hợp tác giữa các nước sản xuất và xuất khẩu gạo để giải quyết vấn đề bình ổn giá gạo xuất khẩu và tạo nguồn lợi chính đáng cho người nông dân trồng lúa - Pdf 10

Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời cho tới khi nhắm mắt xuôi tay, con
ngời có rất nhiều những nhu cầu cần đợc đáp ứng: nhà để ở, quần áo để mặc,
những trò chơi dể giải trí, sách vở để học hành .Nhng dù ở trong quá
khứ, hiện tại hay ở tơng lai thì có lơng thực dể sinh tồn vẫn là nhu cầu cơ bản
nhất, thiết yếu nhất của mỗi con ngời và của cả loài ngời. Bởi vì con ngời vẫn
có thể sống một cách hoàn toàn bình thờng mà chẳng cần đến những toà biệt
thự sang trọng, những bộ quần áo đắt đỏ, những trò giải trí xa xỉ .Nhng
chắc chắn là chúng ta sẽ chết nếu nh chúng ta không có lơng thực cho dù
chúng ta là kĩ s hay bác sĩ, là học sinh hay sinh viên, là ngời Việt Nam hay ng-
ời ấn ĐộVậy nên việc sản xuất và đảm bảo an ninh lơng thực quả là một
vấn đề quan trọng và rất đáng đợc quan tâm ở tất cả các quốc gia trên thế giới
đặc biệt là đối với các nớc nông nghiệp nh ấn Độ và Việt Nam Những nhà
xuất khẩu gạo hàng đầu của thế giới trong những năm gần đây. Là một sinh
viên của chuyên nghành ấn Độ học, tôi thực sự mong mỏi rằng việc tìm hiểu
vấn đề: Sản xuất và xuất khẩu gạo của ấn Độ từ sau cải cách kinh tế tháng 7
năm 1991 sẽ mang lại cho tôi những kiến thức sâu sắc về ngành Nông nghiệp
của ấn Độ nói chung và về lĩnh vực này nói riêng .
Tuy nhiên trong giới hạn một bài niên luận với độ dài 20 trang, sẽ rất
khó cho tôi nếu phải đề cập đến tất cả các lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu lúa
gạo của ấn Độ. Điều này chẳng khác gì cố gắng tóm tắt cuộc đời vinh quang
và sự nghiệp vĩ đại của một nhân vật lịch sử trong vòng ba dòng ngắn ngủi.
Vậy nên trong bài niên luận này, tôi xin đợc tập trung vao những vấn đề sau:
Chơng 1: Sản xuất và xuất khẩu gạo của ấn Độ trớc cải cách kinh
tế tháng 7 năm 1991
1.Khó khăn- thử thách
2.Giải pháp
3.Kết quả và hạn chế
Chơng 2: Sản xuất và xuất khẩu gạo của ấn Độ từ sau cải cách kinh
tế tháng 7 năm 1991
1.Đổi mới chính sách nông nghiệp của ấn Độ từ cải cách Kinh tế:
Nguyên nhân và chính sách

theo rất nhiều ma . Song sự phân bố ma lại không đồng đều đã tạo ra những
vùng khí hậu ẩm ớt và cả những vùng có khí hậu khô hạn. ở các sờn núi Gát
Đông và Gát Tây và ở vùng hạ lu của con sông Hằng ( những nơi trực tiếp đón
gió mùa mùa hạ) lợng ma tơng đối cao. Nên đây chính là địa bàn thuận lợi cho
việc trồng đay trồng , mía đặc biệt là cây lúa. Trái lại, ở các vùng nh Đông
Bắc, lu vực sông ấn và ở giữa cao nguyên Đêcan , lợng ma ít hơn rất nhiều .
