KỸ THUẬT NUÔI CÁ
RÔ ĐỒNG
SVTH: Trần Thanh Sang
1
Giới Thiệu Chung:
• Cá rô đồng (Anabas testudineus Bloch, 1792) là loài cá sống trong
môi trường nước ngọt ở vùng nhiệt đới. Cá hiện diện trong các thủy
vực như ao đìa, đầm lầy, mương vườn và ruộng lúa ở Thái Lan,
Campuchia, Lào và Việt Nam (Khoa và Hương, 1993; Rainboth,
1996; Long và ctv, 1998; Khánh, 1999). Khả năng thích nghi với môi
trường sống đối với cá rô đồng rất tốt, đặc biệt cá có thể hô hấp bằng
khí trời nhờ cơ quan hô hấp phụ, nên có thể tồn tại và phát triển trong
điều kiện môi trường bất lợi ở ngoài tự nhiên (Khoa và Hương, 1993).
Cá rô đồng dể nuôi, có chất lượng thịt thơm ngon, không có xương
dăm và có giá trị thương phẩm cao. Hiện nay cá rô đồng là một trong
những đối tượng thủy sản quan trọng đã và đang được nuôi phổ biến ở
các tỉnh vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, gần đây đang phát triển
nhiều ở vùng Miền Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, do nguồn cá giống
ngoài tự nhiên không đủ cung cấp cho các hệ thống nuôi, vì vậy, việc
duy trì và phát triển nghề nuôi cá rô đồng thông qua hoạt động sinh
sản nhân tạo, chủ động tạo nguồn cá giống, góp phần cải thiện thu
nhập cho người nông dân ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long và các
vùng lân cận là điều thật cần thiết. Tuy nhiên, liên hệ đến hoạt động
nghiên cứu cá rô đồng, hiện chỉ có một số công trình nghiên cứu về
đặc điểm sinh thái, sinh học và phân tích hiệu quả kinh tế của đối
tượng này được thu thập tại Đồng Bằng Sông Cửu Long bởi các tác
giả như Khoa, Hương, 1993 và Trung, 1998, Khánh, 1999; Triều,
2002 và gần đây là Tính, 2003. Vì vậy, tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu
đồng thời so sánh hiệu quả của việc sử dụng những loại kích dục tố
khác nhau trong hoạt động kích thích cá sinh sản và sự tăng trưởng
của cá trong hệ thống nuôi làm cơ sở hoàn thiện quy trình kỹ thuật
trùng tôm cá Khi trưởng thành cá có thể ăn nhiều loại thức ăn
nhưng ưa thức ăn ưa thích là động vật đáy như: giun ít tơ, ấu trùng
côn trùng. Ngoài ra cá có thể ăn mầm non thủy thực vật, thức ăn chế
biến, phụ phẩm nông nghiệp.
d) Đặc điểm sinh trưởng
• Cá Rô đồng có chất lượng thịt thơm ngon, không có xương dăm và có giá
trị thương phẩm cao, cá dể nuôi, có tốc độ sinh trưởng tương đối chậm
( khối lượng cá lớn nhất bắt gặp ở U Minh Thượng là 0,432kg ). Trong các
ao nuôi đầy đủ thức ăn, sau 6 tháng nuôi cá đạt khối lượng từ 60 – 80
g/con. (Theo Nguyễn Văn Kiểm, 2005)
e) Đặc điểm sinh sản
• Cá Rô đồng là một trong những loài cá có tuổi thành thục lần đầu khá sớm.
Khối lượng cá thành thục nhỏ nhất đã bắt gặp ngoài tự nhiên là 25g/con.
• Cá sinh sản tự nhiên vào đầu mùa mưa, tập trung từ tháng 6 – 7. Cá di
chuyển từ nơi sinh sống đến những nơi vừa ngập nước sau những đám mưa
lớn đầu mùa như ruộng, ao, đìa, nơi có chiều cao cột nước 30 - 40cm để
sinh sản. Dòng nước là yếu tố kích thích cá đẻ. Cá không có tập tính giữ
con. Sức sinh sản của cá Rô đồng dao động từ 300.000 – 700.000 trứng/kg
cá cái. Trứng cá thuộc loại trứng nổi, trứng cá Rô thành thục thường có
màu trắng ngà hoặc hơi vàng và đường kính trứng sau khi trương nước từ
1,2 – 1,3mm ( Nguyễn Văn Kiểm, 2005).
