta hiện nay. Hơn nữa, là một sinh viên trờng Kinh tế quốc dân, em
nghĩ mình cần nắm bắt cũng nh hiểu đợc những vấn đề trọng tâm, hàng đầu của
đất nớc, có nh vậy mới có thể góp phần xây dựng và phát triển kinh tế nớc nhà
tiến lên, hớng tới mục tiêu đa đất nớc thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, đi lên con
đờng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ đã chọn.
Qua tìm hiểu, từ thực trạng của kinh tế nông thôn nớc ta với những thành
tựu đã đạt đợc trong những năm gần đây và những mặt hạn chế còn tồn tại cần
khắc phục, giải quyết, em cho rằng việc phát triển kinh tế nông thôn là sự cần
thiết khách quan. Đồng thời, qua đây cá nhân em cũng muốn đa ra một vài giải
pháp cho sự phát triển kinh tế nông thôn ở nớc ta theo ý muốn chủ quan của
mình.


nguyên liệu cho các ngành chế biến, các sản phẩm hàng hoá cho thị trờng trong
và xuất khẩu.
+Kinh tế nông thôn phải có công nghiệp gắn với nông, lâm, ng
nghiệp.
- Công nghiệp chế biến.
- Công nghiệp phục vụ đầu vào của sản xuất nông nghiệp: sản xuất
máy móc nông nghiệp, thuỷ lợi...
Nh vậy, kinh tế nông thôn không chỉ dừng lại ở khâu công nghiệp
chế biến mà còn có thể phát triển những ngành công nghiệp phục vụ cho đầu
vào của sản xuất nông nghiệp.Công nghiệp ở nông thôn còn bao gồm một bộ
phận tiểu thủ công nghiệp với các trình độ công nghệ khác nhau, sản xuất các
hàng hoá không có nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp cho tiêu dùng trong nớc
và xuất khẩu.Công nghiệp ở nông thôn làm cho nông nghiệp và công nghiệp kết
hợp ngay tại chỗ thành cơ cấu ngành nghề.
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+Các loại hình dịch vụ thơng nghiệp, tín dụng, khoa học công nghệ...
Các loại hình dịch vụ này cùng với các cơ sở hạ tầng ở nông thôn (điện, đờng,
trờng, trạm...) sẽ là các bộ phận hợp thành của kinh tế nông thôn. Sự phát triển
mạnh mẽ và hợp lý của chúng là biểu hiện trình độ phát triểncủa kinh tếnông
thôn.
Xét về mặt kinh tế xã hội, kinh tế nông thôn cũng bao gồm nhiều
thành phần kinh tế. Về cơ bản,các thành phần kinh tế nông thôn cũng giống các
thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân nh: kinh tế nhà nớc, kinh tế tập
thể, kinh tế hộ gia đình, kinh tế t bản t nhân, kinh tế hợp tác...Trong đó, thành
phần kinh tế nhà nớc vẫn giữ vai trò chủ đạo trong kinh tế nông thôn.
Xét về không gian và lãnh thổ, kinh tế nông thôn bao gồm các vùng nh:
vùng chuyên canh lúa, vùng chuyên canh cây màu, vùng trồng cây ăn quả...
2. Vai trò của kinh tế nông thôn:
2.1. Cung cấp lơng thực thực phẩm cho xã hội:

3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tăng lên và nhu cầu của họ về các loại sản phẩm công nghiệp nh: ti vi, tủ lạnh,
xe máy, vải vóc... và nhu cầu về dịch vụ văn hoá, y tế, giáo dục, du lịch, thể
thao...cũng ngày càng tăng.
Nhu cầu về các loại sản phẩm công nghiệp và dịch vụ của khu vực kinh tế
rộng lớn là nông nghiệp, nông thôn góp phần đáng kể mở rộng thị trờng của
công nghiệp và dịch vụ. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của công
nghiệp, dịch vụ.
2.5. Phát triển nông nghiệp, nông thôn là cơ sở ổn định kinh tế, chính trị, xã
hội:
Nông thôn là khu vực kinh tế rộng lớn, tập trung phần lớn dân c của đất n-
ớc.Phát triển kinh tế nông thôn, một mặt bảo đảm nhu cầu lơng thực, thực phẩm
cho xã hội; nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ; là thị trờng của công nghiệp và
dịch vụ... Do đó, phát triển kinh tế nông thôn là cơ sở ổn định, phát triển nền
kinh tế quốc dân. Mặt khác, phát triển nông thôn trực tiếp nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần cho c dân nông thôn.Vì vậy, phát triển nông thôn là cơ sở ổn
định chính trị, xã hội. Hơn thế nữa, c dân nông thôn chủ yếu là nông dân, ngời
bạn đồng minh, là chỗ dựa đáng tin cậy của giai cấp công nhân trong công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Phát triển nông
nghiệp, nông thôn góp phần củng cố khối liên minh công nông, tăng cờng sức
mạnh của chuyên chính vô sản.
3. Tính tất yếu phải phát triển kinh tế nông thôn trong nền kinh tế thị trờng
ở Việt Nam:
Nh đã nêu trên, kinh tế nông thôn có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát
triển của nền kinh tế đất nớc cũng nh các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Mặt khác, ở các nớc nghèo, nông nghiệp thờng chiếm tỉ trọng rất lớn trong
GDP và thu hút một bộ phận quan trọng lao động xã hội. Trong khi đó, nớc ta
lại xuất phát từ một nớc nông nghiệp lạc hậu với đa số dân c sống ở nông thôn,
ngời dân chủ yếu sống bằng nông nghiệp thì kinh tế nông thôn càng giữ một vai