Ngay ở trong mùa hạ - mùa ma, hạn hán vẫn thờng xuyên xảy ra gây thiệt hại
nghiêm trọng cho mùa màng. Trừ hai con sông lớn sông ấnvà sông Hằng, các
con sông của ấn Độ đều hiếm nớc. Do đó, năm nào gió mùa Tây Nam đến
muộn, vì thiếu nớc mà việc cày bừa cho vụ sau bị chậm lại, rơm cỏ cho súc vật
2
vì thế cũng khan hiếm. ở nhiều nơi, ngay cả nứoc phục vụ cho sinh hoạt của
nhân dân còn khó khăn do các mạch nớc ngầm bị cạn cả , cha nói gì đến nớc
phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Thứ ba : Chế độ sở hữu ruộng đất của ấn Độ còn tồn đọng nhiều điểm
bất bình đẳng. Nông dân chiếm tới 85% dân số nhng chỉ nắm trong tay 15%
ruộng đất. Trong khi đó địa chủ chí chiếm 15% dân số nhng lại thâu tóm đến
85% tổng diên tích ruộng đất. Có thể nói chính chế độ sở hữu ruộng đất này
đã kĩm hãm sự phát triển của nghành sản xuất nông nghiệp của ấn Độ .
Thứ t : Trình độ sản xuất còn rất thô sơ và lạc hâụ. Phần lớn các công
việc đồng áng nh cày, bừa và làm đất đều sử dụng sức súc vật thậm chí ở nhiều
nơi vần còn dùng đến sức ngời. Mức độ sử dụng phân bón cũng rất thấp, phân
hoá học chỉ khoảng 3kg/ha trong khi đó nhiều quốc gia trên thế giới đã sử
dụng phân hoá học ở con số trên 100kg/ha, điển hình nh Nhật Bản tới
135,9kg/ha.
Chính những khó khăn ấy mà trong vòng gần hai trăm năm dới ách đô
hộ của thực dân Anh, những c dân đợc coi là may mắn sống sót đã phải đau
lòng trớc thảm cảnh nạn đói đe doạ và cớp đi sinh mạng của hạng chục triệu
ngời. Và cũng chính vì những lí do ấy mà sau ngày giành đợc độc lập, tuy là
một nớc nông nghiệp nhng hàng năm ấn Độ vẫn phải nhập một khối lợng l-

giai doạn ổn định tạm thời của tình hình trong nớc cũng chấm dứt. ấn Độ lâm
vào tình trạng khủng hoảng Kinh tế Xã hội trầm trọng. Tình trạng thiếu l-
ơng thực tiếp tục căng thẳng, đặc biệt là những năm 1965-1966. Theo báo cáo
của Bộ Lơng thực từ tháng 4 đến tháng 6.1966, có 52 triệu ngời ấn Độ bị chết
đói. Nhiều ngời do đói quá đã phải lấy lá cây, thậm chí giết cả bò cái đế ăn-
một việc làm mà cộng đồng những ngời ấn Độ giáo cho là tội lỗi và cấm kị.
Thời gian này ấn Độ cũng phải nhập một lợng lơng thực lớn từ 6,3 triệu tấn
năm 1965 đến 10,5 triệu tấn năm 1966.
Nh vậy việc phát triển Nông nghiệp theo hớng quảng canh không thể
đem lại hiệu quả lớn. Vậy nên vấn đề mấu chốt ở đây chính là làm sao nâng
cao đợc năng suất cây lúa . Ngay sau khi kế hoạch 5 năm lần thứ ba kết thúc
năm 1966, vào tháng 7. 1967 chính phủ ấn Độ đã quyết định đa nông nghiệp
và nghành xản xuất lúa gạo phát triển theo hớng thâm canh- nghĩa là phát
triển theo chiều sâu với nội dung chính là sử dụng giống cao sản.
3.Thành quả và hạn chế
Với một loạt cac chính sách kinh tế nhằm cải biến tình hình, nghành
sản xuất lúa gạo đã đạt đợc những kết quả đáng kể, tuy nhiên vẫn còn những
điểm hạn chế .