SVTH: Trần Thanh Sang
3
II. Nội Dung
1) Nuôi vỗ cá bố mẹ
o Ao nuôi vỗ
• Có diện tích từ vài chục đến 300 m
2
; có thể nuôi vỗ trong bể xi măng,
nhưng ở diện tích quá nhỏ số lượng cá nuôi không nhiều, hiệu quả kinh tế
ao nuôi dễ bị nhiễm bẩn, do đ ó ao nuôi tốt nhất thay nước theo
thủy triều hàng ngày, những ao xa khó lấy nước, định kỳ 7 - 10
ngày thay 1/2 lượng nước.
Sau 3 tháng nuôi vỗ, có thể tiến hành cho cá sinh sản được.
SVTH: Trần Thanh Sang
4
Mỗi ngày cho ăn 2 lần, sáng sớm và chiều mát.
4) Chọn cá bố mẹ
Cần chọn cá bố mẹ khỏe mạnh, không bị xây xát, dị tật dị hình
Cá cái: Cá phải có bụng to và mềm, da bụng mỏng, lỗ sinh dục hơi
lồi và có màu hồng.
Cá đực: Cá đực thon dài, lỗ sinh dục hơi khuyết, khi vuốt nhẹ gần lỗ
sinh dục thấy có tinh dịch màu trắng sữa chảy ra.
Sau khi chọn cá bố mẹ xong ta tiến hành cân cá cái và cá đực
5) Kích thích sinh sản
Chuẩn bị cho cá sinh sản
Bể cá đẻ có thể là bể xi măng, bể composite, hoặc thau nhựa Rửa sạch
dụng cụ cho đẻ, lấy nước sạch với chiều sâu 20 - 40cm.
Cho cá sinh sản
Các loại hormon dùng để kích thích cá rô đồng sinh sản như: HCG, LH-
RHa, và não thùy thể cá chép với các mức liều lượng khác nhau qua các
nghiệm thức sau
Nghiệm thức
Bể Composite
1 2 3 4 5
HCG (UI/kg)
LH-RH (μg/kg)
Não thùy (mg/kg)
1500
40
Tỷ lệ đực/cái: Bố trí 1 cá đực cho 1 cá cái, trường hợp cá đực nhiều có thể
bố trí 3 cá đực cho 2 cá cái, cá đực nhiều rất tốt cho sự thụ tinh.
Mật độ: Có thể thả chung 3 – 4 kg/m
3
nước hoặc cho 1 - 2 cặp cá vào trong
một thau.
Các dấu hiệu nhận biết cá sinh sản hay không: Khi thả cá vào bể đẻ nếu
sau 2 – 3 giờ cá rượt đuổi nhau, mặt nước gợn sóng là dấu hiệu cá sẽ đẻ, lúc
này cần theo dõi cá nhảy ra ngoài do những con chưa sẵn sàng tham gia
sinh sản phải bắt thả trở lại; ngược lại cá không rượt đuổi nằm im một chỗ,
đây là dấu hiệu cá sẽ không đẻ.
Thời gian hiệu ứng
Trong điều kiện nhiệt độ 26 – 28
0
C cá sẽ đẻ sau khi tiêm kích dục tố 8 – 10
giờ.
Dấu hiệu cá đẻ xong: khi thấy cá không còn rượt đuổi bắt cặp, cá nằm im
hoặc bơi phân tán, lúc này tiến hành thu trứng chuyển đi ấp.
6) Ấp trứng
Bể ấp
- Có thể dùng bể xi măng hoặc thau cho cá đẻ để ấp trứng.
Dụng cụ ấp trứng phải vệ sinh sạch, đặt nơi thoáng mát để
dễ chăm sóc và quản lý. Cá sinh sản xong, tiến hành dùng
vợt bằng lưới mùng vớt trứng chuyển qua thau hoặc bể khác
có nước sạch để ấp.