có chất lợng cao để phù hợp với yêu cầu của thị trờng trong và ngoài nớc, sản
xuất lúa phát triển theo hớng tích cực. So với năm 2004, diện tích lúa giảm
3,4% nhng năng suất tăng 2% nên sản lợng lúa vẫn tăng 0,4% (145 nghìn tấn)
vào năm 2005. Điều này còn giúp ta tiến sâu vào các thị trờng khó tính nh Nhật
Bản. Từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2005, ta đã xuất khẩu sang thị trờng này
40.000 tấn gạo thơm, tăng 60% so với cùng kỳ năm ngoái. Hơn nữa, việc tăng
chất lợng gạo còn giúp tăng giá gạo xuất khẩu của Việt Nam: giá gạo xuất khẩu
bình quân năm 2005 đạt 275 USD/tấn so với 232 USD/tấn năm 2004. Kim
ngạch xuất khẩu gạo cũng tăng cao: gạo xuất khẩu đạt trên 5 triệu tấn, kim
ngạch đạt trên 1,34 tỷ USD, tăng 30% về lợng và 50% về kim ngạch so với năm
2004. Cùng với đó, sản xuất ngô năm 2005 cũng có những tiến bộ vợt bậc: sản
lợng đạt 3,69 triệu tấn, tăng 257 nghìn tấn so với năm 2004 và là mức cao nhất
từ trớc đến nay. Nhờ đó, cơ cấu sản lợng lơng thực đã thay đổi: tỷ trọng ngô từ
8,3% năm 2003 và 8,7% năm 2004 lên 9% năm 2005, tỷ trọng lúa giảm từ
91,7% và 91,3% xuống 91% trong 3 năm tơng ứng.
Những kết quả đã đạt đợc ở trên cho thấy, sản xuất lơng thực của nớc ta
đã và đang phát triển mạnh với tốc độ ổn định, thị trờng và giá cả nông sản thực
phẩm trong nớc bình ổn, an ninh lơng thực quốc gia đợc giữ vững.
1.2. Sản xuất rau, hoa màu và cây công nghiệp tăng khá cao:
Sản lợng rau đạt 9.66 triệu tấn, tăng 6.9%; sắn đạt 6,5 triệu tấn, tăng
12,5%; đỗ tơng đạt 297 nghìn tấn, tăng 20,7%; lạc đạt 485,4 nghìn tấn, tăng
3,5%; bông tăng 9,6%; chè tăng 4%; cao su tăng 12,1%, hồ tiêu tăng 6,4% so
với năm 2004. Bên cạnh đó, chất lợng một số loại quả có tiến bộ nên đã đáp ứng
đợc yêu cầu xuất khẩu.Kim ngạch xuất khẩu rau quả năm 2005 ớc đạt 230 triệu
USD, tăng 32% so với năm 2004.
Diện tích cây ăn quả tăng nhanh: năm 2005 đạt 766 nghìn ha, tăng 19,3
nghìn ha so với năm 2004. Không chỉ diện tích mà sản lợng cây ăn quả cũng
tăng nhanh: cam quýt tăng 12,2%, dứa tăng 13%, bởi tăng 15,7%, xoài tăng
12,8% trong năm 2005 so với năm 2004.
Do các loại rau, quả và cây công nghiệp không chỉ tăng về sản lợng mà

sấu, mở rộng quy mô các đàn dê, hơu, nai... để bổ sung thay thế thịt gia cầm.
1.4. Sản xuất lâm nghiệp, thuỷ sản có nhiều bớc tiến:
Năm 2005, tốc độ tăng trởng giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng 0,8% và thuỷ
sản tăng 9,7% đã góp phần chuyển dịch đúng hớng cơ cấu sản xuất trong kinh
tế nông thôn: tỷ trọng nông nghiệp giảm, tỷ trọng thuỷ sản tăng.
Về lâm nghiệp, nhờ chính sách giao đất khoán rừng, diện tích rừng trồng
tập trung đạt 184,5 nghìn ha, tăng 0,1% so với năm 2004. Số cây trồng phân tán
(chỉ tính cây lâm nghiệp) đạt 245,8 triệu cây, tăng 1,9%; công tác quản lý,
chăm sóc và bảo vệ rừng có nhiều tiến bộ. Tỷ lệ đất đợc che phủ cây rừng đạt
gần 36%, cao hơn năm 2004. Sản lợng gỗ khai thác đạt 2703 nghìn m3, tăng
2,9%, chủ yếu là gỗ rừng trồng nguyên liệu giấy. Kim ngạch xuất khẩu lâm sản
(đồ gỗ, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan và lâm sản khác) cũng tăng mạnh trong
mấy năm qua; 10 tháng đầu năm 2003, Việt Nam đã xuất khẩu đợc 497 triệu
USD hàng lâm sản, ớc kim ngạch xuất khẩu cả năm có thể đạt trên 590 triệu
USD. Thị trờng lớn nhất là Nhật Bản, tiếp theo là Mỹ, EU, Đài Loan, Hàn
Quốc.
Về sản xuất thuỷ sản, sản lợng thuỷ sản cả năm ớc tính đạt 3432,8 nghìn
tấn, tăng 9,2%; trong đó, nuôi trồng 1437,4 nghìn tấn, tăng 19,5%; khai thác đạt
1995,4 nghìn tấn, tăng 2,9% so với năm 2004. Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu
thuỷ sản đạt 2,6 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2004. Nhiều loại hải sản xuất
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status