Luật thay thế Daminda cũng đã làm giảm đi phần nào số lợng nông dân
không có ruộng đất hoặc có ruộng đất nhng ở dới mức tối thiểu để có thể duy
trì nổi cuộc sống. Thêm vào đó, cuộc cải cách ruộng đất cũng có nhiều tác
động nhất định đối với sản xuất lúa gạo: phá vỡ những dàng buộc kiểu phong
kiến đồng thời cũng mở ra hàng loạt các quan hệ sản xuát và kinh doanh nông
4
nghiệp theo kiểu t bản chủ nghĩa, cho phép tiếp thu kĩ thuật mới, góp phần
nâng cao năng suất lao động và sản lợng lúa gạo.
Tuy nhiên cũng phải thẳng thắn nhìn nhận một điều rằng cải cách ruộng
đất cũng chỉ đơn thuần là một cuộc cải cách mang tính chất cải lơng: chỉ hạn
chế phần nào số lợng chủ đất chứ không xoá bỏ hoàn toàn chênh lệch về sở
hữu ruộng đất giữa địa chủ và nông dân

5
a.Nguyên nhân
Đến cuối những năm 80 đầu những năm 90 có rất nhiều biến động xảy
ra trên thế giới: sự tan rã, sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở
Đông Âu- Đây vốn là các nớc bạn hàng lớn và lâu năm của ấn Độ, thêm vào
đó là cuộc chiến tranh vùng vịnh đã đem đến cho nền kinh tế ấn Độ không ít
những điều bất lợi. Đặc biệt là có rất nhiều những khó khăn nảy sinh từ trong
nội tại của nền kinh tế ấn Độ: đó là sự kìm hãm về cơ chế quản lí, sở hữh nhà
nớc quá cao, sự can thiệp quá sâu của chính phủ vào các hoạt động kinh doanh
và cả sự hạn chế đối với t bản.
Tất cả những nguyên nhân chủ quan và khách quan kể trên đã biến ấn
Độ từ mô hình tự lực tự cờng không những trở thành một mô hình tự cấp tự
túc ( hạn chế quan hệ với bên ngoài, kìm hãm sự tăng trởng dẫn đến tình trạng
lạc hậu và thấp kém hơn hẳn so với các nền kinh tế khác trong khu vực châu á
nh hàn Quốc, Đài Loan và các nớc trong khối ASEAN) mà còn đa nền kinh tế
ấn Độ vào tình trạng khủng hoảng nặng nề.
Cuộc khủng hoảng kinh tế biểu hiện trên nhiều khía cạnh: hơn 30 triệu
dân ở trong tình trạng thất nghiệp; nợ nớc ngoài lên đến 70 tỉ USD; nguồn dự
trữ ngoại tệ tính cho đến tháng 5. 1991 chỉ còn vẻn vẹn 1 tỉ US D; Đầu t trung
bình chỉ đạt 100 triệu USD; thêm vào đó, sau vụ ấn Độ trục xuất hai công ty
Côcacôla và IBM ra khỏi lãnh thổ thì xem chừng không khí đầu t trực tiếp từ
nớc ngoài vào ấn Độ đã lắng hẳn xuống, nhiều nhà đầu t đã xa lanhs thậm chí
còn bỏ rơi ấn Độ để tìm nơi đầu t ở những quốc gia khác có triển vọng hơn.;
mức tăng GDP tụt xuỗng còn có 0,8% vào những năm tài hính 1991-1992;
lạm phát dâng cao, nhiều ngành công nghiệp gặp khó khăn, tình hình Xã hội
luôn căng thẳng và bất ổn.