- Nếu dùng bể, thau vừa cho cá sinh sản xong để ấp, phải
chuyển trứng và cá bố mẹ sang nơi khác, vệ sinh sạch cho
nước mới vào và cho trứng vào ấp. Trường hợp không có
phương tiện dự phòng để chuyển trứng đi, sau khi chuyển
cá bố mẹ về ao nuôi vỗ, có thể thay 2/3 thể tích nước cũ và
Điều kiện ao ương: Ao phải có cống chủ động cấp thoát nước
khi cần, chiều sâu mức nước trong ao từ 1,2 - 1,5 m; mặt ao
thoáng để không ngăn cản ánh sáng mặt trời chiếu vào nước
tạo điều kiện cho phiêu sinh vật phát triển, đây là loại thức ăn
tự nhiên rất tốt cho sự phát triển của cá con. Trên bờ ao không
có bụi rậm để các loài địch hại như rắn, ếch… không nơi ẩn
nấp hạn chế việc sát hại cá ương nuôi.
Trước khi thả cá ương nuôi tiến hành cải tạo ao bằng các biện
pháp giống như ao nuôi vỗ cá bố mẹ, nhưng sau khi lấy nước
vào 1/3 ao phải tiến hành bón phân tạo màu nước bằng 3 loại
phân:
Phân vô cơ: Sau khi lấy nước vào ao đủ yêu cầu tiến hành
bón phân đạm urê và super phosphate:
+ Tỷ lệ N/P=2/1
+ Liều lượng 200 g/100 m
3
nước.
+ Cách bón: hòa tan phân trong nước và rải đều khắp mặt ao.
Phân xanh: Gồm những loại lá cây họ đậu hoặc lá so đũa.
+ Liều lượng: 10 – 15 kg/100 m
2
ao.
+ Cách bón: sau khi cho nước vào ao đủ yêu cầu, bón phân
xanh làm nhiều bó và dùng cây dìm xuống đáy ao không cho
nổi lên mặt nước.
Bón phân chuồng: Ủ cho hoai mục
+ Liều lượng 25 – 30 kg/100 m
2
ao.
+ Cách bón: rải đều ở mặt đáy ao trong lúc phơi ao. Bón xong
vịt (gà) và sữa bột đậu nành.
Khẩu phần : 3 lòng đỏ trứng + 100 g sữa bột đậu nành cho
10.000 con cá bột / ngày.
Cách cho ăn: lòng đỏ luộc chín nghiền ra thành bột hòa tan
trong nước, đậu nành ngâm trong nước 24 giờ xay nhuyễn
thành bột. Khi cho ăn hòa tan thức ăn trong nước và rải đều
lên mặt ao. Mỗi ngày cho ăn 3 lần, 7 giờ sáng, 11 giờ trưa và
17 giờ chiều.
+ Ngày thứ 8 đến ngày thứ 30: cho ăn cám, tấm + bột cá
(hoặc cá tươi).
Tỷ lệ 30% cám + 70% bột cá.
Khẩu phần: 300 - 500 g/10.000 cá/ngày.
Cách cho ăn : thức ăn nấu chín, vò viên và đặt trong sàn ăn.
Mỗi ngày cho ăn 2 lần sáng sớm và chiều mát, mỗi lần 1/2
khối lượng.
+ Ngày thứ 30 đến ngày thứ 60: cho cá ăn cám + bột cá (hoặc
phế phẩm của nhà máy chế biến thủy sản).
Tỷ lệ 40% cám + 60% bột cá.
Khẩu phần: 3 - 5% so với trọng lượng đàn/ngày.
Cách cho ăn giống như giai đoạn ngày thứ 8 đến 30.
- Thức ăn tự nhiên: gồm phiêu sinh động - thực vật phát triển
trong ao do dinh dưỡng của phân bón và thức ăn chế biến bị
thất thoát trong quá trình cho ăn. Phiêu sinh vật phù du là
SVTH: Trần Thanh Sang
8
nguồn thức ăn tươi sống rất tốt cho sự phát triển của cá do
đó trong ao ương luôn duy trì màu nước xanh.
Chăm sóc và quản lý
• Đảm bảo số lượng và chất lượng thức ăn nhằm đáp ứng nhu cầu của cá, nếu
thiếu thức ăn cá sẽ phát triển không đồng đều và cá lớn sẽ ăn cá nhỏ làm
quanh có chiều cao 0,2 - 0,4 m phòng ngừa cá ra ngoài, đặc biệt cần lưu ý
trong giai đoạn cá chuẩn bị sinh sản.
Trước khi thả cá, ao phải được cải tạo bằng các biện pháp kỹ thuật như ao
ương cá giống nhưng không cần phải bón phân.
SVTH: Trần Thanh Sang
9
Sau khi cải tạo 3 - 5 ngày tiến hành thả cá nuôi.
Cá giống
Kích cỡ: Cá giống nuôi thành cá thịt có kích thước 3 - 5 cm, có trọng lượng
trung bình 300 - 500 con/kg.
Tiêu chuẩn: Cá mập, khoẻ, không xây xát, không dị hình, không bệnh tật,
tương đối đồng cỡ.
Mật độ nuôi: Đây là loài cá có cơ quan thở khí trời nên có thể sống trong
điều kiện môi trường chật hẹp; nhưng khi nuôi ở mật độ cao để cá phát
triển tốt ao phải chủ động cấp thoát nước. Ao có thể thả nuôi mật độ 30 - 40
con/m
2
.
Thả cá nuôi: Thời điểm thả cá nuôi trong năm : trong điều kiện sản xuất
giống nhân tạo, cá rô có thể thả nuôi quanh năm nếu chủ động được nước
và con giống, trong một ao có thể nuôi 2 vòng trong năm.
Cách thả cá nuôi
Thả cá vào ao nuôi lúc sáng sớm hay chiều mát nhằm tránh nhiệt độ cao
của môi trường sẽ ảnh hưởng xấu đến cá do cá bị mệt trong quá trình vận
chuyển.
Thả cá :
+ Nếu vận chuyển bằng bao nilon có bơm oxy, trước khi thả cá ra, thả bao
nilon trên mặt nước 10 - 15 phút tạo cân bằng nhiệt độ nước bên trong bao
và ngoài ao nuôi tránh cá bị sốc do chênh lệch nhiệt độ. Khi thả, mở miệng
bao cho cá ra từ từ.
dịch bệnh xảy ra.
Thu hoạch
Sau 4 - 5 tháng nuôi cá đạt trọng lượng 50 - 100 g/con, tiến hành thu hoạch
bằng hai cách :
Thu hết một lần : tát cạn ao, bắt hết cá. Ao được cải tạo lại chuẩn bị cho
việc nuôi đợt tiếp.
Thu tỉa : có thể dùng lưới kéo hay tát cạn bắt những con cá lớn có giá trị
thương phẩm cao để bán, những con cá còn nhỏ để lại nuôi tiếp. Hình thức
này hiệu quả kinh tế mang lại cao hơn do con giống lớn, thời gian nuôi lần
sau ngắn, nhưng do lượng cá còn lại ít nên chuyển sang nuôi ở một ao khác
có diện tích nhỏ hơn để tận dụng ao cũ thả nuôi giống mới với số lượng
lớn.
Năng suất : cá nuôi trong ao năng suất có thể đạt 2,5 đến trên 10
tấn/ha/năm.
Một số lưu ý trong phòng bệnh cho cá nuôi
Nguyên nhân cá bị bệnh: Cá mắc bệnh là kết quả tương tác giữa ba nhân tố:
Môi trường - Tác nhân gây bệnh - Ký chủ (bản thân cá).
Yếu tố môi trường: sự biến động lớn về nhiệt độ, pH, và hàm lượng oxy
thấp sẽ gây sốc hoặc làm cho cá suy yếu.
Tác nhân gây bệnh: bao gồm bệnh truyền nhiễm (virus, vi khuẩn, nấm),
bệnh ký sinh trùng (nguyên sinh động vật, giun sán, giáp xác, ), và các
sinh vật gây nguy hiểm cho cá (côn trùng nước, cá dữ, rắn, ếch, chim, )
làm tổn thương đến cá tạo điều kiện cho bệnh ký sinh hay bệnh truyền
nhiễm phát triển.
Yếu tố ký chủ: sức đề kháng của cá đối với bệnh.