Riêng về tình hình sản xuất lúa gạo, mặc dù ấn Độ đã tự túc đợc lúa
gạo từ những năm đầu của thập kỉ 80, sản lợng lúa tăng đáng kể, thậm chí còn
tích trữ đợc một lợng lúa gạo để xuất khẩu :
1980-1981 1984-1985

phủ ấn độ chủ trọng phát triển nghành lúa gạo theo hai hớng chính : khuyến
khích đầu t vào sản xuất lúa gạo và thúc đẩy xuất khẩu lúa gạo. Từ hai hớng
này, ấn Độ thực hiện một loạt các chính sách sau :
ấn Độ chủ trơng tăng sản lợng lúa gạo nhằm phục vụ cho nhu cầu xuất
khẩu lẫn nhu cầu tiêu dùng của thị trờng trong nớc bằng hai cách . Thứ nhất,
tăng sản lợng lúa bằng cách mở diện tịch đất trồng lúa. ở ấn Độ diện tích đất
nông nghiệp lớn nhất thế giới nhng diện tích đất trồng lúa chỉ chiếm khoảng
31% diện tích đất phục vụ cho mục đích nông nghiệp. Thứ hai, tăng sản lợng
lúa bằng cách tăng năng suất lúa thông qua việc áp dụng khoa hoc kĩ thuật vào
sản xuất. Muốn vậy, ấn Độ đã tạo điều kiện thuận lợi để những ngời nông dân
đơc trang bị những kĩ thuật trồng lúa hiện đại đồng thời tiếp cận với cách sử
dụng cũng nh cách vận hành những thiết bị máy móc hiện đại phục vụ hữu
hiệu cho sản xuất. Nhà nớc cũng ban hành những chính sách u tiên cho
nghành trồng lúa điển hình nh điều chỉnh mức thuế nhập khẩu áp dụng cho
các thiết bị sử dụng trong lĩnh vực nông nghiệp trồng lúa. Đặc biệt gần đây, tổ
chức xúc tiến thơng mại của ấn Độ viết tắt là ITPO đã tổ chức hội chợ Krishi
7
Expo lần th t tại thủ đô New Dehli, nhằm giới thiệu những tiến bộ mới nhất
của ấn Độ trong lĩnh vực Nông nghiệp, những dụng cụ trồng lúa hiện đại nhất
đợc trng bày tại hội chợ. Hội chợ này cũng tập trung vào chủ đề tiếp thu công
nghệ trong các khu vực nông nghiệp thiết yếu nh nghành sản xuất lúa gạo.
Hội chợ thực sự là một diễn đàn hữu ích- nơi trao đổi và học hỏi kinh nghiệm
quý báu giữa những ngời trồng lúa . ( Theo ấn Độ toàn cảnh tháng 7 năm
2003).
Để đẩy mạnh xuất khẩu gạo, chính phủ ấn Độ đã công bố đầu t khoảng
11.470 triệu rupi cho 41 vùng xuất khẩu trải dài trên 17 bang. Trong đó đặc
biệt quan tâm đến các bang sản xuất lúa gạo lớn nhất: Hairiana, Punjap va
bang tây Bengan- bang có chất lợng gạo cao nhất. Đồng thời thông qua các
công ty đa quốc gia, ấn Độ khuyến khích đầu t nớc ngoài vào nghành trồng
lúa. Nguồn đầu t ấy bao gồm cả vốn và cả khoa hoc kĩ thuật.

hàng loạt các thành tựu .