Yếu tố con người - kỹ thuật nuôi: Vận chuyển, đánh bắt làm tổn thương cá -
Quản lý chăm sóc không tốt, mật độ thả nuôi quá cao.
Để hạn chế dịch bệnh xảy ra cho cá cần làm tốt các khâu
Cải tạo ao nuôi: nhằm hạn chế mầm bệnh phát triển và tạo môi trường
thuận lợi cho cá phát triển.
hơn).
Cách phòng trị : dùng xanh Malachite liều lượng 1 - 2 g/m3 nước tắm cho
cá trong thời gian 30 phút hoặc liều lượng 0,1 - 0,2 g/m3 nước tắm cho cá
trong 24 giờ. Cá bệnh được tắm liên tục trong 3 - 5 ngày hoặc dùng muối
ăn liều lượng 2 - 3 kg/m3 nước tắm cá trong 24 giờ, tắm cá liên tục trong 3
- 5 ngày.
Để phòng bệnh nấm thủy mi, ao ương nuôi phải được tẩy dọn kỹ sau mỗi
vụ nuôi. Khi cá bị xây xát cần phải tắm muối trước khi thả nuôi.
Bệnh lở loét
Bệnh xuất hiện ở các loài cá lóc, rô đồng, cá trê, lươn, …
Dấu hiệu bệnh lý: những dấu hiệu đầu tiên là cá ít ăn hoặc bỏ ăn, hoạt động
lờ đờ, bơi nhô đầu lên mặt nước, da cá xẫm lại, có vết mòn màu xám hoặc
các đốm đỏ phát triển ở đầu, thân, các vây và đuôi. Những vết loét dần dần
lan rộng thành những vết loét rộng, vẩy rụng, xuất huyết và viêm. Những
SVTH: Trần Thanh Sang
12
con cá bệnh nặng các vết loét lõm sâu tới xương. Giải phẩu các cơ quan nội
tạng hầu như không biến đổi.
Cách phòng trị :
+ Dùng vôi tạt xuống ao với liều lượng 2 kg/100 m 3 , 2 tuần 1 lần.
+ Hoặc dùng muối ăn với liều lượng 2 - 3% tắm cho cá 5 - 15 phút.
+ Hoặc dùng thuốc tím với liều lượng 10 g/m3 tắm cho cá trong thời gian
10 - 30 phút.
+ Dùng kháng sinh có chứa Oxytetracyline, trộn vào thức ăn cho cá ăn liên
tục 5 ngày.
MỘT SỐ MÔ HÌNH NUÔI CÁ RÔ ĐỒNG CÓ HIỆU QUẢ KINH TẾ:
Nuôi Ghép Thâm Canh
Chúng ta có thể dựa vào đặc tính sinh học của cá rô đồng để nuôi ghép
thêm một vài đối tượng nuôi khác để tăng thêm thu nhập, tận dụng triệt để
diện tích mặt nước, tận dụng chất thải của đối tượng khác để làm thức ăn
Vì vậy, tôi chia ra làm 2 giai đoạn nuôi:
Giai đoạn 1: Nuôi trên bể.
Ếch giống 30 ngày tuổi được nuôi trên bể và chăm sóc cẩn thận sau 2 tuần
mới đưa xuống ao nuôi. Giai đoạn ếch còn nhỏ đòi hỏi chăm sóc kỹ và theo
dõi và lựa khi ếch phân đàn nhiều. Do đó nuôi trên bể dễ dàng chăm sóc
hơn.
Giai đoạn 2: sau khi nuôi trên bể ếch được 2 tuần ( cỡ ngón chân cái ) rồi
bố trí đưa xuống ao. Lưu ý: ếch đưa xuống ao phải đồng cỡ hoặc lệch nhau
một tí.
D/ Xác định đối tượng nuôi ghép thâm canh:
Việc xác định đối tượng cá nào để nuôi ghép vừa có hiệu quả kinh tế mà
vừa cải thiện môi trường nuôi tốt là điều rất quan trọng.
Xét về cá có giá trị kinh tế cao gồm có: cá Lăng, Bống Tượng, Thác Lác, cá
Lóc, cá Rô Đồng, cá Sặc Rằn,… Nhưng trong đó cá Rô Đồng là loại cá có
sức chịu đựng môi trường và mật độ nuôi cao ( 20 – 100 con/m
2
), thời gian
nuôi ( 4 – 6 ) tháng đạt ( 10 – 12 con/kg ), giá cá thị trường giao động
( 25.000 đ/kg – 40.000 đ/kg ). Mật độ nuôi cá Sặc Rằn ( 9 -10 con/m
2
), giá
thị trường ( 25.000 đ/kg – 40.000 đ/kg ), cở cá thu hoạch ( 9 -10 con/kg ),
thời gian nuôi ( 9 – 12 tháng ).
Ngoài cá ra trong 1 số loại thuỷ sản nước ngọt Ếch cũng là 1 loài có giá trị
kinh tế đem lại lợi nhuận cao cho người nuôi.
SVTH: Trần Thanh Sang
14
Ếch thương phẩm có thời gian nuôi ngắn: 2,5 – 3 tháng đối với nuôi trên bể
xi măng, 2 – 2,5 tháng đối với nuôi trong giai dưới ao.
Bảng 1: So sánh nuôi Ếch trên bể xi măng và nuôi trong giai dưới ao
Cá Rô Đồng 20 – 60 con/m
2
Thu nhập chính 4 - 6
Cá Mùi 4 con/m
2
Thu nhập phụ 9 – 12
Rô Phi 2 con/m
2
Thu nhập phụ 7 - 9
Bảng 3: Mô hình nuôi ghép Ếch – Cá ( Sặc Rằn, Mùi, Rô Phi )
Đối Tượng nuôi
Mật độ nuôi
( Min – Max )
Mục đích lợi nhuận
Thời gian nuôi
( tháng )
Ếch 100 – 180 con/m
2
Thu nhập chính 2 – 2,5
Cá Sặc Rằn 10 con/m
2
Thu nhập chính 9 – 12
Cá Mùi 4 con/m
2
Thu nhập phụ 9 – 12
Rô Phi 2 con/m
2
Thu nhập phụ 7 - 9
Xét về 2 mô hình nuôi ở bảng 2 và bảng 3 thì mô hình nuôi bảng 2 có khả
thi hơn. Vì cá Rô Đồng thời gian nuôi ngắn hơn cá Sặc Rằn chỉ cần 2 vụ nuôi Ếch
Sản lượng ( kg ) 10.453 4.666 280 560
Giá tiền trên 1 kg 28000 - 35000 28.000 14.000 14.000
Thành tiền 292.684.000 130.648.000đ 3.920.000đ 7.840.000đ
FCR 1.3
Lượng cám tiêu thụ (
kg)
13589
Tiền cám (đ) 122.301.000
Tiền giống (đ) 62.720.000 14.000.000 500.000 1.000.000
Chi phí hoạt động
nuôi
50.000.000
Tiền thuê nhân công
(đ)
18.000.000
Thời gian nuôi
( tháng )
2 -2,5 4 - 5 6 6
Lợi nhuận (đ) 39.663.000 116.648.000 3.420.000 1.000.000
Tổng lợi nhuận (đ) 160.731.000
III. Kết luận
Nuôi ghép thâm canh là mô hình nuôi góp phần tăng năng xuất nuôi trong
diện tích ao và làm giảm giá thành sản phẩm. ngoài ra còn giảm thiểu dịch bệnh và
cải thiện chất lượng sản phẩm, làm giảm ô nhiễm môi trường xung quanh do hoạt
động nuôi gây nên. Mô hình trên góp phần giảm thiểu được rủi ro do việc nuôi
chuyên canh cá rô đồng với mật độ cao, đem lại lợi nhuận cao và hợp lý cho người
nuôi, tận dụng được triệt để diện tích sản xuất, tận dụng được triệt để nguồn thức
ăn, và chất thải của vật nuôi khác để nuôi cá, từ đó giữ cho môi trường nuôi ít biến
động nên giảm thiểu những bất lợi do sự biến động môi trường gây nên, đồng thời
áp dụng những kỹ thuật nuôi với cường độ cao nhất nên làm tỉ suất giữa lợi nhuận(