Trong suốt ba thập kỉ (50-70), xuất phát từ nguyên tắc tự lực cánh sinh
ấn Độ phát triển theo chiến lợc hớng nội là chính ( với khoảng 90 % vốn đầu
t dựa vào nguồn lực trong nớc, thực hiện chính sách bảo hộ mạnh mẽ và quá
đề cao vai trò của khu vực kinh tế quốc doanh mà coi nhẹ vai trò của t bản nớc
ngoài cũng nh t nhân trong nớc), thì nghành sản xuất lúa gạo vẫn còn rất lạc
hậu và thấp kém. Vào thời điểm đó ấn Độ liên tiếp phải nhập khẩu một khối l-
ợng lơng thực khổng lồ: 2.841 triệu tấn; 3,706 triệu tấn thậm chí đến mức
10,500 triệu tấn vào năm 1966. Đến những năm 80, nền kinh tế ấn Độ dần
chuyển sang chiến lợc hỗn hợp theo kiểu nửa hớng nội nửa hớng ngoại. Và kết
quả là nghành sản xuất lúa gạo của ấn Độ cũng có đợc những kết quả đáng nể
: ấn Độ không những đáp ứng đủ nhu cầu lúa gạo của nhân dân trong nớc mà
còn tích luỹ đợc một khối lợng gạo nhỏ xuất khẩu ra thị trờng ngoài nớc, cho
dù tỉ trọng của mặt hàng này trong cơ cấu hàng xuất khẩu vẫn còn thua kém
nhiều mặt hàng khác. Nhng từ năm 1991- đợc đánh dấu bằng cuộc cải cách
kinh tế toàn diện, ấn Độ chuyển một cách mau lẹ sang chính sách tự do hoá,
coi trọng nền kinh tế thị trờng và kinh tế đối ngoại. Từ đó , nghành sản xuất và
xuất khẩu gạo của ấn Độ đã thực sự tìm đợc chỗ đứng trên thị trờng quốc tế:
ấn Độ trở thành một trong số những nhà xuất khẩu gạo hàng đầu của thế giới
mà trớc đó chính phủ ấn Độ trong mơ cũng không dám nghĩ tới.
Với sự hoạt động của gió mùa, mỗi năm nớc này sản xuất hai vụ mùa:
vụ mùa Kharif (vụ hè) thờng bắt đàu vào tháng 6-7 kết thúc vào tháng 9-10;
vụ mùa Rabi ( vụ xuân ) thờng gieo trồng voà tháng 9-12 và thu hoạch vào
tháng 3-5. Trong đó vụ mùa Rabi là vụ chính trong tất cả các năm với sản lợng
luôn vợt trội hơn so với vụ mùa Kharif. Ta ccó thể tham khảo bảng số liệu sau
dể thấy đợc điều này.
Vụ 93-94 94-95 95-96 96-97 97-98
Xuân 70,72 72,60 67,88 71,32 72,35
Hè 9,59 9,21 9,10 10,41 10,41
Bảng số liệu về sản xuất lúa gạo của ấn Độ từ năm 93-98 ( đơn vị: triệu

Trên thị trờng thế giới, gạo Basmati của ấn Độ nổi tiếng với chất lợng cao và
đợc coi là đứng đầu bảng và không có đối thủ cạnh tranh. Đặc biệt là nhu cầu
của thị trờng thế giới đối với loại gạo này ngày càng tăng. Ngoài Pakistan, ấn
Độ là nớc duy nhất sản xuất đợc loại gạo này. Tuy nhiên, gạo Basmati của ấn
Độ lại đợc thế giới a chuộng hơn so với gạo của Pakistan, do chất lợng gạo
của ấn Độ cao hơn. Giá xuất khẩu gạo Basmati luôn cao hơn gạo thờng từ 1,5-
4 lần. Điều này sẽ đợc minh hoạ rõ nét hơn qua bảng giá gạo xuất khẩu ( Đơn
vị Rupees/ tấn và 1USD=43 Rupees)
+Giá gạo xuất khẩu tuần thứ 2 tháng 1.2004
Gạo Permal: 910-1.070
Gạo Basmati: 1.650- 4.800
+Giá gạo xuất khẩu tuần thứ 2 tháng 2.2004
Gạo Permal: 975-1.100
Gạo Basmati: 1.700- 4.800
+Giá gạo xuất khẩu tuần thứ 2 tháng3.2004
Gạo Permal: 940-1.085
Gạo Basmati: 1.650-4.800
Gạo Minkit: 1.200-1.500
10
+Giá gạo xuất khẩu tuần thứ 2 tháng 4.2004
Gạo Permal: 980-1.100
Gạo Basmati: 1.600-4.800
Gạo Minkit: 1.200-1.500
Gạo Sharbiti: 1.300-1.400
Thành tựu tiếp theo mà nghành sản xuất và xuất khẩu lúa gạo ấn Độ
đạt đợc trong những năm gần đây: Mặt hàng gạo xuất khẩu gạo này không chỉ
có mặt tại các thị trờng Châu á- Thái Bình Dơng, Trung Đông, Châu Phi mà
còn thâm nhập vào cả những thị trờng khó tính nh Châu Âu, Bắc Mĩ Điều này
cho thấy gạo xuất khẩu của ấn Độ ngày càng chiếm u thế trên thị trờng quốc
tế.

động trong sản lợng có nhng không đáng kể. Chẳng hạn từ năm 1996-2000,
sản lợng gạo liên tục tăng nhẹ từ 81,73 82,53 86,08 89,68; Năm
2000-2001, sản lợng gạo có thấp hơn năm trớc 1999-2000 một khối lợng là
4,70 triệu tấn nhng không đáng kể.
Nhng cũng từ trong bảng số liệu này ta thấy năm 2002-2003 có một sự
tụt giảm mạnh trong tổng sản lợng 72,66 triệu tấn- thấp hơn năm 1999-2000
là 17,02 triệu tấn, thấp hơn so với năm 2000-2001 là 12,32 triệu tấn, giảm
mạnh so với năm 2001- 2002 tới 20,42 triệu tấn. Nguyên nhân ảnh hởng tới sự
tụt giảm về sản lợng gạo năm 2002-2003 là do thời tiết không đợc thuận lợi, ở
nhiều vùng còn xảy ra hạn hán lụt lội và sâu bệnh.
Chắc chắn nhân loại trên thế giới này sẽ không bao giờ quên đợc thảm
cảnh do trận đại hồng thuỷ gây ra ngày 26.12.2004 ở các nớc Đông Nam á và
Nam á. ấn Độ là một trong số các quốc gia chịu ảnh hởng nằng nề nhất. Cơn
sóng giết ngời ấy đã tấn công vào thủ phủ Nagapattinam và Vailankami thuộc
bang Tamilnadu ở miền nam của ấn Độ, cớp đi sinh mạng của của hàng nghìn
ngời thậm chí hàng triệu ngời, mà cho đến nay ngời ta vẫn cha thể đa ra con
số thống kê chính xác về số ngời thiệt mạng và số ngời mất tích trong trận
sóng thần kinh hoàng đó. Cơn sóng ấy cũng cuốn theo hàng nghìn ngôi nhà,
vờn tợc, chợ búa thậm chí cả những cánh đồng lúa. Tamilnadu không phải
là bang có sản lợng lúa gạo lớn nhất ấn Độ, cũng không phải là bang có chất
lợng gạo cao nhất. Nhng thiệt hại nặng nề cả về ngời và của mà trận đại hồng
thuỷ gây ra cho bang Tamiladu đã buộc ngời ta phải lo ngại đến những hiểm
hoạ thiên tai tơng tự có thể ập xuống ở nhiều bang khác trong đó có cả những
bang chuyên sản xuất và xuất khẩu gạo của. Bởi những thay đổi trong thời tiết
của ấn Độ không phải là một hằng số mà là một ẩn số.
Châu á nói chung và ấn Độ nói riêng đang phải đối mặt với một cuộc
khủng hoảng nhân lực trầm trọng. Nghành sản xuất lúa gạo giờ đây không còn
thu hút đợc nguồn nhân lực nh trớc đây nữa. Lực lợng nông dân trồng lúa
những con ngời cả đời chân nấm tay bùn, cả đời phải trông vào cây lúa giờ
đay đã trở nên già yếu. Ngời ta vẫn nói rằng: Làm ruộng thì ra, Làm nhà thì

5 Brazil 172.860.370
6 Nga 146.001.176
7 Pakistan 141.553.775
8 Bangladesh 129.194.224
9 Nhật Bản 126.594.976
10 Nigeria 123.337.822
Bảng sắp xếp thứ tự 10 quốc gia đông dân nhất thế giới năm 2000 (báo
Thanh Niên)
Nhng theo các nhà dân số học hàng đầu hiện nay dân số của ấn Độ đã
chạm mức 1,3 tỷ năm 2004, có thể lên đến 1,46 tỷ vào năm 2035, vợt dân số
của Trung Quốc để chiếm ngôi vị quốc gia đông dân nhất thế giới vào năm
2050 ở mức 1,6 tỷ dân.
13
Số thứ tự Tên nớc Dân số
1 ấn Độ 1.619.582.271
2 Trung Quốc 1.470.468.924
3 Mỹ 403.943.147
4 Inđônêsia 337.807.011
5 Nigeria 303.586.770
6 Pakistan 267.751.477
7 Brazil 206.751.477
8 Bangladesh 205.093.861
9 Êthiôpia 187.892.174
10 Cônggô 181.922.656
Bảng sắp xếp theo thứ tự 10 quốc gia đông dân nhất thế giới theo ớc
tính vào năm 2050 (Báo Thanh Niên)
Hiện tại với số dân 1,3 tỷ ngời (2004), ấn Độ là quốc gia đông dân
hàng thứ hai trên thế giới và là nớc dẫn đầu thế giới về gia tăng dân số cũng
nh về mật độ dân số. Về mật độ dân số, ấn Độ cao hơn Mỹ gấp 100 lần:trung
bình ở ấn Độ cứ 1km2 có 458 ngời trong khi đó ở Mỹ chỉ có 45 ngời. Dân số

chuẩn bị một khoản tiền hồi môn kếch xù giao cho gia đình nhà trai . Mà ngời
ta cũng quan niệm rằng có con gái mà không gả chồng đợc cho con thì đáng
bị hàng xóm láng giềng, bà con thân thích xỉ nhục và chê cời. Vậy nên ngay
từ khi bé gái cất tiếng khóc chào đời, cha mẹ của bé buộc phải ăn tiêu dè dặt
để tiết kiệm cho đủ tiền hồi môn. Bởi vì lí do này mà dân ấn Độ rất thích sinh
con trai, sinh cang nhiều càng tốt. Điều này đồng nghĩa với việc họ sẽ có đợc
nơi nơng tựa lúc tuổi già, lại không phải nơm nớp lo tích cóp tiền hồi môn ng-
ợc lại sẽ có đợc một khoản kha khá nhờ việc dựng vợ cho con. Chính tâm lí ấy
khiến ngời dân ấn Độ cố gắng sinh cho kì đợc con trai và sự cố gắng ấy vô
tình đã góp một phần nhỏ đẩy dân số cả nớc tăng lên một mức lớn hơn.
Khi hàng loạt các biện pháp nhằm kìm hãm sự gia tăng dân số không
phát huy hiệu quả, chính phủ bắt đầu phát động chiến dịch hết sức mềm dẻo:
phát bao coa su miễn phí. Và có thể nói , không ngời dân nớc nào sáng tạo nh
dân ấn trong việc sử dụng bao cao su. Họ khai thác triệt để các tính năng u
việt của dụng cụ tránh thai này. Bác sĩ tại đại học Yking George cho biết trên
thực tế chỉ có 1/4 số bao cao su sản xuất ra hàng năm dùng đúng mục đích.
Theo hai bản báo cáo của trơng đại học này, dân địa phơng coi các bao cao su
nh những dụng cụ chứa nớc dùng một lần để rửa tay sau khi làm việc trên
đồng áng. Quân nhân thậm chí còn sử dụng chúng để bảo vệ súng khỏi bị bụi
và cát. Trong số 891 triệu bao cao su đợc tung ra miễn phí, một số lợng không
nhỏ đã đợc các công nhân xây dựng trng dụng. Họ trộn bao cao su với bê tông
và hắc ín , hỗn hợp này sẽ đợc dùng để xây đờng và chống xói mòn. Công
nhân xây dựng còn trải một tấm bao cao su dới lớp xi măng trên mái nhà với
mục đích ngăn chặn nớc thấm vào nhà trong mùa ma kéo dài. Thợ dệt vải
vùng Varnasi dùng tới 200.000 bao cao su mỡi ngày để bôi trơn các khung
cửi. Yusu Bhai một thợ dệt vải cho biết họ mua các bao cao su từ những đại lí
.và các đại lí này lại nhận bao cao su từ chơng trình kế hoạch hoá gia đình
và phòng chống AIDS quốc gia .!!!!! (Nguồn:VN Express/Telegraph).
15
Phân tích hạn chế này sâu hơn hoàn toàn không phải tôi đang cố hạ thấp

quốc dân còn ở mức quá thấp :ấn Độ khoảng 25%, Việt Nam khoảng 30%,
Thái Lan khoảng 30%. Điều này cho thấy thu nhập của ngời nông dân còn
quá thấp. Tại Việt Nam, nếu tính trung bình mỗi hộ gia đình có 6 nhân khẩu
thì thu nhập chỉ xấp xỉ ở mức 100USD/ngời/năm. Nên có rất nhiều ngời nói
rằng nghề trồng lúa là nghề của ngời nghèo. Thêm vào đó dân số của các nớc
này đặc biệt là ấn Độ tiếp tục tăng nghĩa là sức ép về dân số vẫn còn đó
không thể coi thờng. Để giải quyết bài toán kết hợp giữa an toàn lơng thực và
làm sao ngời trồng lúa giàu lên đợc, rất nhiều ngời đề xuất lời giải: Ngời
nông dân cần hiểu biết đầy đủ hơn và đảm bảo tính bền vững của môi trờng
trồng lúa thâm canh, cải tiến chất lợng gạo theo thị hiếu của ngời tiêu dùng,
thực hiện một chiến lợc thâm canh tổng hợp để xây dựng một nền nông nghiệp
bền vững- một hệ thống canh tác hợp lí trên vùng trồng lúa. Nhng theo tôi,
tính khả quan của chiến lợc giảm nghèo cho nông dân rất thấp, lại không thể
17
thực hiện đợc trong khoảng thời gian ngắn, nhất là khi tầm nhận thức của ngời
trồng lúa còn hạn chế.
Thái Lan, ấn Độ và Việt Nam chiếm tới 70% thi phần gạo xuất khẩu
của thế giới. Nhng ngay cả thế mạnh này vẫn cha đủ để đảm bảo cho họ một
ví trí vững chắc trong tơng lai nhất là khi họ luôn phải đối mặt với hàng loạt
các biến động về giá cả trên thị trờng thế giới .
Vào năm 2002, các nhà xuất khẩu gạo hàng đấu của Thái Lan đã rất lo
ngại gạo xuất khẩu của họ bị rớt giá do các nhà xuất khẩu gạo của ấn Độ đợc
sự bảo trợ của chính phủ đã bán phá giá. Lúc đó ấn Độ đã chào hàng với giá
rẻ hơn những 40 USD so với giá gạo của Thái Lan. Nhờ vậy sản lợng gạo của
ấn Độ đã tăng lên gấp 3 lần so với năm trớc đó. Nhng điều này đã khiến cho
Thái Lan chỉ xuất đợc 300.000 tấn vào tháng 5( mức trung bình từ 500.000
đến 600.000 tấn. Lúc đógiá trị của đồng Bạt cũng tăng kéo theo giá gạo xuất
khẩu tăng. Vì vậy giá gạo xuất khẩu của Thái Lan từ 200USD/ tấn tăng lên
290USD/tấn. Vào thời điểm đó nhiều nhà phân tích còn cho rằng Thái Lan sẽ
mất đi thị truờng xuất khẩu gạo vì giá gạo của họ quá cao.

liệt kê những thành tựu và cả những mặt còn hạn chế cuă nghành này, tôi thực
sự mong rằng bài viết này sẽ có một tầm ý nghĩa dù là nhỏ bé không chỉ đối
với nghành sản xuất và xuất khẩu gạo của ấn Độ mà với nghành sản xuất và
xuất khẩu gạo của nhiều quốc gia khác trong đó có Việt Nam .

19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status